TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 36/2025/HNGĐ-ST Ngày 28-11-2025 “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11-ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Kim Oanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Liệp
- Ông Nguyễn Hoàng Minh
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Nhàn - Thư ký của HToà án nhân dân Khu vực 11-Đồng Tháp.
Ngày 28 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 11-Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 256/2025/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 11 năm 2025 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Nguyễn Thanh T, sinh năm 1978. Địa chỉ: Tổ A, ấp A, phường M, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị đơn: Võ Thị Mỹ P, sinh năm 1978. Địa chỉ: Số E, ấp C, xã B, tỉnh Đồng Tháp.
Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 24/10/2025 và đơn xin xét xử vắng mặt ngày 17/11/2025, anh Nguyễn Thanh T trình bày:
Về hôn nhân: Anh T và chị P tự nguyện tìm hiểu yêu thương nhau và được gia đình hai bên đồng ý tổ chức lễ cưới. Sau khi cưới, anh, chị chung sống đến nay nhưng chưa đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Quá trình chung sống đến năm 2011 thường xuyên phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, tính tình không phù hợp nên không còn hạnh phúc. Từ đó, mâu thuẩn trầm trọng hơn, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được và đã sống ly thân từ năm 2012 đến nay. Nay anh T yêu cầu được ly hôn với chị P.
Về nuôi con: Anh T và chị P có 02 người con chung tên Nguyễn Thị Mỹ K, sinh ngày 22/7/1999 và Võ Kiều Bảo H, sinh ngày 25/4/2012 (H hiện đang sống chung với chị P). Khi ly hôn, anh T đồng ý giao con tên H cho chị P tiếp tục nuôi dưỡng, anh T không tự nguyện cấp dưỡng nuôi con. Đối với người con tên Nguyễn Thị Mỹ K, sinh ngày 22/7/1999, đã trưởng thành, tự lao động sinh sống được nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về chia tài sản: Anh T xác định anh T và chị P không có tài sản chung.
Về nợ chung: Anh T xác định anh T và chị P không có nợ chung.
Văn bản ý kiến ngày 17/11/2025 và đơn xin xét xử vắng mặt ngày 17/11/2025 chị Võ Thị Mỹ P trình bày:
Về hôn nhân: Chị P thống nhất lời trình bày của anh T về quan hệ hôn nhân, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn vợ chồng. Từ khi chị và anh T sống chung đến nay vẫn chưa đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Đồng thời, cả hai sống ly thân từ năm 2012 đến nay. Nay chị P đồng ý ly hôn với anh T.
Về nuôi con: Chị P và anh T có 02 người con chung tên Nguyễn Thị Mỹ K, sinh ngày 22/7/1999 và Võ Kiều Bảo H, sinh ngày 25/4/2012 (H hiện đang sống chung với chị P). Khi ly hôn, chị P yêu cầu được nuôi con tên Bảo H, không yêu cầu anh T không cấp dưỡng nuôi con. Đối với người con tên Nguyễn Thị Mỹ K, sinh ngày 22/7/1999, đã trưởng thành, tự lao động sinh sống được nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về chia tài sản: Chị P xác định chị P và anh T không có tài sản chung.
Về nợ chung: Chị P xác định chị P và anh T không có nợ chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Anh T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con với chị P. Chị P có địa chỉ tại xã B, tỉnh Đồng Tháp. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật Hoà giải, Đối thoại tại Toà án; các Điều 3, 4 Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về việc thành lập Toà án nhân dân cấp Tỉnh, Toà án nhân dân khu vực; quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Toà án nhân dân cấp Tỉnh, Toà án nhân dân khu vực, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân Khu vực 11-Đồng Tháp.
[1.2] Nguyên đơn, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất đến tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt, có lý do. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành thủ tục xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về hôn nhân: Anh T và chị P tự nguyện tìm hiểu yêu thương nhau và sống chung với nhau như vợ chồng khoảng năm 1998 đến năm 2011 thì phát sinh mâu thuẫn, năm 2012 cả hai sống xa nhau cho đến nay. Trong thời gian sống chung, anh T và chị P có đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật hôn nhân và gia đình nhưng không đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để đăng ký kết hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình. Do đó, quan hệ hôn nhân của anh T và chị P là quan hệ hôn nhân không hợp pháp. Anh T yêu cầu xin ly hôn được chị P đồng ý phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình. Vì vậy, Hội đồng xét xử không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh T và chị P.
[2.2] Về nuôi con: Anh T và chị P có 02 con chung tên Nguyễn Thị Mỹ K, sinh ngày 22/7/1999 và Võ Kiều Bảo H, sinh ngày 25/4/2012.
Anh T và chị P thoả thuận thống nhất giao con chung tên Võ Kiều Bảo H cho chị P được tiếp tục nuôi dưỡng. Xét thấy, việc thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con giữa anh T và chị P phù hợp với Văn bản ý kiến ngày 17/11/2025 của cháu Võ Kiều Bảo H có nguyện vọng sống chung với chị P. Đồng thời, hiện nay cháu H đang sống chung với chị P, về thể chất và tinh thần phát triển tốt. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, công nhận sự thỏa thuận của anh T và chị P, giao cháu Bảo H cho chị P được tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị P không yêu cầu anh Trung cấp D nuôi cháu Bảo H, anh T không tự nguyện cấp dưỡng nuôi cháu Bảo H nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Đối với con chung tên Nguyễn Thị Mỹ K hiện nay đã trưởng thành, tự lao động sinh sống được. Anh T và chị P không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.3] Về chia tài sản: Anh T và chị P thống nhất trình bày trong quá trình chung sống anh, chị không có tài sản chung nên Hội đồng xét xử xác định không có.
[2.4] Về nợ chung: Anh T và chị P thống nhất trình bày anh, chị không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3] Về án phí: Anh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 của Luật số: 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật Hoà giải, Đối thoại tại Toà án; các Điều 3, 4 Nghị quyết số: 81/2025/UBTVQH15 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về việc thành lập Toà án nhân dân cấp Tỉnh, Toà án nhân dân khu vực; quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Toà án nhân dân cấp Tỉnh, Toà án nhân dân khu vực;
Căn cứ khoản 1 Điều 9; khoản 2 Điều 53; các Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Nguyễn Thanh T với chị Võ Thị Mỹ P.
Về nuôi con:
Giao con chung tên Võ Kiều Bảo H, sinh ngày 25/4/2012 cho chị Võ Thị Mỹ P được tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng (Bảo H hiện đang sống chung với chị P).
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Võ Thị Mỹ P không yêu cầu anh Nguyễn Thanh Trung cấp D nuôi con chung. Anh Nguyễn Thanh T không tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về chia tài sản: Không có.
- Về nợ chung: Không xem xét giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Anh Nguyễn Thanh T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0008198 ngày 17 tháng 11 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp. Anh T đã nộp xong tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
- Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA đã ký Huỳnh Kim Oanh |
Bản án số 36/2025/HNGĐ-ST ngày 28/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - ĐỒNG THÁP về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 36/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: LY HÔN (TRUNG-PHƯỢNG)
