Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2025/HS-PT

Ngày 27/6/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có;

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Trung Thực.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Trung Kiên và ông Hoàng Tuấn Trọng.

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu - Thư ký TAND tỉnh Hưng Yên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà Phùng Thị Lan - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 29/2025/TLPT - HS ngày 14 tháng 4 năm 2025, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án sơ thẩm số 24/2025/HS-ST ngày 07 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên.

Các bị cáo có kháng cáo:

  1. Phạm Chí T, sinh năm: 1983; HKTT: số D, đường H, phường H, thành phố H, tỉnh Hưng Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Phạm Quang T1 (đã chết) và bà Vũ Thị L; Có vợ là Nguyễn Thị Minh H, sinh năm: 1984 và có 02 con (lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2014); Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 04/10/2020 bị Công an thành phố H xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/8/2024 đến ngày 21/11/2024 được thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp bảo lĩnh (có mặt)
  2. Nguyễn Tấn H1, sinh năm: 1989; HKTT: N, phường H, thành phố H, tỉnh Hưng Yên; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Phạm Kim T2 (đã chết) và bà Nguyễn Thị H2; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 11/12/2024 đến ngày 20/01/2025 được hủy bỏ biện pháp tạm giam và áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

1

- Bị hại:

  • + Anh Trần Thế H3, sinh năm 1996; HKTT: Số A đường L, phường A, thành phố H, tỉnh Hưng Yên (vắng mặt).
  • + Anh Đỗ Văn L1, sinh năm 1991. HKTT: Đội 8, thôn Đ, phường L, thành phố H, tỉnh Hưng Yên (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Khoảng 21 giờ 45 phút ngày 29/8/2024 Trần Thế H3, sinh năm 1996, trú tại số A đường L, phường A, thành phố H cùng bạn là Đỗ Văn L1, sinh năm 1991, trú tại đội H, thôn Đ, phường L, thành phố H; Hoàng Văn T3, sinh năm 1997, trú tại thôn L, xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An; Đặng Kim A, sinh năm 2001, trú tại đội 4, phố A, phường A, thành phố H và Nguyễn Thị T4, sinh năm 2001, trú tại thôn A, xã H, thành phố H ngồi uống nước tại quảng trường thành phố H thì Phạm Chí T cùng bạn là Nguyễn Tấn H1 và Hoàng Thanh X, sinh năm 1991, trú tại ngõ B, đường T, phường H, thành phố H đến ngồi uống nước gần với vị trí nhóm của Trần Thế H3 ngồi. Quá trình ngồi uống nước thì giữa Chí T và H3 có lời qua tiếng lại về việc nhìn nhau thì Chí T gọi điện cho Phạm Văn Đ, sinh năm 2004, trú tại số G, đường N, phường H, thành phố H nói “có mấy người gây sự với anh ở quảng trường, mày đi ra đây xem có quen không”, thấy vậy Đ một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 34AE - 02040, trên xe có 01 thanh kiếm bằng kim loại, vỏ ngoài màu đen Đ để trên xe từ trước đi đến chỗ Chí T đang xích mích với nhóm của H3. Đến nơi, Đ thấy Chí T đang cãi chửi nhau với nhóm của H3 nên Đ lấy kiếm ở xe rồi lao vào định đánh nhau với nhóm của H3 thì X và H1 ngăn lại. H3 và L1 đi ra chỗ Đ và H1 tiếp tục có lời qua tiếng lại thì H1 dùng chân đạp 01 phát vào người L1 và đẩy L1 ra, lúc này Chí T rút thanh kiếm trên tay Đ chạy ra chỗ L1, dùng phần lưng kiếm chém 01 phát trúng vùng thắt lưng phải phía trên mông phải của L1 gây bầm tím. Thấy vậy, H1 chạy ra giằng kiếm trên tay Chí T rồi đưa lại cho Đ. Sau đó được mọi người can ngăn nên hai bên không xảy xô xát nữa, Đ cầm thanh kiếm điều khiển xe mô tô ra khu vực khuôn viên vườn hoa trên đường C, phường H, thành phố H vứt kiếm ở vườn hoa, còn Chí T, H1 và X đi thanh toán tiền nước rồi ra xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios màu đen, biển kiểm soát 89A - 305.89 của T để về. Khi nhóm của Chí T lên xe ô tô thì H3, L1 và Văn T3 đi ra chặn đầu xe không cho đi, thấy vậy Chí T gọi điện cho Công an phường H, thành phố H nói đang bị đám thanh niên dọa đánh và nhờ Công an phường H ra giải quyết. Do bực tức, H1 xuống nói chuyện với L1 thì nhóm của L1 tiếp tục thách thức không cho đi nên H1 dùng tay tát 02 phát vào mặt L1 thì bị L1, Văn T3 dùng chân tay không và H3 dùng dây thắt lưng có mặt khóa thắt lưng bằng kim loại đánh

2

lại, thấy H1 đánh nhau với nhóm của H3 thì Chí T xuống xe lao vào cùng H1 đánh nhau với nhóm của H3. Do không đánh lại nhóm của H3 nên Chí T ra xe ô tô lấy 01 dụng cụ đa năng bằng kim loại có gắn đầu kìm, cờ lê, tua vít và lưỡi dao nhọn có một cạnh sắc dài 05cm rồi mở phần lưỡi dao quay lại tiếp tục cùng H1 đánh nhau với nhóm của H3, H3 dùng dây thắt lưng vụt T và H1 làm đoạn dây thắt lưng có mặt khóa thắt lưng bằng kim loại đứt ra. Quá trình đánh nhau với nhóm của H3, Chí T dùng dụng cụ đa năng đã mở sẵn lưỡi dao đâm 01 phát trúng vào phần cổ bên trái và 01 phát vào mạn sườn trái của H3 làm rách da chảy máu, Chí T tiếp tục ra chỗ L1 và H1 đang đánh nhau dùng đầu có lưỡi dao của dụng cụ đa năng đâm 01 phát trúng bụng bên phải của L1 làm rách da chảy máu, H3 và L1 bị đâm chảy máu thấy đau nên dừng lại thì H1 tiếp tục cởi thắt lưng đang đeo trên người dùng đầu có mặt khóa thắt lưng bằng kim loại vụt 01 phát trúng vai trái L1 làm rách da chảy máu, sau đó hai bên dừng lại không đánh nhau nữa thì H3 và L1 được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh H. Lúc này Công an phường H, thành phố H đến đưa Chí T và H1 về trụ sở làm việc, trước khi về trụ sở Công an phường H làm việc, Chí T đã vứt lại dụng cụ đa năng trên tại hiện trường; lúc sau Đ ra chỗ Chí T và H1 vừa đánh nhau thì nhặt được dụng cụ đa năng trên. Hậu quả: Trần Thế H3 bị thương phải điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh H từ ngày 29/8/2024 đến ngày 10/9/2024 ra viện; Đỗ Văn L1 bị thương phải điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh H từ ngày 29/8/2024 đến ngày 09/9/2024 ra viện; Phạm Chí T bị thương ở đầu và má phải; Nguyễn Tấn H1 bị thương ở cánh tay trái, trán và lông mày trái.

Vật chứng thu giữ: 01 dụng cụ đa năng bằng kim loại có gắn đầu kìm, cờ lê, tua vít, lưỡi dao nhọn một cạnh sắc; 01 mặt khóa dây thắt lưng bằng kim loại màu vàng, kích thước (5 x 5,2)cm có gắn dây da màu nâu kích thước (5,5 x 3,5)cm; 01 dây thắt lưng bằng da màu đen, một đầu dây gắn mặt thắt lưng bằng kim loại màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax màu xanh, bên trong lắp 01 sim liên lạc số 0963.428.xxx; 01 chùm chìa khóa gồm 01 bấm móng tay, 01 chìa khóa bốn cạnh có phần tay cầm bằng nhựa màu xanh, 02 chìa khóa bằng kim loại trên chìa có chữ V - T.

Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 145 ngày 05/9/2024 của Trung tâm pháp y và Giám định y khoa – Sở Y kết luận về tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của anh Trần Thế H3 như sau:

Kết quả khám giám định: 01 vết thương kích thước trung bình ngang vùng nền cổ bên trái. 01 vết thương kích thước trung bình vùng mặt trước vai trái sát đầu ngoài xương đòn vặn trái. 01 vết thương kích thước trung bình vùng thành ngực trái trên đường nách trước tương ứng khoang liên sườn 6 - 7; vết thương do mở dẫn lưu

3

khoang màng phổi trái. 01 vết thương nhỏ chéo vùng mạn sườn trái trên đường nách trước. 01 vết thương nhỏ giữa vùng thượng vị; vết thương do phẫu thuật nội soi ổ bụng. 01 vết thương nhỏ vùng bờ trên rốn; vết thương do phẫu thuật nội soi ổ bụng. 01 vết thương kích thước trung bình vùng hố chậu trái; Vết thương là đường ra của ống dẫn lưu ổ bụng. Theo dõi tổn thương phổi và màng phổi bên trái. Theo dõi tổn thương các tạng và các tổ chức vùng ngực, bụng. Hiện các tổn thương này đang trong quá trình điều trị có thể chưa được tầm soát hết hoặc cũng có thể để lại các vi biến chứng.

Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT - BYT, ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y1 quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Thế H3 tại thời điểm giám định là 12% (Mươi hai phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư. Cơ chế hình thành thương tích là do dạng vật sắc và sắc nhọn gây nên.

Bản giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số 8667 ngày 06/12/2024 của V1 - Bộ C đối với Trần Thế H3 kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Trần Thế H3 tại thời điểm giám định là: 30% (Ba mươi phần trăm). Cơ chế hình thành thương tích: Do vật sắc hoặc sắc nhọn gây ra.

* Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 146 ngày 05/9/2024 của Trung tâm pháp y và Giám định y khoa – Sở Y kết luận về tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của anh Đỗ Văn L1 như sau:

Kết quả khám giám định: 01 vết thương nhỏ vùng bụng phải phía dưới bờ sườn. 01 vết thương nhỏ bờ trên rốn; vết thương do phẫu thuật nội soi ổ bụng. 01 vết thương nhỏ vùng hố chậu phải; vết thương do phẫu thuật nội soi ổ bụng. 01 vết thương nhỏ vùng dưới bả vai trái gần hõm nách. 01 vết thương kích thước trung bình vùng sau ngoài khuỷu phải. 01 vết thương nhỏ mặt mu đốt 1-2 ngón II bàn tay phải. 03 vết thương nhỏ mặt trước dưới gối phải. Theo dõi tổn thương các tạng và tổ chức cho ổ bụng. Vùng thắt lưng phải phía trên mông phải có mảng sưng nề bầm tím và 01 vết hằn tụ máu; mặt sau 1/3 giữa cánh tay trái có 01 đám bầm tụ máu và mặt trước dưới gối phải có vết xước da nhỏ. Các tổn thương này đang trong quá trình điều trị, có thể tạo sẹo hay gây vết biến tổn rối loạn sắc tố da hoặc không, nên chưa đủ cơ sở để áp dụng tính tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể đối với các tổn thương này.

Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT - BYT, ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y1 quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định

4

pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Đỗ Văn L1 tại thời điểm giám định là 10% (Mươi phần trăm).

Bản giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số 164 ngày 07/10/2024 của Trung tâm pháp y và Giám định y khoa – Sở Y kết luận về tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của anh Đỗ Văn L1 như sau: Xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Đỗ Văn L1 tại thời điểm giám định là 17% (Mười bảy phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư. Cơ chế hình thành thương tích 01 sẹo nhỏ vùng bụng phải phía dưới bờ sườn là do dạng vật sắc nhọn gây nên.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Phạm Chí T đã bồi thường cho Trần Thế H3 số tiền 68.243.000 đồng, cho Đỗ Văn L1 số tiền 45.000.000 đồng; Nguyễn Tấn H1 đã bồi thường cho Trần Thế H3 số tiền 5.000.000 đồng, cho Đỗ Văn L1 số tiền 5.000.000 đồng. Anh H3 và anh L1 không yêu cầu đề nghị gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho T và H1.

Tại Cáo trạng số: 20/CT - VKS - TPHY ngày 21 tháng 01 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên truy tố các bị cáo Phạm Chí T và Nguyễn Tấn H1 về tội “Cố ý gây thương tích”, theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 24/2025/HSST ngày 07/3/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên đã quyết định:

Căn cứ vào: điểm d khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 54, Điều 58 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Các Điều 106, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án đối với các bị cáo Phạm Chí T và bị cáo Nguyễn Tấn H1.

[1]. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Chí T và bị cáo Nguyễn Tấn H1 phạm tội “Cố ý gây thương tích".

[1.1]. Xử phạt: Bị cáo Phạm Chí T 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo đi thi hành án, được trừ thời gian bị cáo đã tạm giam (từ ngày 30/8/2024 đến ngày 21/11/2024).

[1.2]. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tấn H1 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo đi thi hành án, được trừ thời gian bị cáo đã tạm giam (từ ngày 11/12/2024 đến ngày 20/01/2025).

5

Tiếp tục thực hiện quyết định bảo lĩnh đối với bị cáo Phạm Chí T và Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Nguyễn Tấn H1 kể từ ngày tuyên án cho đến khi có quyết định khác thay thế.

Ngoài ra bản án còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo Phạm Chí T và Nguyễn Tấn H1 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo đồng thời giao nộp thêm các tài liệu chứng cứ mới:

  • Bị cáo T xuất trình đơn xin giảm nhẹ hình phạt của mẹ đẻ là bà Vũ Thị L; đơn của hai bị hại Đỗ Văn L1 và Trần Thế H3 xin giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo T được hưởng án treo vì hoàn cảnh gia đình và bị cáo đang phải điều trị bệnh tại bệnh viện H4.
  • Bị cáo H1 nộp đơn xin giảm nhẹ và xin hưởng án treo có xác nhận của chính quyền địa phương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Phạm Chí T và Nguyễn Tấn H1 về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Mức hình phạt đối với hai bị cáo là phù hợp không nhẹ. Tại phiên tòa các bị cáo có thêm tình tiết giảm nhẹ mới, vì vậy cần giữ nguyên mức án nhưng cho các bị cáo được hưởng án treo cũng có đủ tác dụng giáo dục và răn đe phòng ngừa tội phạm chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

[1]. Về tố tụng: Đơn kháng cáo của của các bị cáo Nguyễn Tấn H1, Phạm Chí T đảm bảo về hình thức, trong thời hạn luật định, là kháng cáo hợp lệ nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2]. Xét kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Tấn H1, Phạm Chí T. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:

[2.1]. Về tội danh:

Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại anh H3 và anh L1, những người làm chứng anh Đ, anh T, chị X, chị Kim A, chị N, chị P (bút lục 229, 310, 318, 329, 339, 347, 369, 383, 392) và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như sơ đồ hiện trường; Vật chứng là dụng cụ đa năng bằng kim loại và thắt lưng có mặt kim loại mà bị cáo T và bị cáo H1 dùng để đánh anh L1 và anh H3; Bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 145 ngày 05/9/2024 của Trung tâm pháp y và giám định y khoa - Sở Y, Bản kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên

6

người sống số 8667 ngày 06/12/2024 của V1 - Bộ C đối với Trần Thế H3. Bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 146 ngày 05/9/2024 của Trung tâm pháp y và giám định y khoa - Sở Y, Bản Kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số 164 ngày 07/10/2024 của Trung tâm pháp y và giám định y khoa - Sở Y kết luận về tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của anh Đỗ Văn L1, cùng các tài liệu chứng cứ khác, có cơ sở xác định:

Khoảng 22 giờ ngày 29/8/2024 tại đường Q thuộc phường H, thành phố H, Phạm Chí T và Nguyễn Tấn H1 đã có hành vi dùng tay và dùng chân để đánh, đấm, đá, vật nhau với anh H3, anh L1 xuống đường, ngoài ra các bị cáo còn dụng cụ đa năng có gắn lưỡi dao nhọn có một cạnh sắc dài 05cm và dây thắt lưng có mặt khóa bằng kim loại đâm, khua khoắng nhiều nhát về phía anh H3 và anh L1 gây thương tích cho anh Trần Thế H3 với tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 30% và anh Đỗ Văn L1 với tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 17%. Do vậy, Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên xét xử bị cáo Phạm Chí T và Nguyễn Tấn H1 về tội “Cố ý gây thương tích”, theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự là chính xác, đúng pháp luật, không oan sai.

[2.2]. Về kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo:

Đây là vụ án đồng phạm giản đơn vì các bị cáo không có sự bàn bạc phân công nhau từ trước. Tuy nhiên bị cáo T là người trực tiếp dùng chân tay không và dụng cụ đa năng có gắn lưỡi dao nhọn gây thương tích chính cho anh H3 và anh L1 nên bị cáo T giữ vai trò chính. Bị cáo H1 là người thực hành tích cực đã dùng chân tay không, thắt lưng da gây thương tích cho anh H3 và anh L1. Vì vậy hình phạt áp dụng cho bị cáo T sẽ cao hơn bị cáo H1.

[2.2.1]. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Phạm Chí T và Nguyễn Tấn H1 không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

[2.2.2]. Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo, bị hại cũng có một phần lỗi, bị cáo T có đơn xin giảm nhẹ hình phạt, do đó các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Nhận thấy xuất phát từ những mâu thuẫn rất nhỏ trong cuộc sống, các bên không chọn cách thức hòa giải mà có hành động lời nói, xô đẩy nhau, ban đầu hai bên dùng tay chân đánh lẫn nhau, với động cơ, mục đích nhằm thỏa mãn cơn tức giận.

7

Về nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của các bị cáo bắt nguồn từ việc các bị hại đã có những lời nói, hành động xúc phạm các bị cáo trước, sau đó còn dùng tay chân, dây thắt lưng gây thương tích cho các bị cáo.

Các bị cáo sau khi xô xát ban đầu với bị hại nhưng chưa đến mức gây nên thương tích cũng đã chủ động lên xe ô tô rời đi để chấm dứt sự việc nhưng đã bị nhóm của anh L1 ngăn lại dẫn đến xô xát. Sau khi phạm tội hai bên đã hòa giải và bồi thường đầy đủ cho nhau; phía bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo. Đối với thương tích của các bị cáo do bị hại gây ra, các bị cáo tự nguyện không yêu cầu đề nghị gì nên không đặt ra xem xét.

Tại giai đoạn phúc thẩm, các bị hại tiếp tục có đơn xin cho bị cáo T được hưởng án treo. Bị cáo T còn cung cấp các giấy xét nghiệm máu của bệnh viện H4 về việc bị cáo đang điều trị liên quan đến đường huyết; đơn xin giảm nhẹ của bà L là mẹ của bị cáo đề nghị xem xét tạo điều kiện cho T vì T là lao động chính trong gia đình đang phải nuôi con nhỏ. Bị cáo H1 phạm tội có vai trò thứ yếu có đơn trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn đồng thời xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xin hưởng án treo có xác nhận của chính quyền địa phương.

Xét thấy các bị cáo đã thực sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội và có nơi cư trú rõ ràng, hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình nhất thời phạm tội. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà giữ nguyên mức hình phạt cấp sơ thẩm đã áp dụng và cho hưởng án treo cũng có đủ tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung và cũng để tạo điều kiện cho các bị cáo có điều kiện để chăm sóc gia đình.

Căn cứ điểm b, s khoản 1 và khoản 2 điều 51, khoản 1 Điều 54 bộ luật Hình sự; giữ nguyên mức xử phạt 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù đối với bị cáo T; 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù đối với H1 nhưng cho các bị cáo được hưởng án treo theo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

[3]. Án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo T, H1 kháng cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[4]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 343; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; điểm đ khoản 1 Điều 357; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

8

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Phạm Chí T và Nguyễn Tấn H1. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 24/2025/HS-ST ngày 07 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên.
  2. Áp dụng: Điểm d khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 54, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Các Điều 106, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự đối với các bị cáo Phạm Chí T và Nguyễn Tấn H1.
  3. Xử phạt:
    • - Bị cáo Phạm Chí T 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời gian thử thách 5 năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm 27/6/2025.
    • - Bị cáo Nguyễn Tấn H1 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời gian thử thách 5 năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm 27/6/2025.

Giao các bị cáo Phạm Chí T, Nguyễn Tấn H1 cho UBND phường H, thành phố H, tỉnh Hưng Yên giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.

  1. Về án phí: Bị cáo Phạm Chí T, Nguyễn Tấn H1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  2. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

9

Hoàng Tuấn Trọng Nguyễn Trung Kiên Phạm Trung Thực

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 36/2025/HS-PT ngày 27/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 36/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger