Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THANH HOÁ

TỈNH THANH HÓA

—————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————

Bản án số: 36/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 27/5/2025

V/v tranh chấp hôn nhân

và gia đình.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ

—————

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trịnh Thị Dung.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Mai Thị Tiếp.
Bà Nguyễn Thị Thưởng.
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Đặng Thị Tố Quyên - Thư ký Tòa án nhân dân TP Thanh Hoá
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quang - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Thanh Hoá mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 183/2025/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 3 năm 2025 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 85/2025/QĐXX-ST ngày 05 tháng 5 năm 2025 và quyết định hoãn phiên toà số 97/QĐST-HNGĐ ngày 21/5/2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị C, sinh năm 1985 . CCCD số [...].

Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Thôn T xã Đ, Thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

- Bị đơn: Anh Lê Thành T, sinh năm 1983. CCCD số [...].

Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Thôn T xã Đ, Thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

Địa chỉ liên hệ: Công ty Cổ phần B – Lô J đường số A cụm C, thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.

Các đương sự vắng mặt và đều có đơn xin xét xử vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn là chị Lê Thị C trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Lê Thành T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện có tổ chức cưới và đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa (nay là xã Đ, thành phố T) vào ngày 22/02/2005. Sau khi cưới vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì đến năm 2015 phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được. Hai vợ chồng chị đã ly thân từ năm 2015 đến nay.

Nay chị xét thấy tình cảm giữa chị và anh T không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Thành T.

Về con chung: Vợ chồng chị có 01 con chung là: cháu Lê Thành T1 – sinh ngày 02/4/2009. Ly hôn chị đề nghị được nuôi cháu Lê Thành T1 và không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về tài sản chung và công nợ: Vợ chồng chị không có tài sản chung và công nợ chung nên không yêu cầu toà án giải quyết.

Bị đơn là anh Lê Thành T trình bầy tại bản tự khai ngày 24/3/2025:

Về hôn nhân: Anh và chị Lê Thị C kết hôn vào năm 2005, đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ huyện Đ tỉnh Thanh Hóa. Quá trình chung sống vợ anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn, hai vợ chồng đã ly thân từ năm 2015. Nay anh xét thấy tình cảm vợ chồng cũng không còn nên anh đồng ý ly hôn với chị Lê Thị C.

Về con chung: Vợ chồng anh có 01 con chung là cháu Lê Thành T1 – sinh ngày 02/4/2009. Ly hôn anh đồng ý để chị C nuôi con. Anh không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và công nợ: Vợ chồng anh không có tài sản chung và công nợ chung nên không yêu cầu toà án giải quyết.

* Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Lê Thành T theo quy định của pháp luật, nhưng anh T chỉ gửi cho toà án bản tự khai, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải.

Toà án đã tiến hành thu thập chứng cứ và xác minh tại địa phương như sau: Chị Lê Thị C và anh Lê Thành T có đăng ký hộ khẩu tại thôn T xã Đ, Thành phố T là vợ chồng có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Về mâu thuẫn trong gia đình của vợ chồng anh chị chính quyền địa phương cũng không nắm được. Về con chung: Vợ chồng anh T, chị C có một con chung là cháu 01 con chung là cháu Lê Thành T1 – sinh ngày 02/4/2009. Về tài sản công nợ của vợ chồng anh T, chị C chính quyền địa phương không nắm được, đề nghị Tòa án căn cứ các quy định của pháp luật giải quyết.

Tại phiên tòa chị C, anh T đều có đơn xin xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên các ý kiến trong đơn khởi kiện cũng như bản tự khai, không bổ sung thêm nội dung nào khác.

Đại diện VKS phát biểu ý kiến trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn đã chấp hành đúng nhưng bị đơn chưa chấp hành đúng, đầy đủ các quy định về quyền, nghĩa vụ đương sự. Tại phiên toà nguyên đơn và bị đơn đều có đơn xin xử vắng mặt nên đề nghị Tòa án căn cứ vào khoản 1 Điều 228 BLTTDS để xét xử vắng mặt các đương sự.

Về nội dung vụ án: căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 144, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, đề nghị HĐXX chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lê Thị C, xử cho chị C được ly hôn với anh Lê Thành T. Về con chung: giao cháu Lê Thành T1 – sinh ngày 02/4/2009 cho mẹ là chị Lê Thị C trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản và công nợ: hai bên không yêu cầu tòa án giải quyết nên không xem xét. Về án phí: chị Lê Thị C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về thẩm quyền: Chị Lê Thị C yêu cầu ly hôn, giải quyết con chung với anh Lê Thành T nên xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; anh Lê Thành T có đăng ký hộ khẩu thường trú tại Thôn T xã Đ, Thành phố T, tỉnh Thanh Hóa nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hóa theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

    [1.2] Về sự có mặt, vắng mặt của các đương sự: Chị Lê Thị C và anh Lê Thành T đã được tống đạt hợp lệ các thông báo, quyết định tố tụng. Anh T và chị C đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 228; của Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

  2. Xét nội dung khởi kiện của chị Lê Thị C:

    [2.1]. Về hôn nhân: Chị Lê Thị C và anh Lê Thành T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện có tổ chức cưới và đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa (nay là xã Đ, thành phố T) vào ngày 22/02/2005 là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình.

    Theo chị C và anh T trình bày tại các bản tự khai và đơn khởi kiện: sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2015 thì anh chị phát sinh mâu thuẫn trầm trọng nên đã sống ly thân từ năm 2015 đến nay không ai quan tâm đến ai, hai anh chị đã chấm dứt quan hệ về tình cảm và kinh tế. Nay chị C và anh T đều xác định mâu thuẫn giữa hai vợ chồng đã rất trầm trọng không thể khắc phục được; cuộc sống chung không hạnh phúc; mục đích hôn nhân không đạt được Vì vậy, HĐXX căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị C, cho chị Lê Thị C được ly hôn anh Lê Thành T

    [2.2]. Về con chung: Chị C và anh T có một con chung là cháu Lê Thành T1 – sinh ngày 02/4/2009. Từ khi anh chị sống ly thân năm 2015 đến nay thì cháu Lê Thành T1 ở cùng mẹ, chị C hiện là người trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc cháu. Quá trình giải quyết vụ án, chị C có nguyện vọng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T1 và không yêu cầu anh Lê Thành T phải cấp dưỡng nuôi con chung. Tại bản tự khai, anh T cũng đồng ý giao cháu Lê Thành T1 cho mẹ là chị C trực tiếp nuôi dưỡng.

    Tại bản tự khai ngày 14/4/2025, cháu Lê Thành T1 có nguyện vọng được ở cùng với mẹ.

    Sau khi ly hôn cha, mẹ đều có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Nguyện vọng của chị C mong muốn được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T1. Hội đồng xét xử xét thấy, để đảm bảo sự phát triển tốt nhất của con chung, căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ, sự trình bày của các đương sự và nguyện vọng của cháu thì giao cháu Lê Thành T1 cho chị Lê Thị C được trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp, đảm bảo tốt nhất quyền lợi của con, phù hợp với quan điểm, nguyện vọng của anh chị và con, phù hợp quy định tại Điều 81, 82 Luật HN&GĐ .

    Anh T và chị C đều không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

    [2.3]. Về tài sản chung và công nợ: Chị C không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

  3. Về án phí: Chị C là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, được trừ vào tiền tạm ứng án phí chị đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Cho chị Lê Thị C ly hôn anh Lê Thành T
  2. Về nuôi con chung: Giao cháu Lê Thành T1 – sinh ngày 02/4/2009 cho mẹ là chị Lê Thị C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; anh T không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ đối với con chung. Anh Lê Thành T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
  3. Về tài sản, công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên hội đồng xét xử không xem xét.
  4. Về án phí: Chị Lê Thị C phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí sơ thẩm chị C đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002299, ngày 06 tháng 3 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Thanh Hóa. Chị C đã nộp đủ án phí.
  5. Về quyền kháng cáo: Chị Lê Thị C, anh Lê Thành T có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự./

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND Thành phố Thanh Hoá;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Chi cục THADS Thành phố Thanh Hoá;
  • - UBND xã Đông Khê, TP Thanh Hoá;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Đã ký

Trịnh Thị Dung

5

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 36/2025/HNGĐ-ST ngày 27/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 36/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger