|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 36/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 29-5-2025
V/v Ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Mai Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Thành Nam
- Bà Giáp Thị Hiền
- Thư ký phiên toà: Bà Vi Thị Lan Phương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Hải Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 78/2025/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2025 về tranh chấp “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1977; nơi thường trú: Thôn N, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang. (có mặt)
- Bị đơn: Anh Phạm Xuân C, sinh năm 1974; nơi thường trú: Thôn N, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo nguyên đơn chị Nguyễn Thị L trình bày: Chị kết hôn với anh Phạm Xuân C vào ngày 18 tháng 12 năm 1995, có được tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống với nhau ngay, thời gian đầu tình cảm hoà thuận hạnh phúc. Mâu thuẫn của vợ chồng phát sinh từ năm 2020, nguyên nhân do anh C có tình cảm với người phụ nữ khác, chửi bới đánh đập chị vô cớ, đến nay chị không thể nhẫn nhịn được nữa. Vợ chồng vẫn sống chung 1 nhà nhưng đã không còn quan hệ tình cảm 01 năm nay. Mặc dù đã được hai bên gia đình hoà giải hàn gắn nhưng không có kết quả. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị xin ly hôn anh C.
Về con chung: Vợ chồng chị có 02 con chung Phạm Xuân T, sinh ngày 09/11/1997 và Phạm Ngọc L1, sinh ngày 04/6/1999, hiện đều đã trưởng thành và có gia đình riêng nên chị không đề nghị Tòa án giải quyết về con chung.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản, ruộng canh tác và công sức đóng góp trong thời gian ở chung: Chị không yêu cầu giải quyết.
Tại bản tự khai và các lời khai tiếp theo bị đơn anh Phạm Xuân C trình bày: Anh kết hôn với chị L ngày 18/12/1995 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng chung sống bình thường đến năm 2023 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không có tiếng nói chung trong cuộc sống gia đình và chuyện tình cảm vợ chồng, thỉnh thoảng có xảy ra cãi vã, xô xát. Nay vợ chồng vẫn sống chung một nhà nhưng đã 01 năm nay chị L không cho anh quan hệ tỉnh cảm. Anh đã cố gắng hàn gắn nhưng không được. Nay anh xác định tình cảm vẫn còn nên anh mong chị L rút đơn ly hôn để vợ chồng đoàn tụ. Trường hợp chị L kiên quyết ly hôn thì anh cũng chấp nhận ly hôn chị L.
Về con chung: Vợ chồng chị có 02 con chung Phạm Xuân T, sinh ngày 09/11/1997 và Phạm Ngọc L1, sinh ngày 04/6/1999, hiện đều đã trưởng thành, tự lập nên anh không đề nghị Tòa án giải quyết về con chung.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản, ruộng canh tác và công sức đóng góp trong thời gian ở chung: Anh không yêu cầu giải quyết.
Toà án tiến hành làm việc với bà Nguyễn Thị N – mẹ đẻ anh C, anh Phạm Xuân M – anh trai anh C và trưởng thôn Ngọc L2, kết quả xác định: Chị L và anh C kết hôn năm 1995 và về chung sống với nhau một thời gian thì ra ở riêng. Quá trình chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã đánh chửi nhau, nguyên nhân do vợ chồng ghen tuông không tin tưởng nhau, anh C cho rằng chị L có quan hệ bất chính với người đàn ông khác.
Tại phiên toà anh C vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên phát biểu:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đảm bảo theo quy định. Đối với những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật.
Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L được ly hôn anh Phạm Xuân C.
Về con chung, tài sản chung, công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về tố tụng:
Chị Nguyễn Thị L nộp đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn là anh Phạm Xuân C có nơi thường trú tại xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang, nên xác định quan hệ tranh chấp là “ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn anh Phạm Xuân C có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt anh C theo quy định khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị L về việc ly hôn với anh Phạm Xuân C thì thấy: Chị Nguyễn Thị L đăng ký kết hôn với anh Phạm Xuân C vào ngày 18/12/1995 tại UBND xã N, tỉnh Bắc Giang trên cơ sở tự nguyện, đảm bảo mọi điều kiện kết hôn nên đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình. Chị L xác định vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ năm 2020 do anh C không chung thuỷ, chửi bới đánh đập chị, vợ chồng vẫn sống chung nhưng không còn quan hệ tình cảm; anh C cũng thừa nhận vợ chồng mâu thuẫn từ năm 2023 do không có tiếng nói chung, thỉnh thoảng xảy ra xô xát, cãi vã, vợ chồng đã không còn quan hệ tình cảm một năm nay, anh đã cố gắng hàn gắn quan hệ hôn nhân nhưng không có kết quả. Lời khai của nguyên đơn và bị đơn phù hợp với kết quả xác minh tại địa phương, có căn cứ xác định chị L, anh C có mâu thuẫn và xảy ra cãi vã do vợ chồng ghen tuông và không tin tưởng nhau, không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của vợ chồng là phải yêu thương, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc nhau theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình. Nay chị L xin ly hôn, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng chị L, anh C đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận cho chị L ly hôn anh C là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình.
[3] Về con chung, tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản, ruộng canh tác, công sức đóng góp trong thời gian ở chung: Chị L, anh C không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[4] Về án phí: Chị L xin ly hôn nên phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại điều 271 và khoản 1 điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L được ly hôn anh Phạm Xuân C.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị L đã nộp theo biên lai số 0003299 ngày 11 tháng 12 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị L đã nộp đủ tiền án phí.
- Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trọng thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Mai Hương |
Bản án số 36/2025/HNGĐ-ST ngày 29/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn
- Số bản án: 36/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị L yêu cầu ly hôn anh C
