Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 36/2025/HNGĐ-ST.

Ngày: 28-02-2025.

V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA,

TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phước Vinh.

Các Hội thẩm nhân dân:Ông Trần Chính.

Bà Vương Thị Khánh Loan.

Thư ký phiên tòa: Bà La Nguyễn Minh Thi – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Trương Tùng Sơn – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 2360/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 41/2025/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Tạ Thị T, sinh năm 1983; Nơi cư trú: Tổ A, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
  2. Bị đơn: Ông Đồng Văn P, sinh năm 1982; Nơi cư trú: Tổ A, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

(Bà T có mặt, ông P vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 04/10/2024, bản tự khai ngày 05/12/2024 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn bà Tạ Thị T trình bày:

Về hôn nhân: Bà và ông Đồng Văn P tự nguyện tìm hiểu, chung sống với nhau và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường phường T, thành phố B và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 178 quyển số 01.2003 ngày 17 tháng 10 năm 2003.

Quá trình vợ chồng chung sống hạnh phúc thời gian đầu, sau đó thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm. Mặc dù bà và ông V đã cố gắng hàn gắn tình cảm nhưng không có kết quả mà còn ngày càng trầm trọng và gay gắt hơn nữa. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Đồng Văn P.

Về con chung: Vợ chồng bà có 03 con chung tên Đồng Văn D, sinh ngày 30/12/2016; Đồng Thị Bích N, sinh ngày 24/02/2012 và Đồng Văn H, sinh ngày 07/03/2004. Sau khi ly hôn, bà T có nguyện vọng được nuôi cháu Đồng Văn D và cháu Đồng Thị Bích N, không yêu cầu ông Đồng Văn P cấp dưỡng nuôi con chung. Đối với cháu Đồng Văn H, hiện nay cháu H đã trên 18 tuổi, đủ tuổi trưởng thành và có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận và không yêu cầu giải quyết

Về nợ chung: Không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết, ông Đồng Văn P đã được Tòa án tiến hành triệu tập và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để ông P tham gia các phiên họp về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, phiên tòa xét xử nhưng ông P vẫn vắng mặt không có lý do nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông P. Do đó, Tòa án đã tiến hành lập biên bản về việc vắng mặt của ông Đồng Văn P để có cơ sở giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa.

  • - Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã thụ lý và giải quyết vụ án trong thời hạn luật định. Xác định đúng tư cách đương sự.
  • - Việc tuân theo quy định pháp luật của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án đảm bảo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
  • - Về việc tuân thủ pháp luật của các đương sự:

Bà Tạ Thị T thực hiện đúng các quy định về quyền của người khởi kiện, đã cung cấp những tài liệu chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình, tham gia các buổi làm việc, phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải theo đúng giấy triệu tập của Tòa án và có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa theo đúng quy định của pháp luật.

Ông Đồng Văn P trong quá trình giải quyết vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không chấp hành, vắng mặt không có lý do.

  • - Về đường lối giải quyết vụ án:

Về yêu cầu ly hôn của bà Tạ Thị T thì căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện ông Đồng Văn P và bà Tạ Thị T không còn quan tâm chăm sóc đến nhau, tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Tạ Thị T.

Về nuôi con chung: Vợ chồng bà Tạ Thị T, ông Đồng Văn P có 03 con chung tên Đồng Văn D, sinh ngày 30/12/2016; Đồng Thị Bích N, sinh ngày 24/02/2012 và Đồng Văn H, sinh ngày 07/03/2004. Sau khi ly hôn, bà T có nguyện vọng được nuôi cháu Đồng Văn D và cháu Đồng Thị Bích N, không yêu cầu ông Đồng Văn P cấp dưỡng nuôi con chung. Đối với cháu Đồng Văn H, hiện nay cháu H đã trên 18 tuổi, đủ tuổi trưởng thành và có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà Tạ Thị T giao con chung là cháu Đồng Văn D, sinh ngày 30/12/2016 và cháu Đồng Thị Bích N, sinh ngày 24/02/2012 cho bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng vì hiện các cháu đang ở với bà T, do bà T trực tiếp nuôi dưỡng; Về phần ông Đồng Văn P thì không đến Tòa làm việc, không thể hiện ý kiến về vấn đề con chung, không cung cấp các tài liệu chứng minh đủ điều kiện nuôi dưỡng con chung. Đối với yêu cầu cấp dưỡng do bà Tạ Thị T không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Về án phí: Bà Tạ Thị T phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Tạ Thị T khởi kiện yêu cầu được ly hôn, tranh chấp nuôi con với ông Đồng Văn P; đồng thời Công an phường T, thành phố B xác định ông Đồng Văn P có sinh sống tại địa chỉ tổ A, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Do đó, căn cứ các Điều 28, 35 và 39 Bộ luật tố tụng dân sự xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.

Ông Đồng Văn P là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án triệu tập và tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ để tham gia phiên họp về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo đúng quy định của pháp luật nhưng ông P vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án không thể tiến hành hòa giải các bên đương sự được.

Ông Đồng Văn P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt nên căn cứ vào các Điều 207, 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về hôn nhân: Bà Tạ Thị T và ông Đồng Văn P có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường phường T, thành phố B và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 178 quyển số 01.2003 ngày 17 tháng 10 năm 2003 nên công nhận là hôn nhân hợp pháp.

Theo trình bày của bà Tạ Thị T thì quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc thời gian đầu, sau đó thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm. Mặc dù bà và ông Đồng Văn P đã cố gắng hàn gắn tình cảm nhưng không có kết quả mà còn ngày càng trầm trọng và gay gắt hơn nữa. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Đồng Văn P.

Về phần ông Đồng Văn P thì Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, triệu tập cho ông P để làm việc, hòa giải đoàn tụ, đồng thời để ông P có ý kiến về yêu cầu ly hôn của bà Tạ Thị T. Tuy nhiên, ông P không lên Tòa để làm việc, không có văn bản trình bày ý kiến chứng tỏ ông P không còn quan tâm đến bà T, cũng như không có ý định hàn gắn tình cảm vợ chồng.

Tại Biên bản xác minh ngày 18/12/2024, thì ông Lê Thanh X là trưởng khu phố D, phường T xác định vợ chồng ông Đồng Văn P, bà Tạ Thị T trong quá trình chung sống có mâu thuẫn gì không thì địa phương không rõ do vợ chồng ông P, bà T không trình báo hay nhờ chính quyền địa phương giải quyết mâu thuẫn.

Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy vợ chồng ông Đồng Văn P, bà Tạ Thị T đã có nhiều mâu thuẫn, sống ly thân, không còn sự tin tưởng, tôn trọng, quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị N1, giải quyết cho bà Tạ Thị T được ly hôn với ông Đồng Văn P là phù hợp.

[3] Về nuôi con chung: Vợ chồng ông Đồng Văn P, bà Tạ Thị T có 03 con chung tên Đồng Văn D, sinh ngày 30/12/2016; Đồng Thị Bích N, sinh ngày 24/02/2012 và Đồng Văn H, sinh ngày 07/03/2004. Khi ly hôn bà T có có nguyện vọng được nuôi cháu Đồng Văn D và cháu Đồng Thị Bích N, không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con chung. Còn cháu Đồng Văn H hiện nay đã trên 18 tuổi và có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với yêu cầu giải quyết việc nuôi con chung thì hiện cháu Đồng Văn D và cháu Đồng Thị Bích N đang do bà T trực tiếp chăm sóc, các cháu vẫn đang phát triển bình thường, đồng thời các cháu cũng có nguyện vọng được ở cùng bà T. Trong khi ông Đồng Văn P không lên tòa làm việc để có ý kiến về con chung, không cung cấp các tài liệu chứng minh đủ điều kiện nuôi dưỡng con chung. Do đó để đảm bảo cho sự phát triển bình thường, tránh gây xáo trộn về mặt tâm sinh lý của các cháu, cần giao con chung cho bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng, do bà Tạ Thị T không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra xem xét.

Sau khi ly hôn, ông Đồng Văn P được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

[4] Về chia tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.

[5] Về án phí: Bà Tạ Thị T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

[6] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thành phố Biên Hòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39 và các Điều 147, 207, 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 9, 10, 11, 12 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; các Điều 5, 8, 9, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Áp dụng Điều 27; tiểu mục 1.1 mục 1 phần II (Danh mục án phí) Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Bà Tạ Thị T được ly hôn với ông Đồng Văn P.
  2. Về nuôi con chung: Giao con chung tên Đồng Văn D, sinh ngày 30/12/2016 và Đồng Thị Bích N, sinh ngày 24/02/2012 cho bà Tạ Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm thời ông Đồng Văn P không phải cấp dưỡng nuôi con.

Ông Đồng Văn P được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở. Vì quyền lợi của các con, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng.

  1. Về chia tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.
  2. Về án phí sơ thẩm: Bà Tạ Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0004288 ngày 18/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa. Bà Tạ Thị T đã nộp xong.
  3. Về quyền kháng cáo: Bà Tạ Thị T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Đồng Văn P vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Đương sự (02);
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai (01);
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP. Biên Hòa (01);
  • - Chi cục Thi hành án dân sự TP. Biên Hòa (01);
  • - UBND phường Tân Biên, TP. Biên Hòa (01);
  • - Lưu hồ sơ, Văn phòng (3).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Phước Vinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 36/2025/HNGĐ-ST ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 36/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger