TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 36/2025/HNGĐ-PT Ngày: 14/11/2025 V/v Tranh chấp Ly hôn, con chung |
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Anh
Các Thẩm phán:
Bà Lê Thị Phương Thanh Bà Lê Thị Hiệu
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Mai - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 30/2025/TLPT-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.
Do bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 09/2025/HNGĐ-ST ngày 30/7/2025 của Toà án nhân dân Khu vực 1- Thanh Hóa bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 23/2025/QĐ-PT ngày 03 tháng 11 năm 2025 giữa:
Nguyên đơn: Anh Bùi Đình Đ, sinh năm 1993;
Địa chỉ: Số A, L, thị trấn N, huyện N (Nay là xã N) tỉnh Thanh Hóa.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Bà Lê Thị H - Luật sư văn phòng L, Đoàn luật sư tỉnh T
Bị đơn: Chị Đinh Thị Quỳnh A, sinh năm 1990
Địa chỉ: Khu phố C, phường R, TP . (N là phường Đ), tỉnh Thanh Hóa;
Nơi ở hiện nay: Số nhà A đường H, phường Đ, TP . (N là phường Đ), tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Tại đơn khởi kiện, các tài liệu trong hồ sơ và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là anh Bùi Đình Đ trình bày:
Về hôn nhân: Anh và chị Đinh Thị Quỳnh A kết hôn trên cơ sở tự nguyện, qua thời gian tìm hiểu, tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn N, huyện N (Nay là xã N), tỉnh Thanh Hóa vào ngày 22/01/2018. Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống cùng gia đình bên ngoại tại thị trấn R, huyện Đ (nay là phường Đ 2024 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không hòa mâu thuẫn vợ chống trầm trọng nên đã sống ly thân từ đó đến nay. Mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng không có kết quả. Nay anh Đ xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Định Thị Quỳnh A1.
- Về con chung: Anh Bùi Đình Đ và chị Đinh Thị Quỳnh A có 02 con chung là Bùi Gia H1, sinh ngày 06/6/2019, Bùi Gia H2, sinh ngày 24/01/2021. Ly hôn anh Đ1 có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu Gia H2, giao cháu Gia H1 cho chị Quỳnh A nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản, công nợ: Ngày 09/5/2025 anh Đ có đơn xin rút không yêu cầu Toà án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án bị đơn chị Đinh Thị Quỳnh A trình bày:
- Về hôn nhân: Chị Quỳnh A cũng thống nhất với ý kiến của anh Đ trình bày về thời gian, điều kiện kết hôn nhưng theo chị Quỳnh A vợ chồng chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc, đến cuối năm 2024 vợ chồng phát sinh mâu thuẩn. Nguyên nhân mâu thuẫn vì chị sinh hai con sát nhau và mâu thuẫn về kinh tế vì lúc đó vợ chồng mua đất nợ nần ngân hàng và sau đó đến năm 2013 thì chị Quỳnh A bị bệnh viêm tủy sống do sinh mổ gần nhau. Đến tháng 3 năm 2025 anh Đ ở lại cơ quan và không về nhà, anh Đ có quan hệ tình cảm với người khác. Nay anh Đ xin ly hôn quan điểm của chị Quỳnh A là chưa muốn ly hôn tại thời điểm này vì chị vẫn còn tình cảm với anh Đ và mong muốn vợ chồng đoàn tụ để cùng nuôi dạy con cái. Chị Quỳnh A nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng chưa đến mức trầm trọng để phải chia tay khi con cái đang còn nhỏ, chị đề nghị Tòa án và anh Đ tạo điều kiện để cả hai vợ chồng cùng suy nghĩ lại.
- Về con chung: Anh Bùi Đình Đ và chị Đinh Thị Quỳnh A có 02 con chung là Bùi Gia H1, sinh ngày 06/6/2019, Bùi Gia H2, sinh ngày 24/01/2021. Chị Quỳnh A không mong muốn vợ chồng ly hôn vì để con cái ổn định, đặc biệt quyền nuôi dưỡng con, đảm bảo quyền lợi cho cả hai con. Nếu anh Đ cương quyết ly hôn thì đề nghị Tòa án xem xét vì khi chị sinh con khi sức khỏe chị yếu, công việc không ổn định, khả năng bản thân không lo chu toàn tốt cho hai con nên chị nhường quyền nuôi dưỡng con cho anh Đ, chị không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản, công nợ: Chị Đinh Thị Quỳnh A thống nhất vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ do địa phương cung cấp thể hiện: Anh Bùi Đình Đ và chị Đinh Thị Quỳnh A chung sống hòa thuận hạnh phúc, tuy nhiên thời gian gần đây anh chị thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn anh chị không thể hiện ra bên ngoài, hiện nay chị Quỳnh A đã về nhà mẹ đẻ sinh sống.
Về con chung; anh, chị có 02 con chung là cháu Bùi Gia H1, sinh ngày 06/6/2019, Bùi Gia H2, sinh ngày 24/01/2021. Chị Quỳnh A không mong muốn vợ chồng ly hôn vì để con cái ổn định, đặc biệt quyền nuôi dưỡng con, đảm bảo quyền lợi cho cả hai con. Nếu anh Đ cương quyết ly hôn thì đề nghị Tòa án xem xét vì khi chị sinh con khi sức khỏe chị yếu, công việc không ổn định, khả năng bản thân không lo chu toàn tốt cho hai con nên chị nhường quyền nuôi dưỡng con cho anh Đ, chị không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản, công nợ: Chị Đinh Thị Quỳnh A thống nhất vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Toà án giải quyết.
3. Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 09/2025/HNGĐ-ST ngày 30/7/2025 của Toà án nhân dân Khu vực 1- Thanh Hóa đã Quyết định:
Căn cứ: Điều 51; 56; 57; 81; 82; 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; 228; 271; 273; 278; 280 của BLTTDS; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy Ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
- Về hôn nhân: Xử cho anh Bùi Đình Đ được ly hôn chị Đinh Thị Q
- Về con chung: Công nhận 02 cháu Bùi Gia H1, sinh ngày 06/6/2019, Bùi Gia H2, sinh ngày 24/01/2021 là con chung của anh Bùi Đình Đ, chị Đinh Thị Quỳnh A. Giao cháu Gia H2 cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng và giao cháu Gia H1 cho chị Quỳnh A trực tiếp nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh, chị có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- Về tài sản, công nợ: Đình chỉ yêu cầu giải quyết về tài sản, công nợ chung vợ chồng.
Ngoài ra, bản án còn tuyên án phí, quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
- Sau khi xét xử sơ thẩm,
Ngày 14/8/2025, Tòa án sơ thẩm nhận được đơn kháng cáo của chị Đinh Thị Quỳnh A kháng cáo bản án sơ thẩm với nội dung: Không chấp nhận về việc phân chia con chung và mức cấp dưỡng của hai vợ chồng. Chị Quỳnh A đồng ý việc nuôi cháu Bùi Gia H1 nhưng đề nghị anh Bùi Đình Đ cấp dưỡng 5.000.000đ/tháng để chị có thêm chi phí nuôi con.
5. Tại phiên tòa phúc thẩm,
Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện.
Bị đơn giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo của chị chị Đinh Thị Quỳnh A và giữ nguyên Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 09/2025/HNGĐ-ST ngày 30/7/2025 của Toà án nhân dân Khu vực 1- Thanh Hóa.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến phiên tòa phúc thẩm, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về hướng giải quyết vụ án: Các nội dung kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn không có căn cứ. Đề nghị HĐXX căn cứ căn cứ khoản 1 Điều 308, 313 Bộ luật Tố tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của chị Đinh Thị Quỳnh A. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số số 09/2025/HNGĐ-ST ngày 30/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1- Thanh Hóa; Chị Quỳnh A phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà; nghe ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Sau khi xét xử sơ thẩm, chị Đinh Thị Quỳnh A nộp đơn kháng cáo trong thời hạn quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Chị Quỳnh A đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2]. Xét nội dung kháng cáo
Chị Đinh Thị Quỳnh A kháng cáo về phần con chung. Chị Quỳnh A đồng ý việc nuôi cháu Bùi Gia H1 nhưng đề nghị anh Bùi Đình Đ cấp dưỡng 5.000.000đ/tháng để chị có thêm chi phí nuôi con.
Xét thấy:
Về con chung: Anh Bùi Đình Đ và chị Đinh Thị Quỳnh A có 02 con chung là Bùi Gia H1, sinh ngày 06/6/2019, Bùi Gia H2, sinh ngày 24/01/2021.
Tại Bản án số 09/2025/DSST ngày 30/7/2025 của TAND khu vực 1- Thanh Hóa xét xử quyết định: Công nhận 02 cháu Bùi Gia H1, sinh ngày 06/6/2019; Bùi Gia H2, sinh ngày 24/01/2021 là con chung của anh Bùi Đình Đ và chị Đinh Quỳnh A. Giao cháu Gia H2 cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng và giao cháu Gia H1 cho chị Quỳnh A trực tiếp nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Tại khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con."
Toà án cấp sơ thẩm đã giao cho mỗi bên đều trực tiếp nuôi dưỡng 01 con, về nguyên tắc, không phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng song phương, vì mỗi người đã đảm nhiệm một phần nghĩa vụ nuôi con. Chỉ “cha/mẹ không trực tiếp nuôi con” mới có nghĩa vụ cấp dưỡng. Trong trường hợp này, anh Đ đang trực tiếp nuôi một con chung (cháu Gia H1), do đó không thuộc đối tượng phải cấp dưỡng.
Về lý do kháng cáo của chị Quỳnh A cho rằng trong thời kỳ hôn nhân chị bị bạo lực gia đình, anh Đ ngoại tình, sức khỏe chị ốm yếu sau sinh hai con, ảnh hưởng đến công việc và thu nhập của bản thân. Đây là các yếu tố liên quan đến nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ - chồng, nhưng nghĩa vụ này chấm dứt sau ly hôn, trừ khi các bên tự nguyện hỗ trợ nhau (Điều 115 Luật HNGĐ 2014).
Như vậy, việc anh Đ, chị Quỳnh A mỗi bên trực tiếp nuôi 01 con đã đảm bảo quyền, nghĩa vụ bình đẳng của cha, mẹ theo Điều 81 và 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Nghĩa vụ cấp dưỡng chỉ đặt ra với người không trực tiếp nuôi con, không phụ thuộc lỗi hôn nhân. Lý do sức khỏe, thu nhập hay hành vi vi phạm nghĩa vụ hôn nhân của anh Đ không làm phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng bổ sung. Quyết định nêu trên của TAND khu vực 1- Thanh Hóa là phù hợp với quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con cái, đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của các con. Do đã giao cho mỗi người trực tiếp nuôi dưỡng 01 cháu nên Tòa án không buộc bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung là có căn cứ. Do đó HĐXX không chấp nhận kháng cáo của chị Đinh Thị Quỳnh A.
[3]. Án phí phúc thẩm: Đương sự kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí phúc thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ: Khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH
- Không chấp nhận kháng cáo của chị Đinh Thị Quỳnh A.
Giữ nguyên Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 09/2025/HNGĐ-ST ngày 30/7/2025 của Toà án nhân dân Khu vực 1- Thanh Hóa.
- Án phí phúc thẩm: Chị Quỳnh A phải nộp 300.000đ án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 000556 ngày 27/8/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hoá.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên không xét.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thị Anh |
Bản án số 36/2025/HNGĐ-PT ngày 14/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về tranh chấp ly hôn, con chung
- Số bản án: 36/2025/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn, con chung
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 14/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bác kháng cáo của nguyên đơn về cấp dưỡng nuôi con, giữ nguyên bản án sơ thẩm
