Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN HỒNG

TỈNH ĐỒNG THÁP

Bản án số: 36/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 16-6-2025

“ V/v ly hôn và tranh chấp về nuôi con"

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Nguyễn Thị Tuyền.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Nguyễn Tuyết Minh;
Bà Dương Thị Quyên.
- Thư ký phiên toà: Bà Phan Thị Hồng Yến Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp.

Trong các ngày 29 tháng 5 và ngày 16 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tân Hồng, đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 292/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2024, về việc “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2025/QĐXXST–HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 28/2025/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trương Thị Hồng N, sinh năm 1994
Địa chỉ: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang.
- Bị đơn: Anh Huỳnh Văn C, sinh năm 1994
Địa chỉ: Ấp C, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
(Nguyên đơn vắng mặt có đơn, bị đơn vắng mặt lần thứ 2 không có đơn).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn chị Trương Thị Hồng N thể hiện ý kiến như sau: Chị và anh Huỳnh Văn C chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh An Giang vào ngày 08/6/2018. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc nhưng sau đó cuộc sống hôn nhân có nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn được, vợ chồng bất đồng quan điểm, không còn tiếng nói chung, sống không hạnh phúc nên chị và anh C đã không còn sống chung từ năm 2021, chị đã cho vợ chồng cơ hội để hàn gắn tình cảm nhưng không được. Nay chị khởi kiện yêu cầu được ly hôn với chồng là anh Huỳnh Văn C. Về con chung: Có 01 (một) con chung tên Huỳnh Trọng H, sinh ngày 14/6/2019, chị N yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, tự nguyện không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn anh Huỳnh Văn C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, không có văn bản ý kiến gửi đến Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Xác định đây là vụ án “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Tân Hồng theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn vắng mặt có đơn, bị đơn được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có đơn. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với đương sự theo quy định tại Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

- Về hôn nhân: Chị Trương Thị Hồng N và anh Huỳnh Văn C chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh An Giang vào ngày 08/6/2018 theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên hôn nhân giữa anh, chị là hợp pháp.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản cho anh Huỳnh Văn C nhưng anh C không đến Tòa án, không có văn bản ý kiến gửi đến Tòa án. Điều này thể hiện anh C không bác bỏ yêu cầu khởi kiện và tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp có trong hồ sơ vụ án đồng thời chứng tỏ anh C cũng không tha thiết trong việc hàn gắn tình cảm vợ chồng với vợ là chị Trương thị Hồng N.

Từ thời điểm Tòa án thụ lý vụ án ngày 04/12/2024 đến ngày mở phiên tòa xét xử vụ án lần thứ hai ngày 16/6/2025 thì đã hơn 06 tháng nhưng chị N và anh C vẫn không thể đoàn tụ.

Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Trương Thị Hồng N và anh Huỳnh Văn C đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị N khởi kiện yêu cầu ly hôn là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

- Về con chung: Chị N cho rằng chị và anh C chung sống có 01 (một) con chung tên Huỳnh Trọng H, sinh ngày 14/6/2019 (đang sống với chị N), chị N yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, tự nguyện không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con. Anh Huỳnh Văn C không có văn bản tranh chấp. Vì thế, giao con chung tên Huỳnh Trọng H, sinh ngày 14/6/2019 cho chị Trương Thị Hồng N tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp và có cơ sở. Anh C được thăm con theo quy định.

- Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn chị Trương Thị Hồng N phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ Điều 27 của Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn.
Chị Trương Thị Hồng N được ly hôn với anh Huỳnh Văn C.

- Về con chung: Chấp nhận yêu cầu nuôi con chung của nguyên đơn.

+ Chị Trương Thị Hồng N được tiếp tục chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung tên Huỳnh Trọng H, sinh ngày 14/6/2019. Anh Huỳnh Văn C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Chị Trương Thị Hồng N cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở anh C trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trường hợp anh Huỳnh Văn C lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì chị Trương Thị Hồng N có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh C.

+ Về cấp dưỡng: Nguyên đơn không yêu cầu, bị đơn cũng không tự nguyện cấp dưỡng nuôi con.

Trường hợp vì lợi ích hợp pháp của con chung, khi có yêu cầu của một bên hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc cấp dưỡng cho con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Buộc chị Trương Thị Hồng N chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án đã nộp là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0010423 ngày 04/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hồng, chị N không phải nộp thêm. Anh Huỳnh Văn C không phải chịu tiền án phí.

Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND huyện Tân Hồng;
  • - Chi cục THADS huyện Tân Hồng;
  • - Các đương sự;
  • - UB nơi đăng ký kết hôn;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Tuyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 36/2025/HNGĐ-ST ngày 16/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG, TỈNH ĐỒNG THÁP về ly hôn và tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 36/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn và tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: CHẤP NHẬN YÊU CẦU
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger