Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ B

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 36/2025/HNGĐ-ST

Ngày 27/6/2025.

V/v: Ly hôn, nuôi con giữa chị Nguyễn

Thị hồng Hạnh và anh Trần Anh Tuấn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH LÂM ĐỒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đức Công.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Xuân Tỵ và bà Nguyễn Thị Hạnh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Dự - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 67/2025/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 02 năm 2025, về “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2025/QĐXX-ST ngày 02 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hồng H, sinh năm 1986; địa chỉ: Số C đường L, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
  2. Bị đơn: Anh Trần Anh T, sinh năm 1981; địa chỉ: Số F đường T, Phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 19/02/2025, các lời khai trong qúa trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hồng H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Anh T kết hôn với nhau vào ngày 17/7/2006, có đăng ký tại UBND thị trấn Đ, tỉnh Lâm Đồng. Kết hôn tự nguyện, không ai bị ép buộc. Trước khi kết hôn có thời gian tìm hiểu được khoảng 01 năm. Quá trình sống chung, vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng 18 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, anh T đánh đập chị nhiều lần, chị đã nhiều lần tha thứ và bỏ qua cho anh T1 mong muốn con có cha, có mẹ nhưng tình cảm vợ chồng không hàn gắn được. Vợ chồng đã sống ly thân từ ngày đầu năm 2025 cho đến nay, mỗi người ở một nơi, không ai còn quan tâm, chăm

sóc nhau. Tình cảm vợ chồng không còn nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Trần Anh T2

- Về con chung: Có 02 con chung có họ và tên là Trần Lê Nguyễn Thiên N, sinh ngày 10/02/2007 (hiện nay đang ở với anh T6 Trần Lê Hoàng M, sinh ngày 12/10/2020 (hiện nay đang ở với chị H). Khi ly hôn, nguyện vọng của chị yêu cầu được nuôi con chung Trần Lê Hoàng M cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Công việc của chị hiện là nhân viên chăm sóc khách hàng thu nhập ổn định hơn 9.000.000 đồng/01 tháng, đủ điều kiện nuôi con nên không yêu cầu anh Tcấp D nuôi con. Con chung Trần Lê Nguyễn Thiên N đã trưởng thành, không thuộc trường hợp cấp dưỡng nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại các lời khai trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa bị đơn anh Trần Anh T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị Hồng H kết hôn với nhau vào ngày 17/7/2006, có đăng ký tại UBND thị trấn Đ, tỉnh Lâm Đồng. Kết hôn tự nguyện, không ai bị ép buộc. Trước khi kết hôn có thời gian tìm hiểu được khoảng hơn 01 năm. Quá trình sống chung, vợ chồng sống không hạnh phúc, phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn được. Vợ chồng đã sống ly thân từ đầu năm 2025 cho đến nay, mỗi người ở một nơi, không ai còn quan tâm chăm sóc nhau nữa. Nay chị H yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thì anh hoàn toàn đồng ý.

- Về con chung: Có 02 con chung có họ là tên Trần Lê Nguyễn Thiên N, sinh ngày 10/02/2007 (hiện nay đang ở với anh T6 Trần Lê Hoàng M, sinh ngày 12/10/2020 (hiện nay đang ở với chị H). Khi ly hôn, anh có nguyện vọng được nuôi con chung Trần Lê Hoàng M cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Anh là tài xế chạy xe ô tô dịch vụ, thu nhập bình quân 30.000.000 đồng/01 tháng, đủ điều kiện nuôi con, không yêu cầu chị H1 dưỡng. Con chung Trần Lê Nguyễn Thiên N đã trưởng thành, không thuộc trường hợp cấp dưỡng nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm nhân dân thành phố B tại phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án như sau: Thực hiện đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng dân sự quy định, Viện kiểm sát không kiến nghị gì.

Về giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 144, 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Áp dụng Điều 51, 55, 56, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về ... án phí và lệ phí Tòa án.

Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu ly hôn, ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị H và anh T2

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung có họ là tên Trần Lê Nguyễn Thiên N, sinh ngày 10/02/2007 (hiện nay đang ở với anh T6 Trần Lê Hoàng M, sinh ngày 12/10/2020 (hiện nay đang ở với chị H). Xét thấy, cháu M1 chung sống với chị H, cháu M2 con gái vẫn phát triển bình thường nên việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu M3 tốt hơn. Đối với anh T3 tài xế lái xe ô tô thường đi từ 01 giờ 00 phút sáng đến 17 giờ 00 phút chiều mới về nên việc chăm sóc, nuôi dưỡng cháu M3 khó khăn hơn. Vì vậy, giao con chung tên là Trần Lê Hoàng M cho chị H nuôi dưỡng cho đến tuổi thành niên, chị H2 điều kiện nuôi con nên không yêu cầu anh T4 dưỡng nên ghi nhận. Con chung Trần Lê Nguyễn Thiên N đã trưởng thành, không thuộc trường hợp cấp dưỡng nên không xem xét giải quyết.

Buộc chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về pháp luật tố tụng:

1.1. Chị Nguyễn Thị Hồng H và anh Trần Anh T kết hôn với nhau vào ngày ngày 17/7/2006, có đăng ký tại UBND thị trấn Đ, tỉnh Lâm Đồng. Chị H yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn và nuôi con đối với anh Trần A T. Căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định quan hệ tranh chấp về: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

1.2. Bị đơn anh Trần Anh T, ở địa chỉ: Số F đường T, Phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Căn cứ khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng thụ lý, giải quyết theo thủ tục sơ thẩm.

[2] Về nội dung tranh chấp:

2.1. Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị Hồng H và anh Trần Anh T xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Tại phiên tòa chị Nguyễn Thị Hồng H và anh Trần Anh T đều xác định: Tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không hạnh phúc, đã sống ly thân và đều yêu cầu Tòa án cho ly hôn.

Tại văn bản ý kiến của bà Lê Thị H3, có mối quan hệ là mẹ ruột của chị H4 mẹ vợ của anh Trần Anh T, có nội dung: Trong quá trình chung sống bà thấy con gái Nguyễn Thị Hồng H4 con rể Trần Anh T5 xuyên cãi vã, đánh nhau. Với tư cách của người mẹ bà đã khuyên con gái cố gắng sống vì con nhưng bà thấy con gái bà bị đánh đập thường xuyên, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, không thể hàn gắn được. Nay bà đề nghị Tòa án giải quyết cho chị H được ly hôn với anh T2

Tại văn bản ngày 05/6/2025 của chị Trần Lê Nguyễn Thiên N có mối quan hệ là con gái ruột của chị H anh T, có nội dung:

Chị là con ruột của anh Trần Anh T6 chị Nguyễn Thị Hồng H5 mẹ có đăng ký kết hôn và chung sống đúng như bố mẹ tôi trình bày là đúng. Về tình trạng hôn nhân

của bố mẹ, chị thấy đã trầm trọng, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn cãi nhau, đánh đập nhau. Trong cuộc sống ba chị là người trụ cột gia đình, chạy xe để kiếm tiền nuôi con cái ăn học nhưng mẹ chị lại dùng hết số tiền này không lo chu toàn mà thay vào đó đã chi tiêu cho sở thích cá nhân. Mẹ chị dùng những lời lẽ không hay để chửi mắng chị, xúc phạm ba và bà nội. Tiền sinh hoạt trong gia đình do ba chị làm ra đều đưa về, mẹ làm ra tiền thì giữ riêng cho bản thân. Mẹ chị đã bỏ nhà đi nhiều lần, vì nghĩ thương con, cháu nên bà nội níu kéo, cầu xin mẹ quay về nhưng sau đó ba chị buông bỏ không níu kéo nữa mà tập trung vào việc làm ăn lo cho cuộc sống cho các con. Khi mẹ chị chung sống với gia đình thì mẹ chị chưa từng đối xử tốt với chị, ba và bà nội, chị đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Xét hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Hồng H và anh Trần Anh T lâm vào trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vợ chồng chị Nguyễn Thị Hồng H, anh Trần Anh T đã sống ly thân nhưng không có giải pháp để hàn gắn đoàn tụ gia đình, chị H4 anh T7 yêu cầu được ly hôn. Vì vậy, áp dụng Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Hồng H và anh Trần A T2

2.2. Về con chung: Vợ chồng chị H, anh T có 02 con chung có họ và tên là Trần Lê Nguyễn Thiên N, sinh ngày 10/02/2007 (hiện nay đang ở với anh T6 Trần Lê Hoàng M, sinh ngày 12/10/2020 (hiện nay đang ở với chị H), chị H4 anh T7 có nguyện vọng yêu cầu được nuôi cháu MXét thấy, cháu M1 chung sống với chị H, cháu M2 con gái vẫn phát triển bình thường nên việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu M4 chị H6 tốt hơn. Đối với anh T3 tài xế lái xe ô tô thường xuyên đi từ 01 giờ 00 phút sáng đến 17 giờ 00 phút chiều nên việc chăm sóc, nuôi dưỡng cháu M3 khó khăn hơn. Vì vậy, giao con chung Trần Lê Hoàng M cho chị H nuôi dưỡng là phù hợp. Chị H7 là nhân viên chăm sóc khách hàng thu nhập ổn định bình quân một tháng hơn 9.000.000 đồng, đủ điều kiện nuôi con nên chị H8 yêu cầu anh T4 dưỡng nên ghi nhận.

2.3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị H4 anh T trình bày, không có nên không xem xét.

[3] Từ những phân tích, căn cứ pháp luật nêu trên, kết luận: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng H về “Ly hôn, về nuôi con” đối với bị đơn ông Trần A T.

[4] Xét ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B tại phiên tòa về việc tuân theo pháp luật và giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[4] Về án phí: Chị Nguyễn Thị Hồng H phải án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 144, 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Áp dụng Điều 51, 55, 56, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về ...án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng H về “Ly hôn và về nuôi con” đối với bị đơn ông Trần A T.
  2. Về quan hệ hôn nhân: Ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Hồng H và anh Trần A T.
  3. Về con: Giao 01 con chung tên là Trần Lê Hoàng M, sinh ngày 12/10/2020 (hiện nay đang chung sống với chị H) cho chị Nguyễn Thị Hồng H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến tuổi thành niên. Chị Nguyễn Thị Hồng H đủ điều kiện nuôi con nên không yêu cầu anh Trần Anh T cấp dưỡng.
  4. Quyền và nghĩa vụ đối với con chung, các bên đương sự được thực hiện theo quy định của pháp luật. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi. Người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con, chăm sóc và giáo dục mà không ai được cản trở. Khi cần thiết vì lợi ích mọi mặt của con, các bên có quyền làm đơn yêu cầu về thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.

  5. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Hồng H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (ly hôn) là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0009364 ngày 24/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng. Chị Nguyễn Thị Hồng H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
  6. Quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
  7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • + Các đương sự;
  • + VKSND Tp. B;
  • + TAND tỉnh Lâm Đồng;
  • + Chi cục T.H.A.DS. Tp. B;
  • + UBND thị trấn Da Mr'ri, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng;
  • + Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Đức Công

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 36/2025/HNGĐ-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH LÂM ĐỒNG về ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 36/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị H yêu cầu được ly hôn với anh T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger