Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:36/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 05/6/2025

V/v: “Ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG, TỈNH HẢI DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phạm Thị Thu

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hà Thị Thúy; Bà Nguyễn Thị Thùy Liễu.

Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Minh Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Đỗ Vân Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 219/2025/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2025 về tranh chấp: “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 4 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 46/2025/QĐST - HNGĐ ngày 19/5/2025 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 01/TB - TA ngày 23/5/2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1982.

ĐKHKTT: SỐ B N, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương. Nơi ở hiện nay: Xóm D, Q, T, C, Hải Dương. (có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị T: Ông Lường Văn Đ - Luật sư Công ty L1 - Đoàn luật sư thành phố H. (Có mặt).

- Bị đơn: Anh Đoàn Xuân N, sinh năm 1979; ĐKHKTT và cư trú tại: Số B N, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, biên bản lấy lời khai và tại phiên toà, nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Đoàn Xuân N kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND phường T, thành phố H ngày 24/11/2000. Quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc sau đó vợ chồng phát sinh mâu thuẫn về mọi mặt trong sinh hoạt hàng ngày, đặc biệt do có khác biệt trong tín ngưỡng và tôn giáo nên anh chị không hòa hợp với nhau. Nhiều lần anh N chửi bới đánh đập xúc phạm chị. Thời gian đầu chị cũng nhẫn nhịn chịu đựng nhưng tình trạng vợ chồng không được cải thiện mà ngày càng trở nên căng thẳng nên chị đã ra ở riêng từ tháng 3 năm 2025 đến nay. Đặc biệt gần đây, anh N luôn nghi ngờ chị có tình cảm với người khác nên có những luồng dư luận không tốt ảnh hưởng đến tâm lý và cuộc sống của chị. Trong thời gian chị ra ở riêng, anh N nhiều lần tìm chị về chung sống nhưng chị không về. Nay chị nhận thấy không còn tình cảm với anh N, nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh N để chị ổn định cuộc sống.
  • - Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung Đoàn Thị L sinh ngày 15/9/1999 và Đoàn Xuân T1 sinh ngày 23/10/2003. Hiện nay hai con đã trưởng thành, cháu L sắp lấy chồng. Cháu T1 từ nhỏ chân bị yếu, gia đình chị có cho cháu T1 đi khám bệnh ở viện 108 và Bệnh viện N2 thì có kết luận bị loạn dưỡng cơ (yếu cơ) ở chân, đi lại khó khăn, không tự đi làm được để nuôi sống bản thân, cháu T1 không có giấy xác nhận khuyết tật và cũng không được hưởng trợ cấp gì của địa phương. Hàng ngày cháu chỉ ở nhà cơm nước làm việc nhà. Hiện nay cháu T1 đang ở với anh N, chị hiện đi thuê nhà trọ ở nên chỗ ở không ổn định. Vì vậy, chị đề nghị Tòa án giao cháu T1 cho anh N nuôi dưỡng, chị tự nguyện cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho anh N là 2.500.000đ/tháng.
  • - Về tài sản chung, nợ chung, công sức chung: Chị T không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai bị đơn anh Đoàn Văn N1 trình bày:

  • Về quan hệ hôn nhân: Anh N1 xác định về điều kiện và thời gian kết hôn của vợ chồng như chị T trình bày là đúng. Quá trình chung sống vợ chồng sống vui vẻ hạnh phúc. Nhưng từ năm 2023, chị T đi chữa bệnh cho con nên đã nảy sinh tình cảm với người khác, về ruồng rẫy và kiên quyết ly hôn anh. Anh thừa nhận một vài lần có tát chị T nhưng là trong lúc nóng giận anh không kiềm chế được bản thân nên mới có cách hành xử như vậy. Trong thời gian chị T bỏ nhà đi anh cũng đã tìm nhiều biện pháp để chị T về đoàn tụ nhưng chị T chỉ ở 1-2 ngày sau đó lại đi. Nay chị T làm đơn xin ly hôn, anh N1 không đồng ý ly hôn và đề nghị tòa án hòa giải để vợ chồng về đoàn tụ.
  • - Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung Đoàn Thị L sinh ngày 15/9/1999 và Đoàn Xuân T1 sinh ngày 23/10/2003. Các con đều đã trưởng thành, cháu L sắp kết hôn, riêng cháu T1 bị liệt chân nên thường ngày chỉ ở nhà phụ giúp anh những việc nhỏ, cháu không đi làm nên không có thu nhập để nuôi sống bản thân. Gia đình anh cũng đã làm các thủ tục để cháu hưởng trợ cấp nhưng chưa được chính quyền địa phương chấp thuận. Bản thân anh làm thợ xây nên cũng không có thời gian sát sao bên cạnh cháu. Cháu T1 hiện ở với anh nên anh đề nghị chị T phải cấp dưỡng cho anh 4.000.000đ/ tháng để nuôi cháu T1.
  • Về tài sản chung, nợ chung, công sức chung: Anh N1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai bà Lê Thị T2 là mẹ đẻ chị T trình bày: Anh N1 và chị T kết hôn hợp pháp có đăng ký tại UBND phường T và có tổ chức hôn lễ theo phong tục của địa phương. Quá trình chung sống, anh chị phát sinh mâu thuẫn cụ thể như thế nào bà không nắm được vì gia đình bà ở xa. Hiện tại chị T dã dọn ra ở riêng. Nay chị T làm đơn xin ly hôn đề nghị tòa án hòa giải cho vợ chồng về đoàn tụ trường hợp chị kiên quyết ly hôn thì giải quyết theo quy định của pháp luật. Anh chị có hai con chung đều đã trưởng thành. Về tài sản chung, nợ chung: Bà không nắm được cụ thể.

Tại biên bản lấy lời khai ông Đoàn Xuân Đ1 là bố đẻ của anh N1 trình bày:

Về thời gian và điều kiện kết hôn như lời trình bày của chị T và anh N1 là đúng. Gia đình ông không hiểu tại sao chị T lại thay đổi nhanh chóng từ người con dâu ngoan hiền lại bỏ nhà đi và ruồng rẫy chồng con. Qua dư luận ông nắm bắt được từ khi đi chữa bệnh cho con thì chị T nảy sinh tình cảm với người khác nên kiên quyết không đoàn tụ cùng anh N1 mặc dù anh N1 và các con đã đến tận nơi chị T sống để tìm gặp và đón chị về. Các con của chị T đã trưởng thành nhưng con gái lớn thì bị tim bẩm sinh cũng đã nhiều lần chữa trị đến nay sức khỏe đã tạm ổn định, còn cháu thứ hai thì bị liệt cơ chân đi lại khó khăn. Thường ngày anh N1 đi xây ông bà sống ở nhà bên cạnh phải đi lại phụ giúp và trông nom cháu T1. Gia đình ông cũng làm các thủ tục để cháu T1 được hưởng trợ cấp hàng tháng nhưng chưa được địa phương chấp thuận. Chính vì vậy, ông tha thiết đề nghị tòa án hòa giải cho vợ chồng để cùng nhau chăm sóc nuôi dạy các con.

Tại biên bản lấy lời khai anh Đoàn Xuân T1 con của chị T anh N1 trình bày: Thời gian gần đây bố mẹ anh xảy ra mâu thuẫn do mẹ anh có tình cảm với người khác nên đã ra ngoài ở riêng. Gia đình cũng đã tìm mẹ anh về đoàn tụ nhưng chỉ vài ngày mẹ anh lại đi. Nay anh đề nghị tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật theo nguyện vọng của mẹ anh. Hiện anh đang ở với bố, từ nhỏ chân tay đã bị yếu không đi lao động được để kiếm tiền nuôi sống bản thân, không có giấy chứng nhận tàn tật của địa phương.

Xác minh tại trưởng khu dân cư thể hiện: Về nội dung mâu thuẫn cụ thể gia đình chị T như thế nào khu không nắm được, nhưng chị T đã dọn ra ngoài ở riêng. Hoàn cảnh gia đình chị T hiện nay rất neo người, anh chị có hai con chung nhưng cháu lớn cũng bị bệnh phải đi chữa trị đến nay sức khỏe tạm ổn định còn cháu thứ hai chỉ ở trong nhà, sống phụ thuộc vào người thân. Đề nghị tòa án giải quyết đảm bảo được quyền lợi của các bên đương sự và đặc biệt là các con anh chị.

Tại phiên toà: Nguyên đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn vẫn giữ nguyên quan điểm về việc xin ly hôn và giải quyết về cấp dưỡng con chung. Về tài sản chung, nợ chung, công sức chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương xác định việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, thư ký trong quá trình thu thập chứng cứ, người tiến hành tố tụng tại phiên toà chấp hành đúng qui định của BLTTDS, người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chấp hành đúng qui định của pháp luật. Bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật.

Về đường lối giải quyết vụ án, đề nghị HĐXX Áp dụng: Điều 56, 81, 82, 83, 110, 116, 117 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 2 Điều 227, khoản 2 Điều 229, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 01/2024 ngày 16/5/2024 của HĐTP Tòa án nhân dân tối cao; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Về quan hệ vợ chồng: Xử chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Đoàn Xuân N. Về con chung: Giao con chung Đoàn Xuân T1, sinh ngày 23/10/2003 cho anh N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của chị T cấp dưỡng nuôi con chung 2.500.000đ/tháng kể từ tháng 5 năm 2025 cho đến khi cháu Đoàn Xuân T1 chết. Về tài sản chung: Không giải quyết. Về án phí: Chị T phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm và 300.000 đồng tiền án phí cấp dưỡng nuôi con chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

  • [1] Về tố tụng:
  • - Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn anh Đoàn Xuân N cư trú tại phường T, thành phố H nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn anh Đoàn Xuân N đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án triệu tập anh N đến tham gia phiên tòa, thông qua cháu T1 là con trai anh N xác định anh N đã biết được thời gian Tòa án triệu tập đến tham gia phiên tòa nhưng anh N không đến tham gia tố tụng, anh N vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai mà không có lý do chính đáng, vì vậy Hội đồng xét xử tiến hành xét xử anh N theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Những người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa, đã có lời khai trực tiếp với Tòa án. Căn cứ khoản 2 Điều 229 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt người làm chứng.

  • [2] Về nội dung:
  • 2.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Đoàn Xuân N kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại UBND phường T, thành phố H ngày 24/11/2000, là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng về quan điểm về lối sống, nếp nghĩ, tôn giáo, tín ngưỡng. Đặc biệt thời gian gần đây vợ chồng không tin tưởng, anh N nghi ngờ về sự chung thủy của chị T nên vợ chồng xảy ra cãi nhau, có lần anh N còn đánh chị T. Chị T đã dọn ra ngoài ở riêng và kiên quyết không quay về chung sống cùng anh N. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng chị T vẫn kiên quyết xin ly hôn anh N. Anh N mong muốn vợ chồng về đoàn tụ nhưng không có biện pháp khắc phục tình trạng vợ chồng.

Từ những phân tích nêu trên, xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh N đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T, xử chị Nguyễn Thị T3 ly hôn anh Đoàn Xuân N là phù hợp quy định pháp luật để hai bên ổn định cuộc sống.

2.2. Về quan hệ con chung: Chị T và anh N đều xác định có 02 con chung Đoàn Thị L, sinh ngày 15/9/1999 và Đoàn Xuân T1 sinh ngày 23/10/2003. Hiện nay cả hai con đã trưởng thành, cháu L đã chuẩn bị đi xây dựng gia đình còn cháu T1 thì đang ở cùng anh N. Cả chị T và anh N đều thừa nhận, cháu T1 chân bị yếu không có khả năng lao động làm những việc nặng nhọc được nên không có thu nhập để nuôi sống bản thân và cũng không được hưởng trợ cấp của địa phương vì vậy cần có người chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T1. Xét anh N hiện nay có nhà ở ổn định và cháu T1 đang ở cùng anh N, còn chị T hiện phải đi thuê nhà trọ ở. Do vậy cần giao cho anh N là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu T1. Anh N yêu cầu chị T cấp dưỡng tiền nuôi cháu T1 là 4.000.000đ/tháng, chị T chỉ đồng ý cấp dưỡng cho cháu T1 là 2.500.000đ/tháng. Căn cứ Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao quy định: ...mức cấp dưỡng do Toà án quyết định nhưng không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú”, hiện nay chị T đang sinh sống và làm việc tại huyện C, tỉnh Hải Dương có mức lương tối thiểu vùng là 4.410.000đ/tháng. Chị T hiện cũng phải đi thuê nhà, chưa có công việc và thu nhập ổn định nên việc chị T tự nguyện cấp dưỡng tiền nuôi cháu T1 số tiền 2.500.000đ/tháng là phù hợp với điều 110,116,117 Luật Hôn nhân và gia đình và Nghị quyết 01/2024 ngày 16/5/2024 của HĐTP Tòa án nhân dân Tối Cao nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

2.3.Về quan hệ tài sản chung, nợ chung, công sức chung: Chị T và anh N không yêu cầu Toà án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Sau này chị T và anh N yêu cầu giải quyết về tài sản chung sẽ được giải quyết bằng một vụ án Hôn nhân gia đình khác.

2.4.Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

2.5.Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Điều 56, 81, 82, 83, 110, 116, 117 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 2 Điều 227, khoản 2 Điều 229, khoản 4 Điều 147, Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 01/2024 ngày 16/5/2024 của HĐTP Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử chị Nguyễn Thị T ly hôn anh Đoàn Xuân N.

2. Về quan hệ con chung: Giao con chung Đoàn Xuân T1, sinh ngày 23/10/2003 cho anh Đoàn Xuân N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của chị T cấp dưỡng nuôi con chung cho anh N số tiền 2.500.000₫ (Hai triệu năm trăm ngàn đồng)/ tháng kể từ tháng 6 năm 2025 cho đến khi cháu Đoàn Xuân T1 chết.

Chị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.

Kể từ khi người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, người phải thi hành án không thi hành số tiền trên thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán, lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật dân sự.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000đ tiền án phí sơ thẩm ly hôn, được đối trừ tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp theo biên lai thu số BLTU/24/0001289 ngày 03 tháng 4 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương. Chị T đã thực hiện xong nghĩa vụ về án phí ly hôn sơ thẩm. Chị T còn phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Hải Dương;
  • - Chi cục THADS TP. Hải Dương;
  • - Các đương sự (nguyên đơn, bị đơn);
  • - UBND phường Thanh Bình để ghi vào sổ hộ tịch; ĐKKH số 92 ngày 24/11/2000.
  • - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Thu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 36/2025/HNGĐ-ST ngày 05/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG, TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 36/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG, TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, nuôi con chung
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger