|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC TỈNH ĐẮK LẮK Bản án số: 36/2025/HNGĐ-ST Ngày: 24-6-2025 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Phạm Thị Huyền Trang.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Lan, bà Trịnh Thị Oanh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Hoà Bình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thuỷ - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Krông Pắc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 98/2025/TLST - HNGĐ, ngày 10 tháng 3 năm 2025 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 20/5/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 25/2025/QĐST-HNGĐ ngày 06/6/2025 giữa:
- Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Kim L, sinh năm 1987.
Trú tại: Thôn 2A, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, có mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn K, sinh năm 1979.
Trú tại: Thôn 2A, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn bà Bùi Thị Kim L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Vợ chồng ông bà sau một thời gian quen biết, tìm hiểu và yêu thương nhau tự nguyện thì quyết định tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H vào ngày 20/8/2006.
Sau khi về chung sống với nhau theo bà L thời gian đầu vợ chồng ông bà sống hạnh phúc, đến năm 2020 vợ chồng ông bà xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân chính là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng về quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung. Ông K không quan tâm đến gia đình. Vợ chồng ông bà đã sống ly thân từ năm 2024 cho đến nay, mâu thuẫn giữa vợ chồng ông bà đã quá trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, bà L làm đơn khởi kiện xin ly hôn với ông K tại Toà án nhân dân huyện Krông Pắc và có nguyện vọng là xin được ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng ông bà có 03 con chung là cháu Nguyễn Thị Trà M, sinh ngày 03/6/2006, cháu Nguyễn Văn K, sinh ngày 29/12/2016 và cháu Nguyễn Văn Kh, sinh ngày 11/7/2018. Nguyện vọng của bà L sau khi ly hôn là được nuôi dưỡng cháu Nguyễn Văn K, sinh ngày 29/12/2016 và cháu Nguyễn Văn Kh, sinh ngày 11/7/2018 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Đối với cháu Nguyễn Thị Trà M, sinh ngày 03/6/2006 đã đủ 18 tuổi nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Hiện nay, bà L đang làm nghề buôn bán, thu nhập bình quân mỗi tháng từ 10.000.000đ đến 12.000.000₫ nên bà L đủ điều kiện để nuôi dưỡng cháu K và cháu Kh cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà L không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và công nợ chung: Bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Nguyễn K không đến Tòa án làm việc, nên Tòa án không lấy được lời khai của bị đơn.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án và nội dung vụ án:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn chưa chấp hành đúng theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Bùi Thị Kim L được ly hôn với ông Nguyễn K.
Về con chung: Giao cháu Nguyễn Văn K, sinh ngày 29/12/2016 và cháu Nguyễn Văn Kh, sinh ngày 11/7/2018 cho bà Bùi Thị Kim L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Đối với cháu Nguyễn Thị Trà M, sinh ngày 03/6/2006 đã đủ 18 tuổi nên không đề cập giải quyết.
Về cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung và công nợ chung: Bà Bùi Thị Kim L không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu đã có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của đương sự có mặt tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Căn cứ đơn khởi kiện của nguyên đơn, Tòa án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn bà L khởi kiện xin ly hôn với ông K có nơi cư trú tại xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền.
Sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã tống đạt các văn bản tố tụng, nhưng ông K không tham gia tố tụng cũng như không có mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và các phiên hoà giải là từ bỏ quyền và không thực hiện nghĩa vụ của mình. Tại phiên tòa lần thứ nhất ông K vắng mặt, nên Hội đồng xét xử đã hoãn phiên tòa và tống đạt quyết định hoãn phiên tòa cho ông K. Tại phiên tòa hôm nay, ông K vắng mặt, do vậy Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, để xét xử vụ án là đảm bảo đúng quy định pháp luật.
[2] Về nội dung vụ án:
Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa bà Bùi Thị Kim L và ông Nguyễn K là hợp pháp, được pháp luật công nhận thể hiện tại Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ngày 20 tháng 8 năm 2006 của Ủy ban nhân dân xã H, huyện K. Quá trình tham gia tố tụng bà L xác định tình cảm vợ chồng không còn và đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn. Ông K không có mặt tại Tòa án để trình bày quan điểm của mình.
Kết quả xác minh, chính quyền địa phương cung cấp: Quá trình sinh sống tại địa phương bà L, ông K có xảy ra mâu thuẫn, tuy nhiên ông bà không báo chính quyền địa phương nên không rõ nguyên nhân.
Tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình quy định:
“Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.”
Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn giữa bà L và ông K đã đến mức trầm trọng, vợ chồng ông bà sống ly thân mà không có biện pháp hàn gắn hạnh phúc gia đình. Quan hệ hôn nhân giữa bà L và ông K không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận đơn khởi kiện và cho bà L được ly hôn với ông K.
Về con chung: Trong quá trình chung sống bà L và ông K có 03 con chung là cháu Nguyễn Văn K, sinh ngày 29/12/2016, cháu Nguyễn Văn Kh, sinh ngày 11/7/2018, cháu Nguyễn Thị Trà M, sinh ngày 03/6/2006. Hiện tại, cháu K và cháu Kh đang ở với bà L và nguyện vọng của bà L là được nuôi dưỡng cháu K và cháu Kh cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Đối với cháu Nguyễn Thị Trà M, sinh ngày 03/6/2006 đã đủ 18 tuổi nên bà L không yêu cầu Toà án giải quyết. Hiện nay, bà L đang làm nghề buôn bán, thu nhập bình quân mỗi tháng từ 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng. Quá trình giải quyết vụ án, ông K không có mặt để xác định nguyện vọng của ông về việc nuôi dưỡng con chung. Xét thấy, nguyện vọng của bà L là chính đáng, đảm bảo cho sự phát triển của con chung, phù hợp với quy định của pháp luật. Vì vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, giao cháu Nguyễn Văn K, sinh ngày 29/12/2016, cháu Nguyễn Văn Kh, sinh ngày 11/7/2018 cho bà L nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Đối với cháu Nguyễn Thị Trà M, sinh ngày 03/6/2006 đã đủ 18 tuổi nên không đề cập giải quyết.
Ông Nguyễn K được quyền qua lại thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai có quyền cản trở. Tuy nhiên, ông Nguyễn K không được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên có quyền thay đổi việc nuôi con chung và cấp dưỡng phí tổn nuôi con chung.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà L không yêu cầu nên Tòa án không đề cập giải quyết.
Về tài sản chung và công nợ chung: Bà L không yêu cầu nên Tòa án không đề cập giải quyết.
[3] Về án phí: Bà L phải nộp tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[4] Xét thấy, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ ý kiến của Viện kiểm sát.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án
Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Bùi Thị Kim L được ly hôn với ông Nguyễn K.
Về con chung: Giao cháu Nguyễn Văn K, sinh ngày 29/12/2016 và cháu Nguyễn Văn Kh, sinh ngày 11/7/2018 cho bà Bùi Thị Kim L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Đối với cháu Nguyễn Thị Trà M, sinh ngày 03/6/2006 đã đủ 18 tuổi nên không đề cập giải quyết.
Ông Nguyễn K được quyền qua lại thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai có quyền cản trở. Tuy nhiên, ông Nguyễn K không được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên có quyền thay đổi việc nuôi con chung và cấp dưỡng phí tổn nuôi con chung.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Bùi Thị Kim L không yêu cầu nên Tòa án không đề cập giải quyết.
Về tài sản chung và công nợ chung: Bà Bùi Thị Kim L không yêu cầu nên Tòa án không đề cập giải quyết.
Về án phí: Bà Bùi Thị Kim L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0003069 ngày 10/3/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk.
Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Thị Huyền Trang |
Bản án số 36/2025/HNGĐ-ST ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC, TỈNH ĐẮK LẮK về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 36/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Thị Kim L
