|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM Bản án số: 36/2025/HS-PT Ngày 29 - 5 - 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ——————————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Phạm Hùng Long.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thanh Hải và bà Vũ Thị Thanh Tâm.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Xuân Lập - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa: Ông Phạm Quang Huy - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 37/2025/TLPT-HS ngày 15 tháng 4 năm 2025, đối với các bị cáo Phạm Thị Hà T và đồng phạm. Do có kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 24/2025/HS-ST ngày 14 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam.
- Các bị cáo bị kháng nghị:
Phạm Thị Hà T, sinh năm 1992 tại tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: Căn hộ S, Chung cư A C, phường Q, quận H, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn C và bà Phạm Thị T1; có chồng là Dương Khắc L (đã ly hôn) và có 02 con, con lớn sinh năm 2018, con nhỏ sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/02/2025 đến ngày 17/02/2025 được tại ngoại, hiện nay đang thi hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
Lê Mạnh T2, sinh năm 1990 tại tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: Căn hộ chung cư S Nhà A, phường T, quận T, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Nguyên Giám đốc Công ty TNHH K; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Mạnh Q và bà Đào Thị Minh T3; có vợ là Tăng Thị Ngọc T4 và có 01 con sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/02/2025 đến ngày 17/02/2025 được tại ngoại, hiện nay đang thi hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Phạm Thị Hà T: Ông Nguyễn Văn C1, Luật sư thuộc Công ty L1 - Đoàn Luật sư tỉnh H; có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Lê Mạnh T2: Ông Lê Văn T5 và ông Bùi Văn T6, Luật sư Công ty L2 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H; địa chỉ: P Tập thể Ban Cơ Yếu C, ngõ A N, phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội; đều có mặt.
Bùi Hải Y, sinh năm 1984 tại tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Số nhà B, đường A, phường V, thành phố N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu ứng dụng và Kiểm tra chất lượng sản phẩm HI-TECH thuộc Công ty TNHH K; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Huy Ô và bà Nguyễn Thị M; có chồng là Nguyễn Ngọc T7 và có 02 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/02/2025 đến ngày 17/02/2025 được tại ngoại, hiện nay đang thi hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
Phạm Văn T8, sinh năm 1993 tại tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Số nhà A, đường G, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Quản lý kỹ thuật Trung tâm Nghiên cứu ứng dụng và Kiểm tra chất lượng sản phẩm HI-TECH thuộc Công ty TNHH K; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn M1 và bà Đinh Thị H; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/02/2025 đến ngày 17/02/2025 được tại ngoại, hiện nay đang thi hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bị kháng nghị:
Chị Vũ Thị T9, sinh năm 1991; nơi cư trú: Tiểu khu L, thị trấn K, huyện T, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
Chị Phạm Thị Hạnh N, sinh năm 1994; nơi cư trú: Số I, đường M, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định; có mặt.
Chị Trần Thị Bích P, sinh năm 1995; nơi cư trú: Số nhà B, đường T, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định; có mặt.
Chị Lê Thị D, sinh năm 1995; nơi cư trú: Số G T, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định; có mặt.
Công ty cổ phần D1; địa chỉ trụ sở: Tiểu khu L, thị trấn L, huyện L, tỉnh Hòa Bình; người đại diện theo pháp luật: bà Trần Thị Thúy H1 - Chức vụ: Giám đốc; có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 29/9/2023, Công an huyện T, tỉnh Hà Nam phối hợp với Đội Quản lý thị trường số A1 - Cục Quản lý thị trường tỉnh H tiến hành kiểm tra kho hàng của chị Vũ Thị T9 tại tiểu khu L, thị trấn K, huyện T, tỉnh Hà Nam phát hiện một số sản phẩm không có hóa đơn, chứng từ; nên tổ công tác đã lập Biên bản vụ việc và tạm giữ đồ vật, tài sản, giấy tờ có liên quan gồm:
- 08 hộp sản phẩm “Thực phẩm bảo vệ sức khỏe Đông trùng hạ thảo sụn cá mập Canxi Nano MK7” do Chi nhánh H3 - Công ty Cổ phần D1 (viết tắt là Chi nhánh H3 - Công ty D1) sản xuất, có số lô 0030623, ngày sản xuất 15/6/2023, hạn sử dụng 15/6/2026.
- 01 Hóa đơn GTGT điện tử ký hiệu 1C23THB, số 173 ngày 29/9/2023 của Công ty TNHH D2, địa chỉ: Số G, ngõ I Đ, phường T, quận N, thành phố Hà Nội (viết tắt là Công ty D2).
Ngày 25/12/2023, Cơ quan CSĐT - Công an huyện T tiến hành trích mẫu để kiểm kê đối với 05 hộp sản phẩm “Thực phẩm bảo vệ sức khỏe Đông trùng hạ thảo sụn cá mập Canxi Nano MK7”, có số lô: 0030623, ngày sản xuất: 15/6/2023, hạn sử dụng: 15/6/2026, sau đó niêm phong lại ký hiệu MV14.
Ngày 16/5/2024, Cơ quan CSĐT - Công an huyện T ban hành Quyết định trưng cầu giám định, T10 - Bộ C3 giám định sản phẩm “Thực phẩm bảo vệ sức khỏe Đông trùng hạ thảo sụn cá mập Canxi Nano MK7”, có số lô 0030623, ngày sản xuất: 15/6/2023, hạn sử dụng: 15/6/2026. Tại bản Kết luận giám định số 3657/KL-KTHS ngày 03/6/2024 của V - Bộ C3 kết luận: “Sản phẩm Thực phẩm bảo vệ sức khỏe Đông trùng hạ thảo sụn cá mập Canxi Nano MK7, có số lô: 0030623, ngày sản xuất: 15/6/2023, hạn sử dụng: 15/6/2026 gửi giám định là hàng giả”.
Ngày 16/8/2024, Cơ quan CSĐT- Công an huyện T ra văn bản yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện T định giá đối với 08 hộp sản phẩm “Thực phẩm bảo vệ sức khỏe Đông trùng hạ thảo sụn cá mập Canxi Nano MK7”, có số lô: 0030623, ngày sản xuất: 15/6/2023, hạn sử dụng 15/6/2026 do Chi nhánh H3 - Công ty D1 sản xuất tại thời điểm ngày 29/9/2023. Tại bản Kết luận định giá tài sản số 18/KL-HĐĐGTS ngày 22/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện T kết luận: “Giá trị của 08 (tám) hộp sản phẩm “Thực phẩm bảo vệ sức khỏe Đông trùng hạ thảo sụn cá mập Canxi Nano MK7” có số lô: 0030623, ngày sản xuất: 15/6/2023, hạn sử dụng: 15/6/2026 do Chi nhánh H3 - Công ty D1 sản xuất tại thời điểm ngày 29/9/2023 là 530.400 đồng”.
Quá trình làm việc với Chi nhánh H3 - Công ty D1, Cơ quan điều tra đã tạm giữ 01 bản phô tô Phiếu kết quả kiểm nghiệm số: HT23-T06/002 ngày 25/6/2023 của Trung tâm Nghiên cứu ứng dụng và Kiểm tra chất lượng sản phẩm HI-TECH (viết tắt là Trung tâm H4) thuộc Công ty TNHH K-TECH (viết tắt là Công ty K), mã số thuế: 0601122002, địa chỉ: Tầng C, Lô H, đường D, Khu công nghiệp H, phường M, thành phố N, tỉnh Nam Định đối với sản phẩm “Thực phẩm bảo vệ sức khỏe Đông trùng hạ thảo sụn cá mập Canxi Nano MK7”, có số lô: 0030623, ngày sản xuất: 15/6/2023, hạn sử dụng: 15/6/2026, do Chi nhánh H3 - Công ty D1 sản xuất.
Quá trình điều tra xác định: do có nhu cầu kinh doanh, nên chị Vũ Thị T9 đã liên hệ đặt mua 120 hộp sản phẩm “Thực phẩm bảo vệ sức khỏe Đông trùng hạ thảo sụn cá mập Canxi Nano MK7”, có số lô: 0030623, ngày sản xuất: 15/6/2023, hạn sử dụng: 15/6/2026 do Chi nhánh H3 - Công ty D1 sản xuất thông qua Công ty TNHH D2, MST: 0109608477, địa chỉ: Số G, ngõ I Đ, phường T, quận N, Thành phố Hà Nội. Từ khoảng tháng 6 năm 2023 đến tháng 7 năm 2023, Chi nhánh H3 - Công ty D1 tiến hành sản xuất xong 500 hộp sản phẩm “Thực phẩm bảo vệ sức khỏe Đông trùng hạ thảo sụn cá mập Canxi Nano MK7”, có số lô: 0030623, ngày sản xuất: 15/6/2023, hạn sử dụng: 15/6/2026. Ngày 26/9/2023, chị Thu N1 được số sản phẩm trên và tiến hành bán các sản phẩm trên mạng xã hội Facebook. Ngày 29/9/2023, Công ty D2 chuyển cho chị T9 01 Hóa đơn GTGT điện tử ký hiệu 1C23THB, số 173 ngày 29/9/2023.
Công ty K được thành lập theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp số 0601122002 ngày 14/11/2016, được thay đổi lần thứ 2 ngày 13/10/2023 do Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh N cấp với ngành nghề kinh doanh là: hoạt động kiểm nghiệm; Giám đốc, người đại diện theo pháp luật của Công ty là Lê Mạnh T2. Trung tâm HI-TECH là 01 bộ phận thuộc Công ty K-TECH có cơ cấu gồm: Bùi Hải Y là Giám đốc, Phạm Văn T8 là Quản lý kỹ thuật, Lê Thị D là Kiểm nghiệm viên các chỉ tiêu vi sinh, Phạm Thị Hạnh N là nhân viên văn phòng Trung tâm H4 (kiêm thành viên góp vốn của Công ty K-TECH, Trần Thị Bích P là Kiểm nghiệm viên các chỉ tiêu hóa học.
Ngày 25/10/2021, Phạm Thị Hà T sử dụng tài khoản Zalo “Phạm Hà T” đăng ký bằng số điện thoại 0986.823.xxx tham gia nhóm chat Zalo tên “Lưu kn”, trong nhóm có tài khoản Zalo của 01 người phụ nữ tên N2. Vào hồi 10 giờ 41 phút ngày 22/12/2023, N2 nhắn tin trên nhóm chat Zalo này nói có nhu cầu muốn làm thủ tục kiểm nghiệm mẫu sản phẩm “Thực phẩm bảo vệ sức khỏe Đông trùng hạ thảo sụn cá mập Canxi Nano MK7”, số lô: 0030623, ngày sản xuất: 15/6/2023, hạn sử dụng: 15/6/2026 do Chi nhánh H3 - Công ty D1 sản xuất và đẩy lùi ngày kiểm nghiệm cho khớp thời gian trên phiếu yêu cầu. T đồng ý thì N2 gửi Phiếu yêu cầu thử nghiệm gồm thông tin sản phẩm, thông số các chỉ tiêu kiểm nghiệm cho T. Tiếp đó, N2 gọi điện thoại cho T trao đổi muốn làm Phiếu kết quả kiểm nghiệm theo Phiếu yêu cầu thử nghiệm với ngày gửi mẫu là 18/6/2023, T đồng ý. Khoảng 11 giờ cùng ngày, T sử dụng tài khoản Zalo “Phạm Hà T” gửi Phiếu yêu cầu thử nghiệm sản phẩm đến tài khoản Zalo “Tuấn Lê” đăng ký bằng số điện thoại 0977.552.xxx của Lê Mạnh T2 với nội dung muốn làm Phiếu kết quả kiểm nghiệm đối với sản phẩm “Thực phẩm bảo vệ sức khỏe Đông trùng hạ thảo sụn cá mập Canxi Nano MK7”, số lô: 0030623, ngày sản xuất: 15/6/2023, hạn sử dụng: 15/6/2026 do Chi nhánh H3 - Công ty D1 sản xuất với ngày gửi mẫu là ngày 18/6/2023. Do T là khách hàng thường xuyên của Công ty K-TECH và muốn giữ mối quan hệ khách hàng, nên T2 đồng ý. T2 gửi Phiếu yêu cầu thử nghiệm đối với sản phẩm trên qua ứng dụng Zalo cho Bùi Hải Y và chỉ đạo Y thực hiện việc làm khống hồ sơ kiểm nghiệm, Y đồng ý. Tiếp theo, T2 soạn thảo Phiếu tiếp nhận yêu cầu thử nghiệm và chỉ đạo chị Phạm Thị Hạnh N ký xác nhận vào vị trí “Người nhận mẫu”, đồng thời ghi tại vị trí “Đại diện khách hàng” là “Mẫu nhận qua đường bưu điện”. Sau đó, T2 chuyển P1 yêu cầu thử nghiệm cho Phạm Văn T8 và chỉ đạo T8 hoàn thiện khống hồ sơ kiểm nghiệm. T8 đồng ý và gửi Phiếu
yêu cầu thử nghiệm sản phẩm cho chị Lê Thị D, rồi đọc cho chị D điền các thông tin, kết quả của sản phẩm trên để chị D điền vào hồ sơ kiểm nghiệm. Do nghĩ T8 yêu cầu hoàn thiện hồ sơ kiểm nghiệm của một sản phẩm đã được kiểm nghiệm trước đó, nên chị D căn cứ vào các kết quả do Thủy cung C2 và tính ra các chỉ số sản phẩm, rồi điền vào hồ sơ kiểm nghiệm kết quả kiểm nghiệm vi sinh. Theo đó, chị D sử dụng con dấu chữ ký của mình đóng xác nhận vào vị trí “Kiểm nghiệm viên”. Chị D đưa lại hồ sơ kiểm nghiệm cho T8, thì T8 chuyển cho chị Trần Thị Bích P và nói với chị P: “Hoàn thiện cho anh hồ sơ này”. Do nghĩ T8 yêu cầu hoàn thiện hồ sơ kiểm nghiệm đối với sản phẩm đã được kiểm nghiệm trước đó, nên chị P ký xác nhận vị trí “Kiểm nghiệm viên” đối với các chỉ tiêu hóa học. Tiếp theo, T8 sử dụng dấu chữ ký của Lê Mạnh T2 đóng xác nhận vào phần “Kiểm nghiệm viên” của hồ sơ kiểm nghiệm đối với các chỉ tiêu hóa học còn lại. Khi hồ sơ đã hoàn thiện, thì T8 sử dụng dấu chữ ký của mình đóng xác nhận vào vị trí “Quản lý kỹ thuật”. Căn cứ vào các kết quả kiểm nghiệm đã hoàn thiện trước đó, T8 tự soạn thảo Phiếu kết quả kiểm nghiệm mã số HT23-T06/002 ngày 25/6/2023 của Trung tâm H4 và sử dụng dấu chữ ký của T8 đóng vào mục “Phòng kiểm tra chất lượng”, rồi trình Y, thì Y sử dụng dấu chữ ký đóng vào vị trí “Giám đốc trung tâm” và chuyển cho chị N để chị N đóng dấu tròn “Trung tâm Nghiên cứu ứng dụng và Kiểm tra chất lượng sản phẩm H2-Tech” và dấu chức danh “Giám đốc - Bùi Hải Y”. Tiếp theo, chị N scan và chuyển lại cho T2 kèm 02 bản gốc Phiếu kết quả kiểm nghiệm. Hồi 15 giờ 52 phút cùng ngày 22/12/2023, T2 gửi bản scan Phiếu kết quả kiểm nghiệm mã số HT23-T06/002 ngày 25/6/2023 của Trung tâm HI-TECH đối với sản phẩm “Thực phẩm bảo vệ sức khỏe Đông trùng hạ thảo sụn cá mập Canxi Nano MK7”, số lô: 0030623, ngày sản xuất: 15/6/2023, hạn sử dụng: 15/6/2026 do Chi nhánh H3 - Công ty D1 sản xuất đến tài khoản Zalo “Phạm Hà T” của T, thì T chuyển tiếp đến tài khoản Zalo của N2. Đến buổi sáng ngày 23/12/2023, T2 gặp và đưa cho T 02 bản Phiếu kết quả kiểm nghiệm trên, thì T đưa trực tiếp lại cho N2. Đến tháng 01 năm 2024, T thanh toán cho T2 chi phí làm khống hồ sơ kiểm nghiệm là 1.100.000 đồng.
- Quá trình điều tra, Lê Mạnh T2 tự nguyện giao nộp số tiền 1.100.000 đồng thu lợi bất chính từ việc làm khống hồ sơ kiểm nghiệm; Bùi Hải Y tự nguyện giao nộp 01 (một) bộ hồ sơ kiểm nghiệm đối với sản phẩm “Thực phẩm bảo vệ sức khỏe Đông trùng hạ thảo sụn cá mập Canxi Nano MK7” của Trung tâm Nghiên cứu ứng dụng và Kiểm tra chất lượng sản phẩm HI-TECH.
Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi làm việc của Lê Mạnh T2 tại Trung tâm H4, Cơ quan điều tra đã tạm giữ: 01 con dấu tròn đỏ, dạng dấu dập, trên con dấu có khắc các chữ và số chìm có nội dung “CÔNG TY TNHH KIỂM TRA CHẤT LƯỢNG HI-TECH - TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG VÀ KIỂM TRA CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM HI-TECH”; 03 con dấu dạng con dấu dập màu xanh, trên bề mặt có một chữ ký dập nổi; 01 con dấu, dạng dấu dập, trên bề mặt con dấu có dòng chữ “GIÁM ĐỐC BÙI HẢI YẾN” được dập nổi. 05 con dấu trên được niêm phong ký hiệu A1.
Ngày 21/01/2025, Cơ quan CSĐT - Công an huyện T ban hành Quyết định trưng cầu giám định, trưng cầu Phòng K1 - Công an tỉnh H giám định mẫu chữ ký
trên hồ sơ kiểm nghiệm đối với sản phẩm “Thực phẩm bảo vệ sức khỏe Đông trùng hạ thảo sụn cá mập Canxi Nano MK7”, có số lô: 0030623, ngày sản xuất: 15/6/2023, hạn sử dụng: 15/6/2026. Tại bản Kết luận giám định số 98/KL-KTHS ngày 11/02/2025 của Phòng K1 - Công an tỉnh H kết luận:
“1. Chữ viết phần nội dung trên mẫu cần giám định ký hiệu A1 đến A15 so với chữ viết của Lê Thị D trên mẫu so sánh ký hiệu M10 đến M13 do cùng một người viết ra.
2. Người có mẫu chữ ký đứng tên Phạm Văn T8 trên mẫu so sánh ký hiệu từ M6 đến M9 không ký ra chữ ký dưới mục “Quản lý kỹ thuật (TM)” trên mẫu cần giám định ký hiệu A1 đến A15. Chữ ký dưới mục “Quản lý kỹ thuật (TM)” trên mẫu cần giám định hiệu A1 đến A15 là hình dấu chữ ký.
3. Người có mẫu chữ ký đứng tên Trần Thị Bích P trên mẫu so sánh ký hiệu M14, M15 và M16 không ký ra chữ ký dưới mục “Kiểm nghiệm viên” trên mẫu cần giám định ký hiệu A1, A2, A4, A5 và A6. Chữ ký dưới mục “Kiểm nghiệm viên” trên mẫu cần giám định ký hiệu A1, A2, A4, A5 và A6 là hình dấu chữ ký.
4. Chữ ký dưới mục “Kiểm nghiệm viên” trên mẫu cần giám định ký hiệu A3 so với chữ ký của Trần Thị Bích P trên mẫu so sánh ký hiệu M14, M15 và M16 do cùng một người ký ra.
5. Người có mẫu chữ ký đứng tên Lê Mạnh T2 trên mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M5 không ký ra chữ ký dưới mục “Kiểm nghiệm viên” trên mẫu cần giám định ký hiệu từ A7 đến A10. Chữ ký dưới mục “Kiểm nghiệm viên” trên mẫu cần giám định ký hiệu từ A7 đến A10 là hình dấu chữ ký.
6. Người có mẫu chữ ký đứng tên Lê Thị D trên mẫu so sánh ký hiệu từ M10 đến M13 không ký ra chữ ký dưới mục “Kiểm nghiệm viên” trên mẫu cần giám định ký hiệu từ A11 đến A15. Chữ ký dưới mục “Kiểm nghiệm viên” trên mẫu cần giám định ký hiệu từ A11 đến A15 là hình dấu chữ ký”.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 24/2025/HS-ST ngày 14 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam quyết định:
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 359, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 (đối với tất cả các bị cáo), khoản 5 Điều 359, Điều 35, Điều 41 (đối với Lê Mạnh T2, Bùi Hải Y, Phạm Văn T8), các điểm b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố các bị cáo Phạm Thị Hà T, Lê Mạnh T2, Bùi Hải Y và Phạm Văn T8 phạm tội “Giả mạo trong công tác”. Xử phạt các bị cáo Phạm Thị Hà T, Lê Mạnh T2, Bùi Hải Y, Phạm Văn T8, mỗi bị cáo 03 (ba) năm tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách mỗi bị cáo là 05 (năm) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (14/3/2025).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, án phí hình sự và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 27 tháng 3 năm 2025, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam ban hành kháng nghị số 02/QĐ-VKS,với nội dung: Đề nghị Tòa án nhân dân
tỉnh Hà Nam xét xử phúc thẩm vụ án theo hướng hủy toàn bộ bản án hình sự sơ thẩm số 24/2025/HS-ST ngày 14/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam để điều tra lại về hành vi có dấu hiệu của tội “Sản xuất, buôn bán hàng giả là thực phẩm” theo quy định tại Điều 193 của Bộ luật Hình sự; làm rõ hành vi sai phạm và dấu hiệu đồng phạm của các đối tượng liên quan để giải quyết vụ án được triệt để, đúng quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam giữ nguyên nội dung kháng nghị, không thay đổi bổ sung và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355; điểm a, b khoản 1 Điều 358 của Bộ luật Tố tụng hình sự; chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam. Hủy toàn bộ Bản án hình sự sơ thẩm số 24/2025/HS-ST ngày 14/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam để điều tra lại.
Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo Phạm Thị Hà T: Đề nghị huỷ bản án sơ thẩm để điều tra lại.
Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo Lê Mạnh T2: Nhất trí với tội danh và mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo Lê Mạnh T2; đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng nghị và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bị cáo Phạm Thị Hà T nhất trí với quan điểm của người bào chữa, không bổ sung gì; đề nghị Hội đồng xét xử huỷ bản án sơ thẩm để điều tra lại.
Bị cáo Lê Mạnh T2 nhất trí với quan điểm của người bào chữa, không bổ sung gì; đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Các bị cáo Bùi Hải Y và Phạm Văn T8 đều thừa nhận hành vi phạm tội của bản thân như bản án sơ thẩm đã nêu và đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên toà đều đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Quan điểm tranh luận của Viện kiểm sát: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và chính lời khai của các bị cáo tại phiên tòa cho thấy có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm và người phạm tội nhưng cấp phúc thẩm không thể bổ sung được nên Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về nội dung và thời hạn kháng nghị của người kháng nghị trong thời hạn luật định; nội dung được thể hiện đầy đủ theo đúng quy định tại các Điều 336 và Điều 337 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên được cấp phúc thẩm xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật. Đối với những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị, Toà án đã triệu tập hợp lệ; tuy nhiên vẫn vắng mặt và tại phiên toà các bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đều đề nghị tiếp tục xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Phạm Thị Hà T, Lê Mạnh T2, Bùi Hải Y, Phạm Văn T8 đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm phạm tội của mình và thừa nhận: Lê Mạnh T2 là Giám đốc Công ty K, Bùi Hải Y là Giám đốc Trung tâm H4 trực thuộc Công ty K-TECH, Phạm Văn T8 là Quản lý kỹ thuật, đại điện Phòng Kiểm tra chất lượng Trung tâm HI-TECH, đều là người có trách nhiệm lập hoặc cấp các giấy tờ, tài liệu liên quan đến kiểm nghiệm. Ngày 22/12/2023, Phạm Thị Hà T cung cấp cho Lê Mạnh T2 01 Phiếu yêu cầu thử nghiệm và thông tin chỉ tiêu chất lượng của sản phẩm “Thực phẩm bảo vệ sức khỏe Đông trùng hạ thảo sụn cá mập Canxi Nano MK7”, số lô: 0030623, ngày sản xuất: 15/6/2023, hạn sử dụng: 15/06/2026 do Chi nhánh H3 - Công ty D1 sản xuất, để T2 cấp Phiếu kết quả kiểm nghiệm. Do vụ lợi (nể T), nên T2 đã chỉ đạo Y và T8 lập, làm giả Phiếu kết quả kiểm nghiệm mã số HT23-T06/002 ngày 25/6/2023 của Trung tâm HI-TECH đối với sản phẩm này.
Hành vi nêu trên của các bị cáo Phạm Thị Hà T, Lê Mạnh T2, Bùi Hải Y, Phạm Văn T8 đủ yếu tố cấu thành tội “Giả mạo trong công tác”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 359 của Bộ luật Hình sự.
[3] Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam, Hội đồng xét xử thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên bố các bị cáo Phạm Thị Hà T, Lê Mạnh T2, Bùi Hải Y, Phạm Văn T8 phạm tội “Giả mạo trong công tác” là chính xác. Tuy nhiên, căn cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì thấy:
Trần Thị Thúy H1 và Kiều Kim A (phụ trách sản xuất) khai chỉ đưa sản phẩm “Thực phẩm bảo vệ sức khỏe Đông trùng hạ thảo sụn cá mập Canxi Nano MK7" bán ra thị trường khi đã có kết quả kiểm nghiệm của Công ty K-TECH. Tuy nhiên, sản phẩm này đã được bán cho Vũ Thị T9 vào ngày 26/9/2023. Trong khi đến ngày 22/12/2023 mới có Phiếu kết quả kiểm nghiệm của Công ty K và chuyển cho Công ty D1 (không có kết quả kiểm nghiệm thành phần sụn cá mập). Mâu thuẫn này chưa được làm rõ ở cấp sơ thẩm dẫn đến Bản án chưa đánh giá về hành vi “Sản xuất, buôn bán hàng giả là thực phẩm” của Trần Thị Thúy H1 và các đối tượng liên quan của Công ty D1 liên quan đến 08 hộp sản phẩm “Thực phẩm bảo vệ sức khỏe Đông trùng hạ thảo sụn cá mập Canxi Nano MK7" do Chi nhánh H3 - Công ty Cổ phần D1 sản xuất, có số lô 0030623, ngày sản xuất 15/6/2023, hạn sử dụng 15/6/2026 theo kết luận giám định số 3657/KL-KTHS kết luận là hàng giả, có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm và người phạm tội.
- Việc bản án nhận định Phạm Thị Hạnh N, Lê Thị D, Trần Thị Bích P đều làm theo yêu cầu của Phạm Văn T8 nhưng không biết mục đích của T8 để làm giả Phiếu kết quả kiểm nghiệm nên không có căn cứ để xem xét xử lý đối với những người nêu trên là không chính xác, có dấu hiệu bỏ lọt người phạm tội vì:
+ Ngày 22/12/2023 khi Phạm Thị Hà T nhận được yêu cầu làm Phiếu kết quả kiểm nghiệm mã số HT23-T06/002 ngày 25/6/2023 của Trung tâm HI - TECH đối với sản phẩm “Thực phẩm bảo vệ sức khỏe Đông trùng hạ thảo sụn cá mập Canxi Nano MK7” số lô: 0030623, ngày sản xuất: 15/6/2023, hạn sử dụng: 15/6/2026 do Chi nhánh H3 - Công ty D1 sản xuất của N2 với yêu cầu đẩy lùi ngày gửi mẫu là 18/6/2023 và đẩy lùi ngày kiểm nghiệm cho khớp với thời gian trên phiếu yêu cầu. Theo Phiếu tiếp nhận yêu cầu thử nghiệm thì ngoài các nội dung yêu cầu thử nghiệm, tên mẫu, số lô, ngày sản xuất... thì còn phải gửi theo mẫu để kiểm nghiệm (tại Phiếu tiếp nhận yêu cầu thử nghiệm đã nêu: “Tình trạng mẫu khi nhận: Mẫu dạng viên nang cứng, đựng trong lọ, dán nhãn đầy đủ rõ ràng”) trong khi bản thân Phạm Thị Hạnh N là người có nhiệm vụ nhận mẫu kiểm nghiệm, tuy nhiên Phạm Thị Hạnh N không trực tiếp nhận mẫu trên nhưng vẫn ký vào phần người nhận mẫu là vi phạm quy trình nhận mẫu kiểm nghiệm của Công ty K-TECH. Đồng thời, cùng ngày 22/12/2023 sau khi Bùi Hải Y đóng dấu chữ ký vào Phiếu kiểm nghiệm, thì Hạnh N chính là người đóng dấu tròn “Trung tâm nghiên cứu ứng dụng và kiểm tra chất lượng sản phẩm H2 - Tech” và dấu chức danh “Giám đốc - Bùi Hải Y”. Tiếp theo, Hạnh Nguyên S và chuyển lại cho T2 kèm 02 bản gốc Phiếu kết quả kiểm nghiệm.
+ Đối với Lê Thị D là Kiểm nghiệm viên các chỉ tiêu vi sinh, Trần Thị Bích P là Kiểm nghiệm viên các chỉ tiêu hóa học: Theo quy trình kiểm nghiệm, để có kết quả kiểm nghiệm thì D và P phải trích mẫu rồi mới tiến hành kiểm nghiệm. Nhưng thực tế không có mẫu, bản thân D và P cũng không tiến hành kiểm nghiệm thực tế nhưng khi được T8 đọc, D đã viết các thông tin, kết quả vào hồ sơ kiểm nghiệm, rồi tính các chỉ số sản phẩm và viết vào 15 phiếu Kiểm nghiệm các chỉ tiêu vi sinh, hóa học trong hồ sơ kiểm nghiệm và đóng dấu chữ ký của mình vào vị trí “Kiểm nghiệm viên” của 05 phiếu kiểm nghiệm vi sinh; Đối với P, khi T8 đưa hồ sơ kiểm nghiệm, mặc dù không tiến hành kiểm nghiệm nhưng P đã ký xác nhận vào vị trí “Kiểm nghiệm viên” đối với các chỉ tiêu hóa học của 01 phiếu và đóng dấu chữ ký của mình vào 05 phiếu kiểm nghiệm chỉ tiêu hóa học khác.
Hành vi nêu trên của Phạm Thị Hạnh N, Lê Thị D, Trần Thị Bích P có dấu hiệu đồng phạm với vai trò giúp sức để T8 căn cứ vào các kết quả kiểm nghiệm đã hoàn thiện, soạn thảo Phiếu kết quả kiểm nghiệm mã số HT23-T06/002 ngày 25/6/2023 của Trung tâm HI-TECH đối với sản phẩm trên.
- Chưa điều tra làm rõ về hành vi bàn bạc, thống nhất làm giả giấy chứng nhận kiểm nghiệm và thoả thuận trục lợi của nhóm bị can tại Công ty K.
Xét thấy việc điều tra ở cấp sơ thẩm là không đầy đủ, có dấu hiệu bỏ lọt hành vi “Sản xuất, buôn bán hàng giả là thực phẩm” theo quy định tại Điều 193 Bộ luật Hình sự và người phạm tội và việc điều tra ở cấp sơ thẩm không đầy đủ mà cấp phúc thẩm không thể bổ sung được. Do vậy, kháng nghị số 02/QĐ-VKS ngày 27 tháng 3 năm 2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam là có căn cứ, phù hợp với điểm a, b khoản 1 Điều 358 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo Phạm Thị Hà T, Lê Mạnh T2, Bùi Hải Y, Phạm Văn T8 đều không phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355 và điểm a, b khoản 1 Điều 358 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam.
Hủy toàn bộ Bản án hình sự sơ thẩm số 24/2025/HS-ST ngày 14 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam.
Chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam để điều tra lại theo thủ tục chung.
Án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo Phạm Thị Hà T, Lê Mạnh T2, Bùi Hải Y, Phạm Văn T8 đều không phải chịu.
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Phạm Hùng Long |
Bản án số 36/2025/HS-PT ngày 29/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM về hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 36/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị Hà Trang và đồng phạm - Giả mạo trong công tác
