Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 36/2025/HC-ST

Ngày 11-6-2025

“V/v khiếu kiện quyết định hành

chính trong lĩnh vực đất đai”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Chương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Trung và bà Trần Thị Phương Thảo

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tú là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tham gia phiên toà: Ông Dương Phúc Trường - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số: 90/2024/TLST-HC ngày 14 tháng 10 năm 2024 về “Khiếu kiện quyết định thu hồi đất và quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2025/QĐXXST-HC ngày 15-5-2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 14/2025/QĐST-HC ngày 29-5-2025, giữa các đương sự:

  1. Người khởi kiện: Ông Trần Đình Quốc P; địa chỉ: Bon R, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.

    Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Đào Khoa T; địa chỉ: Công ty L1 và cộng sự, số 97, đường P, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk - Có mặt.

  2. Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện Đ; địa chỉ: Xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đoàn Văn P1; chức vụ: Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ - Văn bản ủy quyền ngày 05-12-2024 - Có mặt.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Ông Trần Mộng L và bà Nguyễn Thị N; địa chỉ: Bon R, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.

      Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nghiêm T1; địa chỉ: Thôn T 6, xã P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk - Có mặt.

    2. Bà Nguyễn Thị N1 (vợ ông Trần Đình Quốc P); địa chỉ: Bon R, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông - Có đơn xét xử vắng mặt.
    3. Ủy ban nhân dân tỉnh Đ; địa chỉ: Đường B, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông.

      Người đại diện theo ủy quyền: Ông Ngô Chí T2; chức vụ: Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ (Nay là Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đ) - Văn bản ủy quyền ngày 19-02-2025 - Đề nghị xét xử vắng mặt.

    4. Ủy ban nhân dân xã Q; địa chỉ: Thị trấn Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.

      Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Ngọc T3; chức vụ: Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Q – Văn bản ủy quyền ngày 09-12-2024 - Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

  1. Theo đơn khởi kiện đề ngày 01-7-2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, người khởi kiện ông Trần Đình Quốc P trình bày:

    Ngày 19-12-2023 UBND huyện Đ ban hành Quyết định số: 3288/QĐ-UBND về việc thu hồi đất để xây dựng công trình các trục đường khu Trung tâm Văn hóa - Thương mại huyện Đ đối với ông Trần Đình Quốc P, diện tích 188,6m² đất trồng cây lâu năm, thuộc thửa đất số 76, Mảnh trích đo địa chính số: TĐ 01-2022 (thuộc một phần thửa đất số 217, tờ bản đồ địa chính số 10 xã Q), tọa lạc tại bon R, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (Quyết định số 3288/QĐ-UBND). Cùng ngày 19-12-2023 UBND huyện Đ ban hành Quyết định số: 3294/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án số 14/PA-BQL ngày 18-12-2023 của Ban quản lý dự án và Phát triển quỹ đất về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, trong đó có ông Trần Đình Quốc P (Quyết định số 3294/QĐ-UBND). Ông P không đồng ý với Quyết định số 3288/QĐ-UBND và Quyết định số 3294/QĐ-UBND về các nội dung sau:

    • Về quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà cửa, vật kiến trúc cây trồng trên đất: Ông P là người đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) số AL221643, thửa đất số 217, tờ bản đồ số 10 (mục đích để vay ngân hàng), thực tế thửa đất thuộc quyền sử dụng của 03 hộ gia đình sinh sống, cụ thể: Hộ ông Trần Mộng L và bà Nguyễn Thị N; hộ ông Trần Đình C và bà Hà Thị T4; hộ ông Trần Đình Quốc P và bà Nguyễn Thị Na . Đồng thời, phần đất bị thu hồi thuộc vị trí hộ ông Trần Mộng L và bà Nguyễn Thị N sinh sống, nhưng UBND huyện Đ ban hành quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với ông P, không phải cho hộ ông L và bà N là không đúng đối tượng bị ảnh hưởng.
    • Giá bồi thường về đất thấp, không phù hợp với giá thị trường.
    • Không hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm cho hộ ông Trần Mộng L và bà Nguyễn Thị N thực tế sinh sống, kinh doanh trên đất bị thu hồi là không đúng pháp luật.
    • Yêu cầu tái định cư cho hộ ông Trần Mộng L và bà Nguyễn Thị N do thuộc trường hợp bị thu hồi đất và nhà ở trên đất, phải di chuyển chỗ ở.

    Ngoài ra, Quyết định số 3288/QĐ-UBND thu hồi đất của hộ ông P diện tích đất 188,6m² nhưng Quyết định số: 1078/QĐ-UBND ngày 18-4-2025 của Chủ tịch UBND huyện Đ áp dụng biện pháp cưỡng chế thu hồi dất diện tích 309,1m² là không đúng diện tích.

    Do vậy, ông P khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy Quyết định số 3288/QĐ-UBND và một phần Quyết định số 3294/QĐ-UBND và buộc UBND huyện Đ thực hiện nhiệm vụ công vụ về việc thu hồi đất và phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với ông P theo đúng quy định pháp luật.

  2. Đại diện của người bị kiện UBND huyện Đ trình bày: Ngày 19-12-2023 UBND huyện Đ ban hành Quyết định số 3288/QĐ-UBND và Quyết định số 3294/QĐ-UBND đối với ông Trần Đình Quốc P. Việc thu hồi đất của ông P là đúng pháp luật vì GCNQSDĐ đứng tên ông P.
    • Về giá đất: Do thu hồi đất nông nghiệp nên bồi thường theo giá đất nông nghiệp được UBND tỉnh phê duyệt, giá đã phù hợp với thị trường.
    • Do thu hồi một phần diện tích đất nông nghiệp của ông P, diện tích 188,6m², thuộc thửa đất số 217, tờ bản đồ số 10, còn lại 667,4m² (trong đó 70m² đất ở; 597,4m² đất nông nghiệp) nên ông P không đủ điều kiện bố trí tái định cư nhưng đã được hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm với số tiền 25.818.600đ. Đối với hộ ông Trần Mộng L và bà Nguyễn Thị N thực tế sinh sống trên đất bị thu hồi nhưng do thu hồi quyền sử dụng đất của ông P nên hộ ông L không đủ điều kiện hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm và không đủ điều kiện bố trí tái định cư.
    • Quyết định số: 1078/QĐ-UBND ngày 18-4-2025 của Chủ tịch UBND huyện Đ áp dụng biện pháp cưỡng chế thu hồi dất diện tích 309,1m² trong đó: Đất thuộc GCNQSDĐ của ông P là 188,6m² và đất thuộc lộ giới Quốc lộ B là 120,5m² (Tài sản trên đất thuộc lộ giới Quốc lộ B đã được hỗ trợ cho ông P) là đúng pháp luật.

    Do đó, UBND huyện Đ đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Đại diện của UBND tỉnh Đ trình bày: Ngày 24-3-2023 UBND huyện Đ ban hành Tờ trình số: 24/TTr-UBND về việc đề nghị thẩm định phương án giá đất cụ thể để tính tiền bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất để xây dựng công trình các trục đường Khu trung tâm Văn hóa - Thương mại huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Ngày 07-4-2023 Sở T ban hành Công văn số: 882/STNMT-ĐKTK về việc kết quả kiểm tra hồ sơ Phương án giá đất. Ngày 28-4-2023 UBND huyện Đ ban hành Báo cáo số: 179/BC-UBND về việc giải trình một số nội dung phương án trình thẩm định định giá đất cụ thể để tính tiền bồi thường khi nhà nước thu hồi đất để xây dựng công trình theo ý kiến của Sở T. Ngày 17-5-2023 Sở T ban hành Tờ trình số: 109/TTr-STNMT về việc đề nghị thẩm định Phương án giá đất. Ngày 25-5-2023 UBND huyện Đ ban hành Báo cáo số: 230/BC-UBND về việc tiếp thu, đề nghị bổ sung thửa đất xác định giá đất cụ thể để tính tiền bồi thường. Ngày 29-5-2023 UBND huyện Đ ban hành Báo cáo số: 236/BC-UBND về việc tiếp thu chỉnh sửa, bổ sung một số nội dung tại chứng thư định giá đất theo ý kiến của Hội đồng thẩm định giá đất tỉnh. Ngày 30-5-2023 Hội đồng thẩm định giá đất tỉnh ban hành Thông báo số: 49/TB-HĐTĐ về kết quả thẩm định Phương án giá đất cụ thể để tính tiền bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất xây dựng công trình các trục đường Khu trung tâm Văn hóa - Thương mại huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Ngày 05-6-2023 UBND huyện Đ ban hành Báo cáo số 250/BC-UBND về việc làm rõ một số nội dung tại thông báo số 49/TB-HĐTĐ ngày 30-5-2023 của Hội đồng thẩm định giá đất tỉnh Đăk Nông. Ngày 05-6-2023 Sở T ban hành Tờ trình số 123/TTr-STNMT về việc đề nghị phê duyệt giá đất cụ thể. Ngày 12-6-2023, UBND tỉnh Đ ban hành Quyết định số 712/QĐ-UBND về việc phê duyệt giá đất cụ thể để tính tiền bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất xây dựng công trình các trục đường Khu trung tâm Văn hóa - Thương mại huyện Đ, tỉnh Đắk Nông theo đúng trình tư, thủ tục và đảm bảo đúng quy định pháp luật. Do đó, UBND tỉnh Đ đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
    2. Đại diện của UBND xã Q trình bày: Việc xác nhận nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất, thời điểm xây dựng nhà ở, công trình khác, tình trạng sử dụng đất, nhà ở và nhân khẩu của hộ ông Trần Đình Quốc P đúng thực tế theo trình tự thủ tục, quy định của pháp luật. Vì vậy, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
    3. Bà Nguyễn Thị N1 (vợ ông P) ông Trần Mộng L và bà Nguyễn Thị N (bố mẹ của ông P) trình bày: Đồng ý với yêu cầu của ông P, thực tế đất thu hồi của vợ chồng ông L và bà N sinh sống, kinh doanh trên đất, còn ông P chỉ đứng tên trên GCNQSDĐ để vay ngân hàng. Do đó, yêu cầu ban hành quyết định về việc thu hồi đất và quyết định về việc phê duyệt phương án, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho vợ chồng ông L và bà N.

    Tại phiên tòa: Người khởi kiện vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện

    Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông phát biểu quan điểm: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 30, khoản 4 Điều 32; điểm a khoản 2 Điều 116; điểm a, b khoản 2 Điều 193 của Luật Tố tụng hành chính; khoản 4 Điều 6 Nghị định số: 47/2014/NĐ-CP ngày 15-5-2014 của Chính Phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất; Điều 30, khoản 2 Điều 35 Quyết định số: 03/2021/QĐ-UBND ngày 22-01-2021 của UBND tỉnh Đ ban hành quy định cụ thể một số nội dung về bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Đắk Nông, được sửa đổi, bổ sung tại khoản 2 Điều 1 Quyết định số: 46/2022/QĐ-UBND ngày 28-11-2022 của UBND tỉnh Đ:

    • Bác yêu cầu khởi kiện của ông Trần Đình Quốc P đối với yêu cầu hủy một phần Quyết định số: 3288/QĐ-UBND và yêu cầu hủy một phần Quyết định số: 3294/QĐ-UBND nội dung bồi thường về đất.
    • Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Đình Quốc P: Hủy một phần Quyết định số: 3294/QĐ-UBND nội dung bồi thường về tài sản trên đất, các khoản hỗ trợ và tái định cư; đồng thời, buộc UBND huyện Đ thực hiện nhiệm vụ công vụ về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi thu hồi đất theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

[1.1]. Về thời hiệu khởi kiện: Ngày 19-12-2023 UBND huyện Đ ban hành Quyết định số 3288/QĐ-UBND và Quyết định số 3294/QĐ-UBND. Ngày 01-7-2024 ông P khởi kiện yêu cầu hủy Quyết định số 3288/QĐ-UBND và hủy một phần Quyết định số 3294/QĐ-UBND, là còn thời hiệu khởi kiện quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 của Luật Tố tụng hành chính.

[1.2]. Về thẩm quyền: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Đắk Nông theo quy định tại khoản 4 Điều 32 của Luật Tố tụng hành chính.

[2]. Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của ông Trần Đình Quốc P:

[2.1]. Tại khoản 4 Điều 30; khoản 2, 3 Điều 35 Quyết định số: 03/2021/QĐ-UBND ngày 22-01-2021 của UBND tỉnh Đ ban hành quy định cụ thể một số nội dung về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Đắk Nông, quy định về trình tự, thủ tục thu hồi đất và lập, thẩm định phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, cụ thể:

Khoản 4 Điều 30 quy định: “4. Trong thời hạn không quá 07 (bảy) ngày làm việc, kể từ ngày hoàn thành việc kiểm đếm đất đai, tài sản của các hộ gia đình, cá nhân, tổ chức có đất bị thu hồi, Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng chuyển hồ sơ (bản sao, có đóng dấu treo) đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất thu hồi để xác định nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất, hồ sơ gồm có: c) Tờ khai của người sử dụng đất, tờ khai về tài sản gắn liền với đất đối với trường hợp người sở hữu tài sản không phải là người có quyền sử dụng đất;

Khoản 2, 3 Điều 35 quy định: “2. Ủy ban nhân dân cấp xã: c) Xác nhận nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất, thời điểm xây dựng nhà, công trình, tình trạng đất ở, nhà ở khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn của hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất, các đối tượng trực tiếp sản xuất nông nghiệp, các trường hợp bị ảnh hưởng đời sống, sản xuất khi thu hồi đất nông nghiệp và các vấn đề khác liên quan cho các đối tượng bị ảnh hưởng bởi dự án và chịu trách nhiệm trước pháp luật về xác nhận nội dung này

3. Trình tự, thủ tục, nội dung xác định nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất như sau: b) Đối với trường hợp người sử dụng đất, tài sản mà không có giấy tờ về đất đai, tài sản, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã thành lập Hội đồng tư vấn cấp xã, thành phần gồm:

  • Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã làm Chủ tịch Hội đồng;
  • Các thành viên đang công tác hoặc đã từng công tác tại xã, phường, thị trấn nơi có đất thu hồi có am hiểu về đất đai tại địa phương;
  • Đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã;
  • Đại diện Ban tự quản tổ dân phố hoặc Ban tự quản thôn, bon, buôn;
  • Những người sống lâu năm tại địa phương nơi có đất bị thu hồi

Hội đồng tư vấn cấp xã họp để xác định nguồn gốc sử dụng đất, thời điểm sử dụng đất, tình trạng tranh chấp, lấn chiếm đất đai, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất và việc thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai (nếu có).

Căn cứ kết quả cuộc họp, cán bộ địa chính cấp xã lập danh sách các trường hợp đã được Hội đồng tư vấn thống nhất về nguồn gốc đất đai, thời điểm sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất; niêm yết công khai danh sách tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã và trụ sở thôn, buôn, bon, tổ dân phố trong thời hạn bảy ngày (07) làm việc. Ban tự quản tổ dân phố hoặc Ban tự quản thôn, bon, buôn thông báo rộng rãi cho các hộ gia đình, cá nhân biết để theo dõi và có ý kiến.

Cán bộ địa chính cấp xã có trách nhiệm tiếp nhận ý kiến đóng góp của nhân dân, tham mưu Ủy ban nhân dân cấp xã có văn bản chấm dứt niêm yết và trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ký xác nhận nguồn gốc sử dụng đất, thời điểm sử dụng đất và tài sản của người có đất thu hồi vào trong hồ sơ gốc do Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng bàn giao.”

[2.2]. Về trình tự, thủ tục lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư:

[2.2.1]. Hồ sơ bồi thường, hỗ trợ do UBND huyện Đ cung cấp và Hồ sơ xét duyệt do UBND xã Q cung cấp cho Tòa án, thể hiện: Tại Phiếu tự kê khai của hộ ông Trần Quốc P năm 2022 (không đề ngày tháng) chỉ kê khai về đất bị thu hồi, không kê khai về công trình nhà, vật kiến trúc, cây trồng trên đất. Đơn xin xác nhận nguồn gốc sử dụng đất, thời điểm xây dựng nhà cửa tài sản vật kiến trúc, thời điểm sinh sống ổn định trên đất, về nhân khẩu, hộ khẩu, nghề nghiệp của hộ ông P năm 2022 (không đề ngày tháng) để trống các nội dung xin xác nhận và không có nội dung xác nhận của UBND xã Q (BL số 64-65, 88). Biên bản xét duyệt ngày 12-01-2023 của UBND xã Q không có đầy đủ thành viên trong Hội đồng tư vấn (Trưởng bon R, những người sống lâu năm tại địa phương ...), sau khi họp xét duyệt không tiến hành niêm yết theo quy định nhưng đến ngày 13-01-2023 UBND xã Q ban hành Báo cáo số 05/BC-UBND về kết quả xét duyệt đến Ban quản lý dự án và Phát triển quỹ đất huyện Đ.

[2.2.2]. Như vậy, trình tự, thủ tục lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của UBND huyện Đ chưa đúng theo quy định tại Điều 30 và Điều 35 Quyết định số: 03/2021/QĐ-UBND ngày 22-01-2021 của UBND tỉnh Đ. Đến ngày 14-11-2023, khi hộ ông P được lấy ý kiến trực tiếp phương án bồi thường hỗ trợ thì hộ ông P (ông Trần Mộng L đại diện) ý kiến đề nghị xem xét lại lịch sử nguồn gốc sử dụng, thực tế nhà ở do vợ chồng ông L làm từ chưa thành lập huyện Đ, quyền sử dụng đất đã chia tách cho 03 hộ gia đình sinh sống, làm ăn riêng biệt trên đất, đề nghị bố trí tái định cư cho ông L, đo đạc lại nhà cửa (BL 89-90).

[2.3]. Về giá đất bồi thường: Căn cứ Quyết định số: 712/QĐ-UBND ngày 06-12-2023 của UBND tỉnh Đ về việc phê duyệt giá đất cụ thể để tính tiền bồi thường khi nhà nước thu hồi đất xây dựng công trình các trục đường Khu trung tâm Văn hóa - Thương mại huyện Đ, UBND huyện Đ đã áp giá bồi thường đối với diện tích đất thu hồi của ông P (188,6m² đất nông nghiệp thành tiền 149.182.600đ). Quyết định số: 712/QĐ-UBND ngày 06-12-2023 của UBND tỉnh Đ được ban hành theo đúng trình tự, quy định pháp luật, trên cơ sở Chứng thư thẩm định giá đất ngày 26-5-2023 của Công ty TNHH T5 là tổ chức có chức năng tư vấn xác định giá đất cụ thể, thông qua việc khảo sát, tìm hiểu, phân tích, đánh giá đồng thời kết hợp so sánh, đối chiếu nhiều nguồn dư liệu khác nhau. Do đó, việc ông P cho rằng giá đất thấp, chưa phù hợp với giá thị trường là không có căn cứ.

[2.4]. Về đối tượng bị thu hồi đất và bồi thường hỗ trợ:

[2.4.1]. Thửa đất bị thu hồi thuộc thửa đất số 217, tờ bản đồ số 10, GCNQSDĐ số AL221643 do UBND huyện Đ cấp ngày 20-11-2007 cho ông Trần Đình C, được Chi nhánh Văn phòng Đ chỉnh lý biến động sang tên ông Trần Đình Quốc P ngày 07-6-2022. Do đó, UBND huyện Đ ban hành Quyết định số: 3288/QĐ-UBND thu hồi đất của ông P và Quyết định số: 3294/QĐ-UBND phê duyệt phương án bồi thường về đất cho ông P là có căn cứ, đúng pháp luật.

[2.4.2]. Đối với tài sản trên đất (nhà cửa vật kiến trúc, cây trồng) không có giấy tờ về sở hữu nhưng hộ ông Trần Mộng L và hộ ông Trần Đình Quốc P thống nhất xác định diện tích đất và tài sản trên đất bị thu hồi do hộ ông L tạo lập, sinh sống riêng biệt từ năm 1998 đến nay và làm nơi kinh doanh, buôn bán (ông L cho các con đứng tên GCNQSDĐ để vay ngân hàng). Biên bản xét duyệt ngày 12-01-2023 của Hội đồng xét duyệt UBND xã Q cũng xác định thời điểm xây dựng nhà năm 2003 (trước thời điểm các con ông L là ông Trần Đình C và ông Trần Đình Quốc P đứng tên GCNQSDĐ) nhưng UBND huyện Đ và UBND xã Q chưa xác minh làm rõ nguồn gốc tạo lập tài sản, thực tế sử dụng đất và nhà ở trên đất bị thu hồi là không đúng quy định tại khoản 3 Điều 35 Quyết định số: 03/2021/QĐ-UBND ngày 22-01-2021 của UBND tỉnh Đ. Trường hợp hộ ông Trần Mộng L là người tạo lập tài sản, thực tế sử dụng đất và nhà ở, không ai tranh chấp thì hộ ông L là đối tượng trực tiếp bị ảnh hưởng khi thu hồi đất nên cần phải phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ về tài sản trên đất và các khoản hỗ trợ khác cho hộ ông L mới phù hợp. Tại Quyết định số: 3294/QĐ-UBND đã phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ đối với nhà cửa, công tình vật kiến trúc, cây trồng trên đất và các khoản hộ trợ khác cho hộ ông Trần Đình Quốc P là chưa có căn cứ.

[2.4]. Về tái định cư:

[2.4.1]. Tại khoản 4 Điều 6 Nghị định số: 47/2014/NĐ-CP ngày 15-5-2014 của Chính Phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất, quy định: “Đối với hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất gắn liền với nhà ở thuộc trường hợp phải di chuyển chỗ ở nhưng không đủ điều kiện được bồi thường về đất ở, nếu không có chỗ ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi thì được Nhà nước bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở hoặc giao đất ở có thu tiền sử dụng đất”.

Khoản 4 Điều 28 Quyết định số: 03/2021/QĐ-UBND ngày 22-01-2021 của UBND tỉnh Đ ban hành quy định cụ thể một số nội dung về bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Đắk Nông, được sửa đổi, bổ sung tại khoản 2 Điều 1 Quyết định số: 46/2022/QĐ-UBND ngày 28-11-2022 của UBND tỉnh Đ, quy định về các trường hợp được giao đất tái định cư: “Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất gắn liền với nhà ở thuộc trường hợp phải di chuyển chỗ ở nhưng không đủ điều kiện được bồi thường về đất (kể cả trường hợp xây dựng gắn liền đất nông nghiệp, đất nhận khoán, đất nhận liên kết của các công ty nông, lâm nghiệp, đất nhận chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế chưa làm thủ tục theo quy định), nếu tại thời điểm có chủ trương, kế hoạch thu hồi đất của cấp có thẩm quyền không có nhà ở, đất ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất thu hồi thì được giao 01 (một) thửa đất ở tại nơi tái định cư có thu tiền sử dụng đất.”

[2.4.2]. Đối với hộ ông Trần Mộng L, tuy không phải là hộ đứng tên trên GCNQSDĐ đối với diện tích đất bị thu hồi. Tuy nhiên, trường hợp qua xác minh thực tế hộ L sử dụng đất và đang sinh sống trực tiếp trên đất gắn liền với nhà ở bị thu hồi (trước thời điểm ông C và ông P đứng tên GCNQSDĐ), nếu thuộc trường hợp di chuyển chỗ ở và tại thời điểm có chủ trương, kế hoạch thu hồi đất của cấp có thẩm quyền không có nhà ở, đất ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất thu hồi thì cần giao 01 thửa đất ở tại nơi tái định cư có thu tiền sử dụng đất theo quy định tại khoản 2 Điều 1 Quyết định số: 46/2022/QĐ-UBND ngày 28-11-2022 của UBND tỉnh Đ để đảm bảo giải quyết về chỗ ở cho hộ ông L và phù hợp với thực tế cư trú của hộ ông L.

[2.5]. Đối với diện tích đất theo Quyết định số: 1078/QĐ-UBND ngày 18-4-2025 của Chủ tịch UBND huyện Đ áp dụng biện pháp cưỡng chế thu hồi đất là 309,1m² trong đó: Đất thuộc GCNQSDĐ của ông P là 188,6m² (đã được bồi thường) và đất thuộc lộ giới Quốc lộ 28 là 120,5m² (không được bồi thường về đất, được hỗ trợ về tài sản trên đất), đã thể hiện rõ trong Trích lục mảnh trích đo địa chính kèm theo Quyết định số 3288/QĐ-UBND và Bảng kê chi tiết bồi thường, hỗ trợ, tái định cư kèm theo Quyết định số 3294/QĐ-UBND của UBND huyện Đ. Đồng thời, mốc lộ giới Quốc lộ 28B được xác định từ ngày 06-10-1993 (Quyết định số 1969/ĐBVN ngày 06-10-1993 của Bộ Giao thông vận tải) trước thời điểm cấp GCNQSDĐ lần đầu, do đó diện tích đất 120,5m² nêu trên không đủ điều kiện bồi thường về đất theo quy định tại Điều 75 của Luật Đất đai năm 2013.

[2.6]. Từ những phân tích và nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy: Không có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông P đối với yêu cầu hủy Quyết định số 3288/QĐ-UBND và yêu cầu hủy một phần Quyết định số 3294/QĐ-UBND về giá đất bồi thường; chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông P về yêu cầu hủy một phần Quyết định số: 3294/QĐ-UBND nội dung bồi thường về tài sản trên đất, các khoản hỗ trợ và tái định cư; đồng thời buộc UBND huyện Đ thực hiện nhiệm vụ công vụ về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi thu hồi diện tích đất 188,6m², thuộc thửa đất số 217, tờ bản đồ số 10 theo quy định pháp luật.

[2.7]. Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận.

[3]. Về án phí hành chính sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của ông Trần Đình Quốc P được chấp nhận một phần nên UBND huyện Đ phải chịu án phí hành chính sơ thẩm. Hoàn trả cho ông Trần Đình Q Pháp tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 30; khoản 4 Điều 32; điểm a khoản 2 Điều 116; điểm a khoản 2 Điều 193 của Luật Tố tụng hành chính; khoản 4 Điều 6 Nghị định số: 47/2014/NĐ-CP ngày 15-5-2014 của Chính Phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất; Điều 30, khoản 2 Điều 35 Quyết định số: 03/2021/QĐ-UBND ngày 22-01-2021 của UBND tỉnh Đ ban hành quy định cụ thể một số nội dung về bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Đắk Nông, được sửa đổi, bổ sung tại khoản 2 Điều 1 Quyết định số: 46/2022/QĐ-UBND ngày 28-11-2022 của UBND tỉnh Đ:

  1. Bác yêu cầu khởi kiện của ông Trần Đình Quốc P đối với yêu cầu hủy:
    1. Quyết định số: 3288/QĐ-UBND ngày 19-12-2023 của Ủy ban nhân dân huyện Đ về việc thu hồi đất để xây dựng công trình các trục đường khu Trung tâm Văn hóa - Thương mại huyện Đ đối với ông Trần Đình Quốc P, diện tích đất 188,6m², thuộc thửa đất số 76, Mảnh trích đo địa chính số: TĐ 01-2022 (thuộc một phần thửa đất số 217, tờ bản đồ địa chính số 10 xã Q), tọa lạc tại bon R, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông
    2. Một phần Quyết định số: 3294/QĐ-UBND ngày 19-12-2023 của Ủy ban nhân dân huyện Đ về việc phê duyệt phương án số 14/PA-BQL này 18-12-2023 của Ban quản lý dự án và Phát triển quỹ đất về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Công trình: Các trục đường khu trung tâm Văn hóa - Thương mại huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (đợt 2), đối với ông Trần Đình Quốc P nội dung bồi thường về đất.
  2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Đình Quốc P:
    1. Hủy một phần Quyết định số: 3294/QĐ-UBND ngày 19-12-2023 của Ủy ban nhân dân huyện Đ về việc phê duyệt phương án số 14/PA-BQL này 18-12-2023 của Ban quản lý dự án và Phát triển quỹ đất về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Công trình: Các trục đường khu trung tâm Văn hóa - Thương mại huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (đợt 2), đối với ông Trần Đình Quốc P nội dung bồi thường về tài sản trên đất, các khoản hỗ trợ và tái định cư
    2. Buộc Ủy ban nhân dân huyện Đ thực hiện nhiệm vụ công vụ về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi thu hồi thửa đất số 76, Mảnh trích đo địa chính số: TĐ 01-2022 (thuộc một phần thửa đất số 217, tờ bản đồ địa chính số 10 xã Q) theo quy định pháp luật.
  3. Về án phí hành chính sơ thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 348 của Luật Tố tụng hành chính; áp dụng khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án:
    1. Ủy ban nhân dân huyện Đ phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hành chính sơ thẩm
    2. Hoàn trả cho ông Trần Đình Quốc P số tiền 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp theo Biên lai số 0002239 ngày 08-10-2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Nông.
  4. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • TANDCC tại TP. Hồ Chí Minh;
  • UBND tỉnh Đắk Nông;
  • VKSND tỉnh Đắk Nông;
  • Cục THADS tỉnh Đắk Nông;
  • Các đương sự;
  • Lưu: Tổ thụ lý; Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Hồng Chương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 36/2025/HC-ST ngày 11/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai

  • Số bản án: 36/2025/HC-ST
  • Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger