trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc 2026
  • search Lợi ích khi đăng ký tài khoản VNeID cấp 2
  • search Quy trình đăng ký doanh nghiệp trực tuyến
  • search Mẫu hợp đồng đặt cọc mua bán đất chuẩn
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẦN VĂN THỜI

TỈNH CÀ MAU

Bản án số: 36/2025/HNGĐ-ST

Ngày 24-01-2025

V/v tranh chấp xin ly hôn

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Ngô Văn Đen.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Huỳnh Hưỡng,

2. Ông Duyên Văn Hiền.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Huỳnh Hiếu Nghĩa – Thư ký tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời.

Ngày 24 tháng 01 năm 2025 tại Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 699/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 11 năm 2024, về việc “Tranh chấp xin ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 542/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T. Sinh năm: 1996 (có mặt).
  • - Bị đơn: Ông Phạm Thanh T1. Sinh năm: 1989 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Ấp V, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các tài liệu trong quá trình tố tụng, bà Nguyễn Thị T trình bày:

Về hôn nhân: Bà T và ông T1 kết hôn với nhau vào năm 2019, có đăng ký kết hôn tại UBND xã K, việc kết hôn là tự nguyện. Nguyên nhân dẫn đến ly hôn được bà xác định là trong thời gian chung sống vợ chồng không hòa hợp với nhau, quan điểm sống khác nhau nên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, không tự hàn gắn được, hiện nay ông bà đã sống ly thân. Xét thấy hôn nhân không hạnh phúc, bà T xác định tình cảm vợ chồng không thể tiếp tục. Nay bà T yêu cầu được ly hôn với ông T1.

Về con chung: Có 02 người con chung tên Phạm Thúy B, sinh ngày 25/11/2016, Phạm Gia V, sinh ngày 23/5/2018 hiện tại hai cháu B, V đang chung sống cùng bà T, khi ly hôn bà yêu cầu được nuôi hai cháu, yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng theo quy định của pháp luật, cấp dưỡng nuôi con đến đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn Phạm Thanh T1 đúng theo quy định pháp luật nhưng ông T1 không có văn bản thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn ông Phạm Thanh T1 có nơi cư trú tại ấp V, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bà T khởi kiện yêu cầu ly hôn, nuôi con chung với ông T1 nên quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án được xác định là "Tranh chấp xin ly hôn" theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông T1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ để tham gia xét xử nhưng vẫn vắng mặt, căn cứ theo Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Tòa án xét xử vắng mặt ông T1 theo quy định của pháp luật.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Ông bà tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND xã K vào năm 2019 đúng theo quy định tại Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa ông bà được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp.

Xét nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi, gia đình hai bên có hàn gắn nhưng không thành, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, hiện ông bà đã ly thân nhau. Bà T xác định không còn tình cảm vợ chồng với ông T1 và thể hiện sự quyết tâm mong muốn được ly hôn. Trường hợp nếu cho các bên tiếp tục chung sống sẽ không mang lại hạnh phúc, do đó Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu của bà T được ly hôn với ông T1.

[3] Về con chung: Có 02 người con chung tên Phạm Thúy B, sinh ngày 25/11/2016, Phạm Gia V, sinh ngày 23/5/2018 hiện tại hai cháu B, V đang chung sống cùng bà T, khi ly hôn bà yêu cầu được nuôi hai cháu, yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng theo quy định của pháp luật, cấp dưỡng nuôi con đến đủ 18 tuổi.

Hai cháu Phạm Thúy B, sinh ngày 25/11/2016, Phạm Gia V, sinh ngày 23/5/2018 từ trước đến nay đều chung sống cùng bà T, điều kiện hoàn cảnh sống của các cháu tốt, cháu B có nguyện vọng được sống chung với mẹ là bà T. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét nguyện vọng, điều kiện hoàn cảnh sống của hai cháu B, V nên giao hai cháu cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành là phù hợp và tốt nhất với hai cháu. Bà T yêu cầu cấp dưỡng nuôi con với mức cấp dưỡng theo quy định của pháp luật đối với mỗi con và cấp dưỡng đến khi hai con trưởng thành.

Xét yêu cầu cấp dưỡng cho con của bà T: Hội đồng xét xử thấy rằng Phạm Thúy B, sinh ngày 25/11/2016, Phạm Gia V, sinh ngày 23/5/2018 là con chung của bà T và ông T1 nên ông bà phải cùng có trách nhiệm nuôi dưỡng con chung, ông T1 không trực tiếp nuôi các con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho các con theo quy định tại Điều 82, Điều 107, Điều 110, Điều 116 và Điều 117 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Vì các lẽ trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu cấp dưỡng cho con của bà T với mức cấp dưỡng theo quy định pháp luật là 2.000.000 đồng/tháng đối với mỗi con và cấp dưỡng đến khi hai con trưởng thành là phù hợp và đúng với quy định của pháp luật.

Ông T1 không trực tiếp nuôi con chung có quyền thăm nom con chung, không ai có quyền cản trở việc thăm nom con chung của ông T1.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Bà T xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nếu có phát sinh tranh chấp sẽ được khởi kiện ở vụ kiện khác sau khi ly hôn.

[5] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bà T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình; Ông T1 phải chịu án phí cấp dưỡng là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 và khoản 3 Điều 68, khoản 4 Điều 147, khoản 1 và khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 238, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 9, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 116, 117 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T về việc yêu cầu được ly hôn với ông Phạm Thanh T1.
  2. Về con chung: Giao hai con chung tên Phạm Thúy B, sinh ngày 25/11/2016, Phạm Gia V, sinh ngày 23/5/2018 cho bà Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành. Ông Phạm Thanh T1 cấp dưỡng cho hai con chung với mức cấp dưỡng là 2.000.000 đồng/tháng đối với mỗi cháu, hai cháu là 4.000.000 đồng/tháng và cấp dưỡng đến khi hai cháu thành niên, thời gian cấp dưỡng được tính kể từ ngày ban hành bản án sơ thẩm. Ông T1 không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Ông T1 phải tôn trọng quyền được sống cùng bà T của hai cháu B và V.
  3. Về án phí: Bà Nguyễn Thị T phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình. Bà có dự nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0005917 ngày 19/11/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, nay được chuyển thu án phí, ông Phạm Thanh T1 phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con, chưa nộp.

Kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị đơn không thi hành xong khoản tiền nêu trên thì phải chịu khoản tiền lãi chậm trả tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - Viện kiểm sát nhân dân H. Trần Văn Thời;
  • - Chi cục THADS H. Trần Văn Thời;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Văn Đen

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 36/2025/HNGĐ-ST ngày 24/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp xin ly hôn

  • Số bản án: 36/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Nguyễn Thị Thuý yêu cầu ly hôn với ông Phạm Thanh Tý.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger