|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 36/2025/HNGĐ-ST
Ngày 20-6-2025
“V/v ly hôn, nuôi con chung giữa
chị O - anh T”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Đức
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đặng Ngọc Tân.
2. Ông Vũ Văn Sâm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh Vi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình
Ngày 20 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 94/2025/TLST–HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2025 về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:
-Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Vân O, sinh năm 1985.
Nơi cư trú: Thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình
-Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1985.
Nơi cư trú: SN D, ấp T, xã M, huyện B, tỉnh Bến Tre.
(Tại phiên tòa có mặt chị O, Anh T có đơn xin xử án vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện được bổ sung bằng bản tự khai nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Vân O trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn T tự do, tự nguyện tìm hiểu kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện B, tỉnh Bến Tre vào ngày 16/12/2011, sau khi kết hôn cả hai đều sinh sống tại Thành phố Hồ Chí Minh và lao động tự do. Trong quá trình chung sống do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống đã dẫn đến phát sinh mâu thuẫn. Từ tháng 01/2024 do mâu thuẫn trầm trọng chị đã đưa con chung về gia đình bố mẹ đẻ tại xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình sinh sống và sống ly thân cho tới nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị xin được ly hôn anh T.
-Về con chung: Chị O khai vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Hoàng P, sinh ngày 25/4/2012, con chung do chị đang trực tiếp nuôi dưỡng. Ly hôn xảy ra chị đề nghị được nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
-Về tài sản chung: Chị O khai vợ chồng không có nợ chung và không ai nợ vợ chồng, không yêu cầu Tòa án giải quyết phần tài sản.
Đối với bị đơn là anh Nguyễn Văn T: Tại đơn lựa chọn Tòa án và đơn xin xử án vắng mặt đề ngày ngày 04/6/2025 anh T trình bày: Về quan hệ hôn nhân anh xác nhận lời khai của chị O về thời gian và điều kiện kết hôn, thời gian chung sống của vợ chồng và nguyên nhân mâu thuẫn, nay anh xác nhận tình cảm vợ chồng giữa anh và chị O không còn, anh nhất trí xin được ly hôn chị O. Về con chung anh T xác nhận vợ chồng có 01 con chung hiện do chị O đang trực tiếp nuôi dưỡng như chị O đã khai, anh T đề nghị giữ nguyên hiện trạng nuôi con như hiện nay. Về tài sản chung anh T khai vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung và không ai nợ vợ chồng, không yêu cầu Tòa án giải quyết phần tài sản.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả thẩm vấn tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị Vân O khởi kiện ly hôn với anh Nguyễn Văn T. Anh T là bị đơn, đăng ký hộ khẩu thường trú và hiện cư trú tại ấp T, xã M, huyện B, tỉnh Bến Tre, anh T đã có đơn lựa chọn Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình là nơi giải quyết vụ kiện nên Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
-Bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, bị đơn đã có đơn đề nghị xin được xét xử vắng mặt gửi Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
-Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án không thực hiện biện pháp thu thập chứng cứ. Vì vậy vụ án không thuộc trường hợp đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà theo quy định tại Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Vân O và anh Nguyễn Văn T được xác lập trên cơ sở tự do, tự nguyện tìm hiểu kết hôn có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện B, tỉnh Bến Tre vào ngày 16/12/2011 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn cả hai sinh sống và lao động tự do tại Thành phố Hồ Chí Minh, trong quá trình chung sống do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống đã dẫn đến phát sinh mâu thuẫn. Từ tháng 01/2024 do mâu thuẫn trầm trọng, chị O đã đưa con chung về gia đình bố mẹ đẻ tại xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình sinh sống và sống ly thân, trong thời gian sống ly thân anh T cũng không tìm chị O về đoàn tụ. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị O làm đơn khởi kiện ly hôn, anh T nhất trí và làm đơn lựa chọn Tòa án huyện Q là nơi giải quyết vụ kiện ly hôn. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng cho các đương sự, anh T đã có đơn xin xử án vắng mặt (Có xác nhận của UBND ấp T1) gửi Tòa án. Nội dung đơn anh T xác nhận tình cảm vợ chồng giữa anh và chị O không còn và đề nghị xin được ly hôn, do công việc và đường xá xa xôi, anh không thể về Tòa án Quỳnh Phụ tham gia tố tụng được, anh đề nghị xin được xử án vắng mặt. Đối với chị O quá trình tố tụng và tại phiên tòa, chị O giữ nguyên quan điểm đề nghị xin được ly hôn. Điều đó chứng tỏ cuộc sống tình cảm vợ chồng giữa chị O và anh T đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài, cần căn cứ vào Điều 51 và 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị O được ly hôn anh T là có căn cứ.
[3] Về con chung: Chị O và anh T có 01 con chung là Nguyễn Hoàng P, sinh ngày 25/4/2012. Con chung hiện do chị O đang trực tiếp nuôi dưỡng chu đáo kể từ khi vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Chị O và anh T đều đề nghị giữ nguyên hiện trạng nuôi con như hiện nay. Xét thấy con chung đang sinh sống và ổn định học tập tại nơi cư trú, cháu P có ý kiến xin được ở với mẹ, hiện chị O làm giáo viên trường tư thục có mức thu nhập ổn định, vì vậy cần giao con chung cho chị O được trực tiếp nuôi dưỡng và chị O không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp với Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.
[4]Về tài sản chung: Chị O và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy phần tài sản Tòa án không xét.
[5]Về án phí: Chị O phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[6]Về quyền kháng cáo: Chị O và anh T có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTV QH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Vân O được ly hôn anh Nguyễn Văn T.
- Về con chung: Xử giao con chung Nguyễn Hoàng P, sinh ngày 25/4/2012 cho O được trực tiếp nuôi dưỡng. Chị O không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh T có quyền thăm nom con chung.
- Về tài sản chung: Chị O và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Chị O phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển số tiền chị O đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0000741 ngày 15/5/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ thành tiền án phí.
- Về quyền kháng cáo: Chị O có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án, anh T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ NGUYỄN MINH ĐỨC |
Bản án số 36/2025/HNGĐ-ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH về ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 36/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hôn nhân và gia đình Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Vân O -Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T.
