Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KIẾN XƯƠNG

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2025/HS-ST

Ngày 02 - 4 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nhi

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Như Trang.
  2. Ông Tạ Quang Hải.

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Phạm Thị Thu Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Luyên - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 29/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2025/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Đức T, sinh ngày 14 tháng 11 năm 2002.

Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức H và bà Vương Thị T1; vợ: Chưa có; con: Chưa có; tiền sự: Không; tiền án: Không.

Nhân thân: Tháng 02/2022 tham gia nghĩa vụ quân sự, đóng quân tại Tiểu đoàn H, Trung đoàn 141, Sư đoàn C, Quân khu A tỉnh Lạng Sơn, đến tháng 01/2024 xuất ngũ trở về địa phương. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Chị Bùi Thị Kiều T2, sinh năm 2000 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn X, xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng đầu tháng 12/2024, Nguyễn Đức T thấy trên mạng xã hội Facebook có nhiều người đăng bài hỏi cách mở khóa, lấy lại mật khẩu tài khoản Facebook, T3 nên nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người dùng Facebook, TikTok. T sử dụng điện thoại Iphone 7 Plus để lập tài khoản Facebook “Nguyễn Đức T” và tài khoản zalo “Nguyễn T” để đăng bài quảng cáo dịch vụ lấy lại mật khẩu và mở khóa tài khoản facebook, TikTok. Khi có người liên hệ muốn lấy lại tài khoản, T sẽ kết bạn zalo và nói dối sẽ sửa các lỗi, lấy lại tài khoản cho người có yêu cầu. Sau đó, T yêu cầu người có yêu cầu phải chuyển tiền đặt cọc hoặc thanh toán trước, khi họ đồng ý và chuyển tiền xong thì T chặn liên lạc và chiếm đoạt tiền của những người này.

Ngày 24/12/2024, chị Bùi Thị Kiều T2, sinh năm 2000, trú tại thôn X, xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình có nhu cầu lấy lại mật khẩu tài khoản Facebook, chị T2 lên mạng zalo tìm kiếm thì thấy bài đăng quảng cáo trên tài khoản zalo “Nguyễn T”, T2 sử dụng tài khoản zalo “Ngọc Á” kết bạn với tài khoản zalo “N” và hỏi nhờ T lấy lại mật khẩu tài khoản Facebook bị khóa, T đồng ý và báo giá lấy lại mật khẩu là 800.000 đồng thì chị T2 đồng ý. T yêu cầu chị T2 chuyển khoản đặt cọc trước số tiền 300.000 đồng cho T qua số tài khoản 12112002269999 ngân hàng TMCP Q, chủ tài khoản Nguyễn Đức T. Chị T2 đồng ý và đã chuyển khoản từ số tài khoản 1505062719 Ngân hàng T4, chủ tài khoản Bùi Thị Kiều T2 đến số tài khoản của T số tiền 300.000 đồng. Sau đó, T tiếp tục yêu cầu chị T2 chuyển khoản thêm 02 lần nữa để hoàn tất các thủ tục mở khóa tài khoản. Do tin tưởng T nên chị T2 đã đồng ý chuyển khoản thêm 02 lần với tổng số tiền 1.800.000 đồng từ số tài khoản của chị T2 đến số tài khoản của T. Đến sáng ngày 25/12/2024, chị T2 không đăng nhập được tài khoản Facebook của mình, nghi ngờ đã bị T lừa nên T2 nhắn tin, gọi điện yêu cầu T trả lại tiền thì Thủy kết bạn zalo và chặn liên lạc với chị T2. Tổng số tiền 2.100.000 đồng chiếm đoạt của chị T2, T đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết.

Vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra quản lý của bị can Nguyễn Đức T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, loại màn hình cảm ứng, vỏ màu đen, số IMEI 359176078846149, đã qua sử dụng.

Tại bản Cáo trạng số 34/CT-VKSKX ngày 28/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình đã truy tố Nguyễn Đức T về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt: Áp dụng Khoản 1 Điều 174; Điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38; Điều 65 Bộ luật hình sự. Đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T từ 06 (Sáu) tháng đến 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Đức T đã bồi thường cho người bị hại là chị Bùi Thị Kiều T2 số tiền 2.100.000 đồng. Đến nay, chị T2 không có yêu cầu, đề nghị về việc bồi thường trách nhiệm dân sự nên không đặt ra giải quyết.

Và đề xuất các vấn đề khác cần giải quyết trong vụ án.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đức T khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, không có tranh luận gì và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra- Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện K, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Tại phiên toà bị cáo Nguyễn Đức T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nhau và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ như:

  • Đơn trình báo, lời khai của người bị hại là chị Bùi Thị Kiều T2, sinh năm 2000, trú tại thôn X, xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình và tài liệu liên quan đến hình ảnh quá trình chị T2 liên hệ, chuyển tiền cho Nguyễn Đức T do chị T2 giao nộp;
  • Biên bản giao nhận tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K lập ngày 08/01/2025 về việc Nguyễn Đức T giao nộp tài liệu sao kê chi tiết giao dịch của tài khoản số 12112002269999 ngân hàng TMCQ, chủ tài khoản Nguyễn Đức T;
  • Biên bản kiểm tra dữ liệu điện thoại di động của Nguyễn Đức T do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K lập ngày 08/01/2025;

[3] Từ những căn cứ nêu trên có đủ cơ sở để kết luận: Do muốn có tiền chi tiêu cá nhân, Nguyễn Đức T sử dụng tài khoản zalo “Nguyễn T” đăng bài quảng cáo dịch vụ lấy lại mật khẩu và mở khóa tài khoản facebook, TikTok nhằm lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người có nhu cầu lấy lại tài khoản. Ngày 24/12/2024, chị Bùi Thị Kiều T2 đã liên hệ và chuyển khoản tổng số tiền 2.100.000 đồng cho Nguyễn Đức T để yêu cầu mở lại tài khoản facebook. Sau khi nhận được tiền, T không lấy lại mật khẩu cho chị T2 mà chặn liên lạc, chiếm đoạt số tiền 2.100.000 đồng và chi tiêu cá nhân hết. Hành vi của Nguyễn Đức T đã phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

[4] Đánh giá tính chất, mức độ, vai trò và hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm pháp luật hình sự, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ.Tài sản của mỗi công dân, tổ chức luôn được pháp luật bảo vệ, mọi người trong xã hội đều phải có nghĩa vụ tôn trọng và thực hiện, trong đó có bị cáo nhưng vì muốn có tiền tiêu xài nhưng không bằng sức lao động của mình nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi và hoàn toàn nhận biết được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và xâm hại đến tài sản của của người khác nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy Hội đồng xét xử cần phải áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi bị cáo đã gây ra. Có như vậy mới thể hiện được tính nghiêm minh của pháp luật nước ta và có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình, xã hội và phòng ngừa tội phạm nói chung.

Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử ngoài việc căn cứ vào các tình tiết nêu trên thì cần phải căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo để áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo sao cho thấu tình, đạt lý.

[5] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thì thấy:

Bị cáo Nguyễn Đức T không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải về hành vi của mình, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, sau khi phạm tội bị cáo đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và bị cáo có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự. Do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Từ những phân tích, đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, ngoài hành vi phạm tội lần này không có hành vi phạm tội nào khác. Xét thấy, bị cáo có khả năng cải tạo ngoài xã hội dưới sự quản lý, giám sát của cơ quan có thẩm quyền và việc để bị cáo cải tạo ngoài xã hội cũng không ảnh hưởng xấu đến công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm. Vì vậy Hội đồng xét xử cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, cần áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo, để bị cáo tự cải tạo ngoài xã hội, tạo điều kiện để bị cáo cải tạo và sửa chữa sai lầm, trở thành người công dân có ích cho xã hội là phù hợp với quy định của pháp luật và phù hợp với chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước ta hiện nay.

[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo lần đầu phạm tội, bị cáo mới xuất ngũ về địa phương chưa có việc làm nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với quy định của pháp luật.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị ccáo Nguyễn Đức T đã bồi thường cho người bị hại là chị Bùi Thị Kiều T2 số tiền 2.100.000 đồng. Đến nay, chị T2 không có yêu cầu, đề nghị về việc bồi thường trách nhiệm dân sự nên không đặt ra giải quyết.

[8] Vật chứng của vụ án: Xác định 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, loại màn hình cảm ứng, vỏ màu đen, số IMEI 359176078846149, đã qua sử dụng quản lý của bị cáo T là công cụ, phương tiện bị cáo chuẩn bị để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

[9] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đức T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Áp dụng Khoản 1 Điều 174; Điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38; Điều 65 Bộ luật hình sự; Điều 106; Điều 135; 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Đức T cho Ủy ban nhân dân xã Đ, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo

3. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết.

4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đức T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về vật chứng: Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, loại màn hình cảm ứng, vỏ màu đen, số IMEI 359176078846149, đã qua sử dụng.

(Các vật chứng trên đã được Cơ quan điều tra Công an huyện K thu giữ, chuyển giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiến Xương quản lý theo biên bản giao nhận đã ký kết).

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Đức T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, chị Bùi Thị Kiều T2 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Kiến Xương;
  • - VKDND tỉnh Thái Bình;
  • - Công an tỉnh Thái Bình;
  • - Bị cáo; bị hại;
  • - Chi cục THADS huyện Kiến Xương;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Nhi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 36/2025/HS-ST ngày 02/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 36/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đức Trung
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger