Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2025/HS-PT

Ngày: 04-6-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thương Huyền

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hà Ngân

Ông Bùi Minh Thư

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Soan - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2025 và ngày 04 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 36/2025/TLPT- HS ngày 18 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Hữu N. Do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2025/HS-ST ngày 18/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.

- Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Hữu N; giới tính: Nam; tên gọi khác: Không. Sinh ngày: 10/11/1969 tại: Xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã L, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 07/10; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Nguyễn Hữu N1 (đã chết), con bà: Trần Thị N2, sinh năm 1938. Anh chị em ruột có tất thảy người, bị cáo là con thứ nhất. Vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1974; con: Có 03 con, con lớn sinh năm 1995, con nhỏ sinh năm 2007. Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân:

- Ngày 25/01/2018, bị Công an huyện T ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi Đánh bạc.

- Ngày 04/05/2020, bị Công an huyện T ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi Đánh bạc.

Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 14/10/2024. Đến ngày 08/01/2025 được thay thế biện pháp ngăn chặn tự tạm giam sang bảo lĩnh, hiện cư trú tại thôn T, xã L, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Bị cáo có mặt.

Trong vụ án này còn có các bị cáo khác, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng tuy nhiên không liên quan đến nội dung kháng cáo của bị cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Công ty Cổ phần G1 gồm có 01 nhà máy tại thôn N, xã N, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh (gọi là nhà máy T1) và 01 nhà máy cơ sở tại thôn B, xã T, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh (gọi là nhà máy V), gồm có 5 cổ đông là chị Nguyễn Thị H1, anh Đặng Hồng N3, anh Nguyễn Quang G, anh Hồ Thế A và Ngô Đức C.

Giữa năm 2024, Công ty dừng hoạt động, ngày 07/7/2024 các cổ đông đã thỏa thuận và phân chia tài sản. Theo nội dung biên bản thỏa thuận thì Ngô Đức C và anh Nguyễn Quang G được nhận lại, thanh lý, di dời tài sản tại nhà máy V; anh Hồ Thế A, chị Nguyễn Thị H1 và anh Đặng Hồng N3 được nhận lại, tháo dỡ và di dời các tài sản tại nhà máy T1.

Cuối tháng 9/2024, Ngô Đức C và anh Nguyễn Quang G đã thuê thợ tháo dỡ tài sản tại nhà máy V, bỏ lên xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 15H-048.71, kéo theo sơ mi-rơ moóc gắn thùng container biển kiểm soát 15R- 180.24 của anh G rồi đưa đến đậu tại khuôn viên nhà máy T1 chờ ngày di chuyển vào miền N để lắp đặt, sử dụng.

Khoảng cuối tháng 9, đầu tháng 10/2024, do thấy cuộn băng tải chuyền bằng cao su dự phòng ở nhà máy T1 để lâu ngày nhưng không ai sử dụng, không ai trông coi cẩn thận nên Ngô Đức C nảy sinh ý định sẽ lấy trộm cuộn băng tải chuyền này bỏ lên xe ô tô đầu kéo của anh G đang đậu ở khuôn viên nhà máy T1, nếu không ai để ý thì sẽ đưa vào miền N để sử dụng cùng với các máy móc tại nhà máy V. C đã gọi điện thoại cho Nguyễn Hữu N để nhờ N gọi thêm người bốc cuộn băng tải lên xe ô tô đầu kéo mang biển kiểm soát 15H-048.71 của anh G nói trên, N đồng ý.

Ngày 07/10/2024, N đã rủ Nguyễn Trung H2 (là người nhiều lần làm cơ khí trong nhà máy T1) đi lấy hai tủ cầu dao điện và một cuộn băng tải ở xưởng gỗ cho Ngô Đức C thì H2 đồng ý.

Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 08/10/2024, N chuẩn bị một chiếc kéo cắt sắt, một kìm sắt, một dao chặt có lưỡi bằng kim loại và điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RS màu đỏ mang biển kiểm soát 38H7-9223 đến chở H2 đi lấy tài sản. Khi đến nhà máy T1, N và H2 để xe ở khu vực vườn tràm rồi đi vào trong khu vực máy móc thì thấy không có bảo vệ trông coi tài sản. Lúc này, N dùng kìm cắt dây điện đèn chiếu sáng và dây điện camera ở hành lang của nhà ở công nhân. Sau đó, N và H2 dùng kéo cắt sắt cắt các dây điện xung quanh hai tủ điện và dùng kìm để tháo các đinh ốc bắt các tủ điện với giá đỡ. Nghiệm và H2 nhấc tủ điện nhỏ khỏi giá và để xuống mặt đất. Còn tủ điện lớn, sau khi nhấc thử thì thấy nặng quá nên N và H2 thống nhất gọi Nguyễn Nam T, là người cùng thôn ra bốc cùng.

Cả hai quay về tại nhà Nguyễn Nam T, tại đây, Nguyễn Hữu N rủ T đi lấy hai tủ điện cùng một cuộn băng tải ở xưởng gỗ cho Ngô Đức C. Do đã từng cùng với N và

H2 nhiều lần thi công cơ khí ở trong nhà máy T1 nên T hiểu ý N nói là lấy trộm tài sản trong nhà máy T1 cho C nên đồng ý.

Khoảng 22 giờ cùng ngày, N điều khiển xe mô tô 38H7-9223 đi trước, H2 điều khiển xe mô tô Honda Wave Alpha biển kiểm soát 38M1- 054.67, kéo theo xe kéo, T điều khiển xe mô tô Honda Wave Alpha biển kiểm soát 38M1-440.16 kéo theo xe kéo đi sau đến nhà máy T1. Khi đến nhà máy, N dùng kéo cắt sắt để cắt khóa cổng rồi bảo H2 để xe mô tô của H2 bên ngoài do tiếng nổ to, lấy xe mô tô của N để kéo xe kéo của H2 vào. Cả ba đi lại gần tủ điện lớn, rồi cả ba người bê đặt lên xe kéo của T, sau đó H2 bê hộp tủ điện nhỏ lên xe mô tô của N rồi cùng di chuyển đến khu vực nhà hành chính. Tại đây, H2 và T cùng nhau lăn cuộn băng tải cao su từ thềm nhà lên xe kéo, rồi H2 bê hộp tủ điện nhỏ lên xe kéo của H2. Lo sợ bỏ tài sản lên thùng xe đầu kéo như yêu cầu của Ngô Đức C sẽ bị phát hiện nên N, H2, T đã chở tài sản trộm cắp được về trang trại chăn nuôi vịt, cá của anh Nguyễn Văn L, ở thôn T, xã L, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh để cất giấu vì ở đó vắng người.

Khoảng 03 giờ sáng ngày 10/10/2024, sợ việc trộm cắp tài sản bị lộ nên N bảo T, H2 đến nơi cất giấu tài sản để tìm cách che giấu. H2 bê chiếc tủ điện nhỏ che giấu dưới hồ cá của trang trại anh Nguyễn Văn L. N và T lấy xe kéo của anh L chở tủ điện lớn đến hồ cá nằm ở trang trại chăn nuôi vịt, cá của anh Nguyễn Khắc K ở gần đó đổ xuống hồ để che giấu. Nghiệm tiếp tục quay lại mở cuộn băng tải ra, dùng dao cắt thành 07 đoạn ngắn khoảng từ 3 đến 5 mét để H2 và T thay nhau kéo các đoạn nhỏ này xuống che giấu dưới hồ cá của trang trại anh Nguyễn Văn L. Che giấu xong, cả ba bỏ chiếc xe kéo của anh Nguyễn Văn L lại vị trí cũ rồi đi về.

Sau khi kiểm tra, phát hiện bị mất trộm tài sản ngày 14/10/2024 Nguyễn Hữu N đến Cơ quan điều tra đầu thú.

Ngày 23/12/2024, Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện T có Kết luận định giá số 171/KLĐG, kết luận: Hai tủ điện có giá trị: 68.850.000 đồng, cuộn băng tải chuyền màu đen tình trạng nguyên vẹn có giá trị: 18.525.000 đồng, tổng giá trị tài sản là 87.375.000 đồng.

* Vật chứng, đồ vật tạm giữ của vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ, tạm giữ những đồ vật tài liệu có đặc điểm như sau: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme C21 Y màu xanh, đã qua sử dụng bên trong gắn thẻ sim số 0357751969; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RS màu đỏ biển kiểm soát 38H7-9223; 01 chiếc kéo cắt sắt, 01 chiếc kìm sắt, 01 con dao chặt; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu xanh biển kiểm soát 38M1-054.67; 02 chiếc xe kéo có khung bằng thép, thùng bằng gỗ; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu xanh biển kiểm soát 38M1-440.16; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A16k màu xanh, đã qua sử dụng bên trong gắn thẻ sim số 0978354900; 01 chiếc tủ điện có kích thước (150 x 90 x 50)cm, bên trong chứa các thiết bị đã được nối dây điện hoàn chỉnh, xung quanh tủ điện có 05 đoạn dây điện; 01 chiếc tủ điện có kích thước (80 x 60 x 35)cm, bên trong chứa các thiết bị đã được nối dây điện hoàn chỉnh, xung quanh tủ điện có 15 đoạn dây điện; 01 cuộn băng tải chuyền màu đen làm bằng cao su bị cắt thành 07 đoạn, đánh số ký hiệu từ M1 đến M7 có kích thước cụ thể như sau: M1: (430 x 79 x 1)cm; M2: (350 x 79 x 1)cm; M3: (470 x 79 x 1)cm; M4: (273 x 79 x 1)cm; M5: (420 x 79 x 1)cm; M6: (330 x 79 x 1)cm; M7: (350 x 79 x 1)cm; 01 ổ khóa dây làm bằng kim loại bên ngoài được bọc bởi một ống nhựa màu xanh đã bị cắt đứt.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2025/HS-ST ngày 18/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Hữu N phạm tội “Trộm cắp tài sản”

2. Về hình phạt:

- Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu N 27 (hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án nhưng được trừ thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/10/2024 đến ngày 08/01/2025.

Án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng.

- Ngày 21/3/2025, bị cáo Nguyễn Hữu N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Hữu N vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Đại diện viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích đánh giá các tình tiết của vụ án có ý kiến:

Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hữu N, sửa bản án sơ thẩm.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu N phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, điều 58, Điều 65, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Hữu N 27 (hai mươi bảy) tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách 54 (năm mươi tư) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Kháng cáo của bị cáo trong hạn luật định, hợp lệ nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Hữu N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với bản án sơ thẩm và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 22 giờ 00 phút, ngày 08/10/2024, tại Công ty cổ phần G1 ở thôn N, xã N, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh, do chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1984, trú tại thôn A, xã Đ, huyện G, tỉnh Hải Dương; anh Đặng Hồng N3, sinh năm 1975, trú tại phường N, quận B, thành phố Hà Nội và anh Hồ Thế A, sinh năm 1987, trú tại thôn K, xã S, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh làm chủ, Nguyễn Hữu N, Nguyễn Trung H2 và Nguyễn Nam T đã có hành vi lén lút, đột nhập lấy trộm tài sản của Công ty, gồm 02 tủ cầu dao điện đã qua sử dụng có giá trị 68.850.000 đồng và 01 cuộn băng tải chuyền được làm bằng cao su chưa qua sử dụng có giá trị 18.525.000 đồng. Tổng giá trị tài sản trộm cắp là 87.375.000 đồng.

Bị cáo Nguyễn Hữu N là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã có hành vi lén lút trộm cắp tài sản, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, đồng thời làm hưởng đến trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn.

Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Hữu N về tội danh và khung hình phạt trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Xét nội dung kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Hữu N, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Quá trình xét xử sơ thẩm bị cáo Nguyễn Hữu N đã được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại” và “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” bị cáo “Đầu thú” đồng thời đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo gia đình có hoàn cảnh khó khăn, có xác nhận của chính quyền địa phương đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo Nguyễn Hữu N giao nộp đơn xin xác nhận ủng hộ 2.000.000 đồng cho Uỷ ban mặt trận tổ quốc xã L để chung tay xoá nhà tạm, nhà dột nát; xác nhận tích cực tham gia phòng chống dịch C1 và hiến đất đất làm đường khi thực hiện chương trình Nông thôn mới, có xác nhận của chính quyền địa phương. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên xét thấy trong vụ án, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, bị cáo có nhận thân xấu từng 02 lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc nhưng không lấy đó làm bài học mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Do đó cần xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Vì vậy Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo của bị cáo N.

[4] Về án phí: Căn cứ Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hữu N không được chấp nhận nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hữu N. Giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm số 11/2025/HS-ST ngày 18/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.

2. Về tội danh và hình phạt:

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu N phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Hữu N 27 (hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án nhưng được trừ thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/10/2024 đến ngày 08/01/2025.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 135; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Hữu N phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày kết thúc thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Công an tỉnh Hà Tĩnh (PV06);
  • - TAND huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh;
  • - VKSND huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Chi cục THADS huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thương Huyền

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 36/2025/HS-PT ngày 04/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về phúc thẩm hình sự về tội trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 36/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Phúc thẩm hình sự về tội Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 04/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Công ty Cổ phần gỗ KenFa Hà Tĩnh gồm có 01 nhà máy tại thôn Ngọc Hà, xã Ngọc Sơn, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh (gọi là nhà máy Thạch Hà) và 01 nhà máy cơ sở tại thôn 2, xã Thọ Điền, huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh (gọi là nhà máy Vũ Quang), gồm có 5 cổ đông là chị Nguyễn Thị Hường, anh Đặng Hồng Nam, anh Nguyễn Quang Giang, anh Hồ Thế Anh và Ngô Đức Chiến.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger