|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH P |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 36/2025/HNGĐ-ST
Ngày 10 tháng 4 năm 2025
“V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH P
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Viết Anh;
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Hảo;
Bà Nguyễn Thị Phẩm.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoa - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh P.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh P tham gia phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Hoa - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh P tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 05/2025/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 01 năm 2025 về việc “tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2025/QĐST- HNGĐ ngày 04/4/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Bích T - sinh năm 2000.
ĐKHKTT: khu 4, xã Đ, thành phố V, tỉnh P.
- Bị đơn: Anh Phạm Văn K - sinh năm 1995.
ĐKHKTT: khu 4, xã Đ, thành phố V, tỉnh P.
Hiện nay đang ở nước ngoài.
(Chị T vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt; anh K vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo nguyên đơn chị Bùi Thị Bích T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: chị và anh Phạm Văn K tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau ngày 11/11/2019 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, thành phố V, tỉnh P. Sau khi kết hôn thời gian đầu vợ chồng anh chị chung sống hạnh phúc. Sau đó một thời gian anh K đi nước ngoài sinh sống, làm việc. Từ khi anh K đi nước ngoài đến nay tình trạng mâu thuẫn trong quan hệ vợ chồng giữa anh chị càng trở nên trầm trọng. Mặc dù đã được gia đình hai bên khuyên ngăn nH vợ chồng anh chị vẫn không thể hàn gắn được. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị T đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ giải quyết cho chị được ly hôn với anh K.
Về con chung: chị T xác định vợ chồng anh chị không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, công sức đóng góp của vợ chồng: chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: chị T tự nguyện chịu toàn bộ.
Chị Bùi Thị Bích T trình bày hiện nay chị không biết địa chỉ cụ thể của anh K ở nước ngoài nên chị không thể cung cấp địa chỉ của anh K cho Tòa án được. Chị T đề nghị Tòa án xác minh địa chỉ của anh K ở nước ngoài thông qua bố đẻ của anh K là ông Phạm Quang H.
Thân nhân của anh Phạm Văn K - ông Phạm Quang H trình bày: ông là bố đẻ của anh Phạm Văn K, anh K hiện nay đang ở nước ngoài (Singapore). Hiện tại ông vẫn thường xuyên liên lạc với anh K qua điện thoại nH ông không biết địa chỉ cụ thể của anh K ở chỗ nào tại nước ngoài vì anh K không nói cho ông biết. Do vậy, ông H không thể cung cấp được địa chỉ cụ thể hiện nay của anh K cho Tòa án được. Ông H cũng đã nhận và thông báo về nội dung các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh K biết và được anh K nói lại với ông là anh K đề nghị Tòa án giải quyết việc ly hôn giữa anh và chị T theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh P phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về những nội dung sau:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án theo đúng quy định trình tự của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Viện kiểm sát đề nghị về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Bùi Thị Bích T được ly hôn anh Phạm Văn K. Về con chung, tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: không đặt ra giải quyết. Về án phí: chị Bùi Thị Bích T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Nguyên đơn chị Bùi Thị Bích T khởi kiện xin ly hôn anh Phạm Văn K. Trong đơn xin ly hôn, chị T trình bày hiện anh K đang ở nước ngoài. Tại văn bản số 1485/QLXNC-Đ1 ngày 10/12/2024 của phòng quản lý xuất nhập cảnh - Công an tỉnh P đã xác nhận anh K đã xuất cảnh và hiện chưa nhập cảnh về Việt Nam. Căn cứ khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh P.
Trong vụ án này anh K đang ở nước ngoài nên Tòa án không tiến hành hòa giải được theo quy định tại Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do vậy, Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử là đúng với quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân: chị Bùi Thị Bích T và anh Phạm Văn K kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật, anh chị đăng ký kết hôn ngày 11/11/2019 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, thành phố V, tỉnh P. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống chị T và anh K thường xuyên xảy ra mâu thuẫn trầm trọng do vợ chồng xa nhau và bất đồng quan điểm sống. Mặc dù đã được gia đình hai bên khuyên ngăn nH vợ chồng anh chị vẫn không tìm được tiếng nói chung. Chị T khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh K.
Anh Phạm Văn K hiện nay đang ở nước ngoài, chị Bùi Thị Bích T chỉ cung cấp được địa chỉ nơi cư trú cuối cùng của anh Phạm Văn K ở Việt Nam mà không cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh K ở nước ngoài cho Tòa án. Theo yêu cầu của chị T, Tòa án đã xác minh địa chỉ của anh K ở nước ngoài thông qua bố đẻ của anh K là ông Phạm Quang H.
Bố đẻ của anh Phạm Văn K - ông Phạm Quang H cung cấp thông tin như sau: hiện tại ông vẫn thường xuyên liên lạc với anh K nH ông không biết địa chỉ cụ thể của anh K ở nước ngoài vì anh K không nói cho ông được biết. Do vậy, ông H không thể cung cấp được địa chỉ cụ thể hiện nay của anh K cho Tòa án được. Ông H cũng nhất trí nhận thay anh K các văn bản tố tụng và thông báo về nội dung các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh K biết. Căn cứ Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán - Tòa án nhân dân Tối cao về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình và Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn về việc giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nH không rõ địa chỉ, xác định đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
Hội đồng xét xử thấy rằng chị T và anh K đã không còn chung sống cùng với nhau, vợ chồng sống ly thân đã một thời gian dài, không có sự quan tâm chia sẻ lẫn nhau trong cuộc sống gia đình nên phát sinh nhiều mâu thuẫn. Xét thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên việc chị T đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phạm Văn K là có căn cứ phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình. Do đó đề nghị xin ly hôn của chị T được chấp nhận.
- Về con chung: chị T xác định vợ chồng không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung, công sức đóng góp của vợ chồng: chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
Về án phí ly hôn: chị Bùi Thị Bích T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
[3] Về quyền kháng cáo đối với Bản án: các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 123 và Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 228; khoản 1 Điều 238; khoản 1, 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị Bích T.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị Bích T được ly hôn với anh Phạm Văn K.
- Về con chung: không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Bùi Thị Bích T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị T đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000496 ngày 15/01/2025 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh P.
- Về quyền kháng cáo đối với Bản án: chị Bùi Thị Bích T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ. Thời hạn kháng cáo của anh Phạm Văn K là 01 (một) tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7a,7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Viết Anh |
Bản án số 36/2025/HNGĐ-ST ngày 10/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH P về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 36/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH P
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
