Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2025/HS-PT

Ngày 20 – 3 – 2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Nguyệt

Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Thuỷ;

Bà Trần Thị Thu Phương

- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Hương-Thư ký TAND tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:

Bà Cù Thị Ngọc – Kiểm sát viên

Ngày 20 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 56/2025/TLPT-HS ngày 21 tháng 2 năm 2025 đối với các bị cáo Lê Thị H và Ngân Văn P do có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá và kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2025/HSST ngày 16 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

- Bị cáo kháng cáo: 1. Lê Thị H, sinh năm: 1984, tại Xã X, huyện T,Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện T, Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Số CCCD: [...] cấp ngày 12/7/2021; Nơi cấp: Cục C1 về TTXH. Con ông Lê Minh H1 (đã chết) và bà Lê Thị L; có chồng Lê Hồng Q; bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 12/8/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh T (có mặt);

2. Ngân Văn P, sinh ngày 25/12/1999, tại Xã X, huyện T, Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn T, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Số CCCD: [...]cấp ngày 16/10/2022; Nơi cấp: Cục C1 về TTXH. Con ông Ngân Văn T và bà Vi Thị C; có vợ Vi Thị D, bị cáo có 01 con sinh ngày 23/10/2024; Tiền án: không; tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 12/8/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh T (có mặt);

Bị hại: Công ty TNHH MTV T3

Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa

Đại diện theo pháp luật: Bà Bùi Thị Huyền T1,Chức vụ: Giám đốc

Đại diện theo ủy quyền: Chị Hà Thị Thùy L1, sinh năm 1994 Chức vụ: Trưởng chi nhánh (Bưu cục) ( Vắng mặt)

Địa chỉ: Số nhà A thôn T, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên T3 (TNHH MTV TM và T3) TDA có trụ sở tại địa chỉ thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, theo Giấy chứng nhận đăng ký danh nghiệp số 2803042392 do Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh T cấp ngày 21/10/2022; đại diện theo pháp luật: Bùi Thị Huyền T1, làm Giám đốc. Công ty có chi nhánh (bưu cục) ở địa chỉ: Số nhà A thôn T, xã X, huyện T, theo giấy chứng nhận đăng ký địa điểm kinh doanh do Sở kế hoạch đầu tư tỉnh T cấp ngày 17/11/2023. Công ty có đầy đủ giấy tờ pháp lý hoạt động kinh doanh vận chuyển hàng hóa, giao hàng và thu tiền của khách hàng; Công ty ký hợp đồng về việc vận chuyển hàng hóa, giao hàng và thu tiền của khách hàng cho Tổng công ty B,

Ngày 01/12/2023 và ngày 22/12/2023 công ty ký hợp đồng lao động với Ngân Văn P và Lê Thị H (thời hạn hợp đồng 01 năm kể từ ngày ký). Công ty TNHH T3 giao cho chị Hà Thị Thùy L1, sinh năm 1994, trú tại khu phố T, thị trấn L, huyện L là Trưởng chi nhánh (Bưu cục) có trách nhiệm quản lý công việc và quản lý nhân viên tại chi nhánh. Theo nội dung hợp đồng lao động, Lê Thị H và Ngân Văn P là nhân viên giao hàng (Shipper) của công ty với nhiệm vụ giao hàng tại các xã, thị trấn trên địa bàn huyện T theo sự phân công, quyền hạn cụ thể như sau: Giao hàng và thu tiền của khách hàng theo số tiền ghi nhận trên hệ thống của công ty; trước 10 giờ 00 phút của ngày làm việc tiếp theo (N+1), bàn giao những đơn hàng không giao thành công và nộp lại số tiền thu của khách hàng về cho công ty; hoàn thành những công việc khác tùy thuộc theo yêu cầu kinh doanh của người sử dụng lao động và theo quyết định của T2 bưu cục, Ban Giám đốc. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, nếu có nhu cầu thay đổi nội dung hợp đồng, các bên thỏa thuận bằng ký phụ lục hợp đồng hoặc ký hợp đồng mới hoặc thực hiện theo thông báo/quyết định của Bên A (trong vòng 10 ngày kể từ ngày nhận được thông báo/quyết định của Bên A nếu Bên B không có ý kiến phản hồi bằng văn bản thì mặc nhiên được hiểu là Bên B chấp nhận nội dung thay đổi đó).

Trong thời gian làm việc tại chi nhánh T4 của Công ty TNHH T3; từ ngày 12/01/2024 đến ngày 20/01/2024, Lê Thị H và Ngân Văn P, lợi dụng việc quản lý lỏng lẻo của công ty nên đã giao các đơn hàng thành công, nhận tiền từ khách hàng nhưng dùng thủ đoạn nhập thông tin, báo cáo trạng thái chưa giao hàng thành công trên hệ thống quản lý, theo dõi đơn hàng của công ty. Số tiền nhận của khách hàng không nộp tiền về công ty, H và P đã chiếm đoạt để sử dụng vào mục đích cá nhân.

Cụ thể, Lê Thị H chiếm đoạt số tiền: 16.154.242 đồng của 27 đơn hàng trong thời gian từ ngày 14/01/2024 đến ngày 20/01/2024; Ngân Văn P chiếm đoạt số tiền: 16.271.380 đồng của 27 đơn hàng trong thời gian từ ngày 12/01/2024 đến ngày 20/01/2024. Ngày 21/01/2024, chị Hà Thị Hà L2 tiến hành kiểm kê, phát hiện H và P chiếm đoạt số tiền nêu trên, đã yêu cầu H và P khắc phục trả lại cho công ty, chị L2 đã yêu cầu nhiều lần nhưng H và P vẫn cố tình không trả lại nên Công ty đã làm đơn tố cáo H và P có hành vi chiếm đoạt tài sản của công ty.

Quá trình điều tra, Lê Thị H và Ngân Văn P đã khai nhận toàn bộ nội dung, diễn biến về hành vi chiếm đoạt tài sản (tiền) của Công ty TNHH T3. Trong thời gian làm việc tại công ty TNHH T3 và T3, chi nhánh T4, từ ngày 12/01/2024 đến ngày 20/01/2024, Lê Thị H và Ngân Văn P đã chiếm đoạt tiền của Công ty, cụ thể như sau:

Bị cáo Lê Thị H đã chiếm đoạt tổng số tiền 16.154.242 đồng của 27 đơn hàng trong các ngày từ 14/01/2024 đến ngày 20/01/2024, gồm:

Ngày 14/01/2024 chiếm đoạt số tiền 200.000 đồng của 01 (một) đơn hàng, mã vận đơn 84857363678747.

Ngày 15/01/2024 chiếm đoạt số tiền 360.000 đồng của 01 (một) đơn hàng, mã vận đơn 84857372363412.

Ngày 16/01/2024 chiếm đoạt số tiền 1.776.142 đồng của 05 (năm) đơn hàng, gồm các đơn hàng có vận đơn 84857372552417, số tiền 253.000 đồng; mã vận đơn 84857389219830, số tiền 200.000 đồng; mã vận đơn 84857376604711, số tiền 303.200 đồng; mã vận đơn TTVN2098792202, số tiền 820.942 đồng; mã vận đơn 84857386127040, số tiền 200.000 đồng.

Ngày 17/01/2024 chiếm đoạt số tiền 630.000 đồng của 01 (một) đơn hàng, mã vận đơn 84857382059222.

Ngày 18/01/2024 chiếm đoạt số tiền 5.775.000 đồng của 08 (tám) đơn hàng, gồm các đơn hàng: Mã vận đơn 84857381922649, số tiền 610.000 đồng; mã vận đơn 84857384880186, số tiền 950.000 đồng; mã vận đơn 84857389847057, số tiền 920.000 đồng; mã vận đơn 84857384213005, số tiền 675.800 đồng; mã vận dơn TTVN2010902382, số tiền 585.000 đồng; mã vận đơn 84857381629261, số tiền 1.530.000 đồng; mã vận đơn 84857381791832, số tiền 505.000 đồng; mã vận đơn 84857383509663, số tiền 1.000.000 đồng.

Ngày 19/01/2024 chiếm đoạt số tiền 1.564.400đ của 05 (năm) đơn hàng, gồm các đơn hàng: Mã vận đơn 84857385533817, số tiền 357.000 đồng; mã vận đơn TTVN2015562522, số tiền 64.5000 đồng; mã vận đơn 84857391348726, số tiền 410.000 đồng; mã vận đơn TTVN2041742542, số tiền 332.900 đồng; mã vận đơn 84857392260902, số tiền 400.000 đồng.

Ngày 20/01/2024 chiếm đoạt số tiền 4.847.900 đồng của 06 (sáu) đơn hàng, gồm các đơn hàng: Mã vận đơn 84857393200516, số tiền 750.000 đồng; mã vận đơn TTVN2059822362, số tiền 1.402.900 đồng; mã vận đơn 84857393627142, số tiền 1.200.000 đồng; mã vận đơn 84857391721739, số tiền 385.000 đồng; mã vận đơn 84857392435638, số tiền 500.000 đồng; mã vận đơn 84857397638756, số tiền 610.000 đồng.

Bị cáo Ngân Văn P đã chiếm đoạt số tiền 16.271.380 đồng của 27 đơn hàng trong các ngày từ 12/01/2024 đến ngày 20/01/2024, gồm:

Ngày 12/01/2024 chiếm đoạt số tiền 2.508.380 đồng của 07 (bảy) đơn hàng, gồm các đơn hàng: Mã vận đơn 84857345710334, số tiền 534.000 đồng; mã vận đơn 84857363081984, số tiền 280.000 đồng; mã vận đơn 84857369662381, số tiền 500.000 đồng; mã vận đơn 84857368743806, số tiền 380.000 đồng; mã vận đơn 84857358935217, số tiền 319.000 đồng; mã vận đơn 84857346038350, số tiền 335.380 đồng; mã vận đơn 84857352954204, số tiền 160.000 đồng.

Ngày 13/01/2024 chiếm đoạt số tiền 4.968.000 đồng của 08 (tám) đơn hàng, gồm các đơn hàng: Mã đơn hàng 84857362989801, số tiền 600.000 đồng; mã đơn hàng 84857340669817, số tiền 216.000 đồng; mã đơn hàng 84857372060033, số tiền 887.000 đồng; mã vận đơn 84857345642284, số tiền 315.000 đồng; mã vận đơn 84857362801818, số tiền 700.000 đồng; mã vận đơn 84857367164604, số tiền 472.000 đồng; mã vận đơn 84857361780185, số tiền 889.000 đồng; mã vận đơn 84857365780145, số tiền 889.000 đồng.

Ngày 14/01/2024 chiếm đoạt số tiền 1.540.000 đồng của 02 (hai) đơn hàng, gồm các đơn hàng: Mã vận đơn 84857365570656, số tiền 1.250.000 đồng; mã vận đơn 84857368745607, số tiền 290.000 đồng.

Ngày 15/01/2024 chiếm đoạt số tiền 3.409.000 đồng của 02 (hai) đơn hàng, gồm các đơn hàng: Mã vận đơn 84857375237257, số tiền 809.000 đồng; mã vận đơn 84857372233449, số tiền 2.600.000 đồng.

Ngày 19/01/2024 chiếm đoạt số tiền 2.140.000 đồng của 06 (sáu) đơn hàng, gồm các đơn hàng: Mã vận đơn 84857373369376, số tiền 200.000 đồng; mã vận đơn 84857377687843, số tiền 420.000 đồng; mã vận đơn 84857371687799, số tiền 550.000 đồng; mã vận đơn 84857378687814, số tiền 385.000 đồng; mã vận đơn 84857374687825, số tiền 385.000 đồng; mã vận đơn 84857374931342, số tiền 200.00 đồng.

Ngày 20/01/2024 chiếm đoạt số tiền 1.706.000 đồng của 02 (hai) đơn hàng, gồm các đơn hàng: Mã vận đơn 84857391607017, số tiền 1.350.000 đồng; mã vận đơn 84857384098939, số tiền 356.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự.

- Đối với số tiền 16.155.000₫ Lê Thị H giao nộp Cơ quan điều tra đã trả lại cho Công ty TNHH T3 . Quá trình điều tra xác định vào tháng 01/2024 do Công ty TNHH T3 phát hiện H chiếm đoạt tiền của Công ty nên tiền lương tháng 01/2024 Công ty chưa thanh toán cho H 6.933.000 đồng, ngoài ra H còn 1.000.000 đồng tiền đặt cọc tại Công ty. Vì vậy Công ty TNHH T3 đã trả lại cho Lê Thị H số tiền 7.933.000 đồng.

- Đối với số tiền 11.000.000 đồng Ngân Văn P giao nộp, Cơ quan điều tra đã trả lại cho Công ty TNHH T3. Qúa trình điều tra xác định: vào tháng 01/2024 do Công ty TNHH T3 phát hiện P chiếm đoạt tiền của Công ty nên tiền lương tháng 01/2024 Công ty chưa thanh toán cho P là 6.933.000 đồng, ngoài ra P còn 3.000.000 đồng đặt cọc tại Công ty. Sau khi đối trừ số tiền Phương chiếm đoạt của Công ty (16.271.380 đồng) với số tiền Công ty còn phải thanh toán cho P (9.933.000 đồng). Công ty T3 đã trả lại cho Ngân Văn P số tiền 4.662.000 đồng.

Các bị cáo và bị hại đã thống nhất giao nhận tiền cho nhau đầy đủ và không có ý kiến gì khác, Công ty có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm cho các bị cáo.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2025/HSST ngày 16 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân huyện T, tỉnh Thanh Hóa đã quyết định:

Tuyên bố: Các bị cáo Lê Thị H, Ngân Văn P phạm tội “Tham ô tài sản”.

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự .

Xử phạt: Bị cáo Lê Thị H 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/8/2024.

Xử phạt: Ngân Văn P 07 (bảy) năm 05 (năm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/8/2024.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo, bị hại đã thảo thuận bồi thường xong

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 17 tháng 2 năm 2025 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá có Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 03/QĐ-VKS-P7 Kháng nghị một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2025/HS-ST ngày 16/01/2025 của TAND huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa, phần hình phạt đối với bị cáo Lê Thị H và Ngân Văn P. Đề nghị TAND tỉnh Thanh Hóa căn cứ khoản 2 Điều 357 BLTTHS, sửa bản án sơ thẩm theo hướng: Giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Lê Thị H và bị cáo Ngân Văn P.

Ngày 22 tháng 01 năm 2025 các bị cáo Lê Thị H và Ngân Văn P có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo .

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và tội danh mà Toà án cấp sơ thẩm xét xử là đúng, các bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá giữ nguyên nội dung kháng nghị.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa:

Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá kháng nghị trong thời hạn luật định, các bị cáo Lê Thị H và Ngân Văn P kháng cáo hợp lệ trong thời hạn theo quy định tại các Điều 331,332,333 Bộ luật tố tụng hình sự nên được chấp nhận để xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Tại Toà án cấp sơ thẩm các bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân, các bị cáo đều tự nguyện khắc phục thiệt hại cho bị hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo đây là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s,b khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS. Xét thấy các bị cáo có nhân thân tôt, các bị cáo chưa có tiền án tiền sự, số tiền chiếm đoạt không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Toà án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Lê Thị H 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù,bị cáo Ngân Văn P 07 (bảy) năm 05 (năm) tháng tù là quá nghiêm khắc.

Tại cấp phúc thẩm các bị cáo xuất trình thêm các tình tiết giảm nhẹ mới cụ thể bị cáo Ngân Văn P có hoàn cảnh gia đình khó khăn là hộ cận nghèo, con còn nhỏ, quá trình sinh sống tại địa phương luôn chấp hành tốt các chủ trương chính sách, quy định của chính quyền địa phương nơi cư trú đề ra, gia đình bị cáo tích cực ủng hộ đồng bào bão lũ, quỹ hộ nghèo. Bị cáo Lê Thị H tích cực ủng hộ quỹ vì hộ nghèo, ủng hộ đồng bào bão lũ, trước khi phạm tội luôn chấp hành quy định nơi cư trú điều này được chính quyền địa phương nơi cư trú xác nhận Đây là các tình tiết giảm nhẹ mới theo khoản 2 Điều 51 BLHS.

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Điều 54 Bộ luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của VKS và chấp nhận kháng cáo các bị cáo về giảm hình phạt, sửa Bản án sơ thẩm về hình phạt giảm cho bị cáo Ngân Văn P từ 29 tháng đến 35 tháng tháng tù. Giảm cho bị cáo H với mức từ 18 tháng đến 24 tháng tù

Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo của các bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí HSPT.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử tại phiên tòa sơ thẩm các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Đơn kháng cáo của các bị cáo hợp lệ và trong thời hạn theo quy định tại các Điều 331,332,333 Bộ luật tố tụng hình sự nên được chấp nhận để xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

[2.1]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, căn cứ vào lời khai của các bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm có đủ cơ sở xác định: Trong thời gian làm việc tại Công ty TNHH T3, chi nhánh T4, từ ngày 12/01/2024 đến ngày 20/01/2024, Lê Thị H và Ngân Văn P, lợi dụng sự lỏng lẻo trong công tác quản lý nên H và P đã giao các đơn hàng thành công, nhận tiền từ khách hàng nhưng dùng thủ đoạn nhập thông tin, báo cáo trạng thái chưa giao hàng thành công trên hệ thống quản lý, theo dõi đơn hàng của công ty. Số tiền nhận của khách hàng không nộp tiền về công ty, H và P đã chiếm đoạt để sử dụng vào mục đích cá nhân. Cụ thể, Lê Thị H chiếm đoạt số tiền: 16.154.242 đồng của 27 đơn hàng trong thời gian từ ngày 14/01/2024 đến ngày 20/01/2024; Ngân Văn P chiếm đoạt số tiền: 16.271.380 đồng của 27 đơn hàng trong thời gian từ ngày 12/01/2024 đến ngày 20/01/2024. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm kết án các bị cáo về tội' "Tham ô" theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 353 Bộ luật Hình sự là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2.2]. Xét kháng cáo của các bị cáo Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy:Các bị cáo đã lợi dụng chức vụ quyền hạn của mình lợi dụng sự lỏng lẻo trong công tác quản lý nên H và P đã giao các đơn hàng thành công, nhận tiền từ khách hàng nhưng dùng thủ đoạn nhập thông tin, báo cáo trạng thái chưa giao hàng thành công trên hệ thống quản lý, theo dõi đơn hàng của công ty. Số tiền nhận của khách hàng không nộp tiền về công ty, H và P đã chiếm đoạt để sử dụng vào mục đích cá nhân. Cụ thể, Lê Thị H chiếm đoạt số tiền: 16.154.242 đồng của 27 đơn hàng trong thời gian từ ngày 14/01/2024 đến ngày 20/01/2024; Ngân Văn P chiếm đoạt số tiền: 16.271.380 đồng của 27 đơn hàng trong thời gian từ ngày 12/01/2024 đến ngày 20/01/2024.

Tại Toà án cấp sơ thẩm các bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân, các bị cáo tự nguyện khắc phục thiệt hại cho bị bị hại có đơn xin giảm nhẹ cho các bị cáo tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s,b khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS, Toà án cấp sơ thẩm tuyên phạt bị cáo Lê Thị H 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù, bị cáo Ngân Văn P 07 (bảy) năm 05 (năm) tháng tù là nghiêm khắc.

Tại phiên toà phúc thẩm, các bị cáo xuất trình thêm tình tiết giảm nhẹ mới: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai trái, ăn năn hối hận với hành vi của mình gây ra cho bị hại, các bị cáo đều tự nguyện khắc phục thiệt hại cho bị hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, bị cáo Ngân Văn P có hoàn cảnh gia đình khó khăn là hộ cận nghèo, con còn nhỏ, quá trình sinh sống tại địa phương luôn chấp hành tốt các chủ trương chính sách, quy định của chính quyền địa phương nơi cư trú đề ra, bị cáo cứu giúp gia đình người bị nạn bị đuối nước. Bị cáo Lê Thị H tích cực ủng hộ quỹ xây nhà cho hộ nghèo, ủng hộ đồng bào bão lũ trong cơn bão Y, trước khi phạm tội luôn chấp hành quy định nơi cư trú điều này được chính quyền địa phương nơi cư trú xác nhận, đây là các tình tiết giảm nhẹ mới theo khoản 2 Điều 51 BLHS.

Xét thấy, các bị cáo chưa có tiền án tiền sự, các bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân, các bị cáo tự nguyện khắc phục thiệt hại cho bị bị hại có đơn xin giảm nhẹ cho các bị cáo, số tiền các bị cáo chiếm đoạt không lớn, tại giai đoạn phúc thẩm có thêm nhiều tình tiết giảm nhẹ, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo cho phù hợp với nguyên tắc nhân đạo của pháp luật, khoan hồng đối với người phạm tội khi họ biết ăn năn hối cải. Nên thống nhất với quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tỉnh Thanh Hóa, chấp nhận kháng nghị của VKSND tỉnh Thanh Hoá và kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo và áp dụng Điều 54 BLHS cho bị cáo được hưởng dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, sửa quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt, giảm một phần hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo, trở thành công dân có ích cho xã hội là phù hợp.

[3].Về án phí: Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Kháng cáo của các bị cáo được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[4]. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, hội đồng xét xử không xem xét và đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm d khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa;

Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo về giảm hình phạt.

Sửa bản án sơ thẩm số 01/2025/HSST ngày 16 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân huyện T, tỉnh Thanh Hóa, về giảm hình phạt đối với các bị cáo

Căn cứ vào: điểm c khoản 2 Điều 353; Điều 17, Điều 58, điểm s,b khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38, Điều 54 Bộ luật hình sự

Tuyên bố: các bị cáo Lê Thị H, Ngân Văn P phạm tội “Tham ô tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Thị H 05 ( Năm) năm 03 ( ba) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày 12/8/2024.

Bị cáo Ngân Văn P 04 ( bốn) năm 06 ( S ) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày 12/8/2024.

Về trách nhiệm dân sự: Công nhận bị cáo và bị hại đã giải quyết xong.

Về án phí: Các bị cáo không phải chịu án phí HSPT.

4. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - TAND huyện Thường Xuân;
  • - Chi cục thi hành án DS h Thường Xuân;
  • - Bị cáo; Bị hại.
  • - Công an tỉnh Thanh Hoá;
  • - Trại giam công an tỉnh Thanh Hoá;
  • - Lưu hồ sơ vụ án; Lưu Tòa HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Hoàng Thị Nguyệt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 36/2025/HS-PT ngày 20/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về tham ô tài sản (hình sự phúc thẩm)

  • Số bản án: 36/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tham ô tài sản (Hình sự phúc thẩm)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 20/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Thị H + ĐP "Tham ô tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger