TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 36/2025/HNGĐ-ST Ngày: 25 / 5 / 2025 “V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Ngọc.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Phạm Công Đợi;
- 2. Ông Huỳnh Mộc Khải.
- Thư ký phiên toà: Bà Huỳnh Ngọc Thảo, Thư ký Toà án tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Kim Loan, Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 310/2024/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10/4/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 65/2025/QĐST-HNGĐ ngày 29/4/2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị M, sinh năm 1994; địa chỉ: khu dân cư K, tổ A, ấp M, xã V, thành phố C, tỉnh An Giang.
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1988; địa chỉ: khu dân cư K, tổ A, ấp M, xã V, thành phố C, tỉnh An Giang.
Bà M và ông H vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án bà Huỳnh Thị M trình bày:
Vào năm 2011, bà Huỳnh Thị M và ông Nguyễn Văn H tự tìm hiểu, quen biết và tổ chức lễ cưới, đến năm 2012 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, thành phố C, tỉnh An Giang.
Vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do ông H không lo làm ăn mà chỉ biết ăn nhậu, cờ bạc. Khi vợ nhắc nhở thì kiếm chuyện chửi bới, đập phá đồ đạc trong gia đình. Trước đây cũng có gửi đơn đến Tòa án xin ly hôn nhưng cũng tạo điều kiện cho ông H sửa đổi nên rút lại đơn kiện ly hôn. Tuy nhiên, đến nay ông H vẫn không thay đổi tính tình, cứ tiếp tục ăn nhậu rồi quậy phá, bỏ nhà đi không ngủ lại nhà và hiện nay ông H có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác. Nhận thấy, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên yêu cầu ly hôn với ông H.
Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, bà M và ông H có 02 con chung tên Nguyễn Huỳnh Trọng P, sinh ngày 07/11/2011 và Nguyễn Huỳnh Anh T, sinh ngày 16/7/2016. Bà M yêu cầu được nuôi dạy 02 con chung, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn ông Nguyễn Văn H đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.
Tại phiên tòa,
Chủ tọa công bố lại lời khai của nguyên đơn, các tài liệu chứng cứ do Tòa án thu thập.
* Ý kiến Kiểm sát viên:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án: Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử Thẩm phán đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu trong hồ sơ thể hiện: Bà M và ông H tự tìm hiểu, tiến đến hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn, nên được xem là hôn nhân hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng. Vợ chồng phải có nghĩa vụ yêu thương, chung thủy, quan tâm chăm sóc, giúp đỡ, cùng nhau chia sẻ các công việc trong gia đình và sống chung với nhau. Tuy nhiên, qua lời trình bày của bà M cho rằng, giữa vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do ông H không lo làm ăn, chỉ ăn nhậu, cờ bạc, khi nói đến thì kiếm chuyện chửi bới, đập phá đồ đạc trong gia đình. Năm 2023, bà M có gửi đơn ly hôn tại Tòa án, sau đó rút lại đơn ly hôn vì cho ông H cơ hội hàn gắn tình cảm nhưng đến nay giữa bà và ông H không còn tiếng nói chung, cứ xảy ra mâu thuẫn. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2024 đến nay.
Đồng thời, thông qua biên bản xác minh ông H có đăng ký thường trú tại tổ A, ấp M, xã V, thành phố C, tỉnh An Giang. Hiện nay, ông H không còn sinh sống tại địa phương, đã bỏ đi từ tháng 08/2024 đến nay không biết đi đâu làm gì. Do đó, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án thụ lý giải quyết cũng đã thông báo thời gian, địa điểm giải quyết việc ly hôn của bà M và ông H trên thông tin đại chúng theo quy định tại Điều 180 BLTTDS năm 2015. Nhưng đến nay ông H cũng không có ý kiến gì về yêu cầu ly hôn của bà M.
Từ đó cho thấy, tình cảm vợ chồng giữa bà M và ông H đã không còn, có kéo dài cuộc hôn nhân thì mục đích hôn nhân cũng không đạt nên nguyên đơn bà M yêu cầu ly hôn với bị đơn ông H là có căn cứ chấp nhận.
Về con chung: Bà M và ông H hai con chung tên Nguyễn Huỳnh Trọng P, sinh ngày 07/11/2011 và Nguyễn Huỳnh Anh T, sinh ngày 16/7/2016. Hiện hai con chung đang sống cùng với bà M. Bà M có yêu cầu được tiếp tục nuôi dạy con chung. Xét, để đảm bảo cuộc sống ổn định cũng như phù hợp nguyện vọng của các cháu nên giao con chung cho bà M nuôi dạy là phù hợp. Ghi nhận sự tự nguyện của bà M không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà M không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập.
Đề nghị căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị M được ly hôn với ông Nguyễn Văn H; Bà M được nuôi dạy hai con chung tên Nguyễn Huỳnh Trọng P, sinh ngày 07/11/2011 và Nguyễn Huỳnh Anh T, sinh ngày 16/7/2016; Ông H không cấp dưỡng nuôi con chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
* Về tố tụng:
[1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn bà Huỳnh Thị M khởi kiện yêu cầu ly hôn ông Nguyễn Văn H ông H có đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ A, ấp M, xã V, thành phố C, tỉnh An Giang. Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn bà Huỳnh Thị M có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn ông Nguyễn Văn H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Do đó, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà M và ông H theo quy định tại khoản 1 và các điểm a, b khoản 2 Điều 227; các khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
* Về nội dung:
[3] Về quan hệ hôn nhân: Năm 2011, bà Huỳnh Thị M và ông Nguyễn Văn H tự tìm hiểu, quen biết nhau và tổ chức lễ cưới, đến năm 2012 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, thành phố C, tỉnh An Giang; số 42/2012, quyền số 01/2011 ngày 23/7/2012 nên được xem là hôn nhân hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng.
Bà M cho rằng, giữa vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do ông H không lo làm ăn, chỉ ăn nhậu, cờ bạc, khi nhắc nhở thì kiếm chuyện chửi bới, đập phá đồ đạc trong gia đình. Năm 2023, bà M có gửi đơn ly hôn tại Tòa án, sau đó rút lại đơn ly hôn vì cho ông H cơ hội hàn gắn tình cảm nhưng đến nay vợ chồng không còn tiếng nói chung, cứ xảy ra mâu thuẫn, ông H đã bỏ nhà đi đâu không rõ và hiện vợ chồng không còn sống chung từ năm 2024. Nhận thấy, vợ chồng không thể hàn gắn tình cảm nên yêu cầu ly hôn ông H.
Theo kết quả xác minh ngày 01/11/2024, Công an xã V cho biết ông Nguyễn Văn H có đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ A, ấp M, xã V, C, An Giang. Hiện nay, ông H không còn sinh sống tại địa phương, đã bỏ địa phương đi từ khoảng tháng 8/2024 đến nay, không biết đi đâu và làm gì.
Ngày 05, 07 và 12/3/2025, Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang cũng đã đăng Thông báo trên B để ông Nguyễn Văn H được biết việc bà Huỳnh Thị M yêu cầu ly hôn và thời gian, địa điểm Tòa án tiến hành các giai đoạn tố tụng.
Xét, vợ chồng phải có nghĩa vụ yêu thương, chung thủy, quan tâm chăm sóc, giúp đỡ, cùng nhau chia sẻ các công việc trong gia đình và sống chung với nhau. Vợ chồng M, H phát sinh mâu thuẩn trong cuộc sống chung, ông H bỏ nhà đi từ tháng 8/2024 cho đến nay không trở về; đồng thời, năm 2023 bà M cũng đã rút yêu cầu ly hôn tại Tòa án để vợ chồng có cơ hội hàn gắn nhưng vẫn tiếp tục mâu thuẫn, cải vã và sống xa nhau. Quá trình Tòa án Châu Đốc thụ lý giải quyết cũng đã thông báo thời gian, địa điểm giải quyết việc ly hôn của bà Huỳnh Thị M và ông Nguyễn Văn H trên thông tin đại chúng nhưng đến nay ông H cũng không đến Tòa án. Nhận thấy, mâu thuẫn giữa bà M và H là trầm trọng, các bên không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau và tình cảm đối với nhau cũng không còn, ông H bỏ nhà đi không lo lắng hay quan tâm chăm sóc đến gia đình con cái. Nếu kéo dài cuộc hôn nhân cũng không đạt được mục đích, gia đình không còn hạnh phúc nên việc bà M yêu cầu ly hôn với ông H là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[4] Về con chung: Bà Huỳnh Thị M và ông Nguyễn Văn H 02 con chung tên Nguyễn Huỳnh Trọng P, sinh ngày 07/11/2011 và Nguyễn Huỳnh Anh T, sinh ngày 16/7/2016. Bà M yêu cầu được nuôi dạy 02 con chung, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung.
Theo biên bản ghi lời khai cháu Nguyễn Hoàng Anh T1 và Nguyễn Hoàng Trọng P1 đều có nguyện vọng sống cùng với bà M nếu Tòa án giải quyết cho cha mẹ ly hôn.
Xét, hiện tại các cháu Anh T1 và Trọng P1 đang sống cùng bà M, ông H đã bỏ nhà đi khỏi địa phương và cũng không có ý kiến, bà M có yêu cầu được tiếp tục nuôi con cũng phù hợp với nguyện vọng của các cháu. Do đó, để đảm bảo cuộc sống ổn định cũng như phù hợp nguyện vọng của các cháu nên yêu cầu nuôi dạy con chung của bà M có căn cứ chấp nhận theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Bà Huỳnh Thị M là người trực tiếp nuôi con chung nhưng không yêu cầu ông Nguyễn Văn H cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét đến.
Bà Huỳnh Thị M cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông Nguyễn Văn H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Huỳnh Thị M không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét đến.
[6] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Huỳnh Thị M phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí mà bà M đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004024 ngày 09/10/2024. Bà Huỳnh Thị M đã nộp đủ án phí.
Ông Nguyễn Văn H không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị M.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị M được ly hôn với ông Nguyễn Văn H.
- Về con chung: Bà Huỳnh Thị M được nuôi dạy các con chung tên Nguyễn Huỳnh Trọng P, sinh ngày 07/11/2011 và Nguyễn Huỳnh Anh T, sinh ngày 16/7/2016.
Bà Huỳnh Thị M cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông Nguyễn Văn H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
- Về án phí sơ thẩm: Bà Huỳnh Thị M phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí mà bà Mụi A đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004024 ngày 09/10/2024. Bà Huỳnh Thị M đã nộp đủ án phí.
Ông Nguyễn Văn H không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Thời hạn kháng cáo của bà Huỳnh Thị M và ông Nguyễn Văn H là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Thanh Ngọc |
Bản án số 36/2025/HNGĐ-ST ngày 25/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn
- Số bản án: 36/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: HN Mụi - Hoàng
