TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 36/2025/DSST Ngày 27/06/2025 V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN – TP. HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hồng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Duy Tuyên.
Ông Nguyễn Văn Đạo.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đắc Minh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn tham gia phiên tòa: Ông Đào Xuân Đạt - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 110/2025/TLST-DS ngày 22/4/2025 về tranh chấp “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2024/QĐST - DS ngày 04/5/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S (S1); Địa chỉ: Số B N, phường V, Quận C, thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1991;
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D -Tổng GĐ;
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Công ty TNHH MTV Q và khai thác tài sản Ngân hàng S – Công ty S2 (Theo Giấy ủy quyền số: 3815/2024/GUQ-PL ngày 10/12/2024).
Người đại diện theo pháp luật của Công ty S2: Ông Phan Tấn D1 - Tổng Giám đốc.
Người nhận ủy quyền lại của ông Phan Tấn D1: Ông Phan A - Cán bộ Ngân hàng TMCP S (Giấy ủy quyền 1270/2025/GUQ-TGĐ ngày 14/3/2025).
Địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện S, thành phố Hà Nội.
Có mặt ông Phan A, anh T.
NỘI DUNG VỤ ÁN
1. Theo đơn khởi kiện đề ngày 02/03/2025 và những lời khai tiếp theo, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Phan A trình bày:
Ngày 16/12/2021, anh T có ký với Ngân hàng TMCP S 01 Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng- các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của anh T, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng số thẻ 472074-4660 với hạn mức sử dụng là: 10.000.000 đồng. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, anh T đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 9.372.400 đồng.
Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay anh T đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 404.000 đồng (Thứ tự thanh toán áp dụng theo điều 21 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, kể từ ngày chuyển nợ quá hạn sẽ thanh toán theo thứ tự gốc trước, lãi sau). Sau đó, anh T đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 11/08/2022, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 24 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Lãi suất quá hạn: (2.6% x150%) = 3.9%/ tháng.
Tính đến ngày 27/06/2025, anh T còn nợ Ngân hàng tổng số tiền là 28.824.898 đồng, trong đó gốc chuyển quá hạn: 12.174.894 đồng và tiền lãi quá hạn: 16.650.004 đồng.
Nay Ngân hàng yêu cầu Tòa án buộc anh T phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 27/06/2025 là: 28.824.898 đồng, trong đó gốc chuyển QH: 12.174.894 đồng và tiền lãi quá hạn: 16.650.004 đồng, đồng thời anh T phải tiếp tục trả tiền lãi, phí phát sinh cho S1 theo đúng thỏa thuận trong Hợp đồng mở thẻ tín dụng, kể từ ngày 28/06/2025 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
Về án phí: Anh T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
2. Bị đơn là anh Nguyễn Văn T trình bày:
Ngày 16/12/2021, anh mở thẻ tín dụng visa tại Ngân hàng TMCP S online, hạn mức thẻ là: 10.000.000 đồng. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, anh đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 9.372.400 đồng.
Sau khi thực hiện các giao dịch, lúc đầu anh có trả cho Ngân hàng 02 lần, tổng là 404.000 đồng. Sau đó, do không có việc làm ổn định nên anh không trả tiền cho Ngân hàng được nữa. Khoản vay này là khoản vay cá nhân, mục đích vay để mua điện thoại, vợ anh là chị Lương Thị N không biết anh mở thẻ tín dụng tại S1 và không biết gì về khoản nợ nay. Anh xác nhận đây là khoản nợ riêng của anh nên anh sẽ tự chịu trách nhiện trả nợ cho Ngân hàng.
Nay Ngân hàng yêu cầu anh phải trả số tiền gốc và lãi tạm tính đến ngày 27/06/2025 là: 28.824.898 đồng, trong đó nợ gốc: 12.174.894 đồng và tiền lãi quá hạn: 16.650.004 đồng, đồng thời anh T phải tiếp tục trả tiền lãi, phí phát sinh cho S1 theo đúng thỏa thuận trong Hợp đồng mở thẻ tín dụng, kể từ ngày 28/06/2025 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ, quan điểm của anh như sau: Do anh không có việc làm, không có thu nhập nên anh đề nghị Ngân hàng cho anh trả số tiền nợ gốc là 12.174.894 đồng trong thời gian 06 tháng, mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi hết nợ và đề nghị Ngân hàng miễn toàn bộ số tiền lãi cho anh.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Hội đồng xét xử và đương sự: Kể từ khi nhận đơn, thụ lý giải quyết vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Hội đồng xét xử và đương sự đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 3 Điều 90, khoản 2 Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S đối với anh Nguyễn Văn T. Buộc anh Nguyễn Văn T phải trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền nợ gốc và tiền lãi theo Hợp đồng phát hành thẻ Visa tạm tính đến 27/06/2025 là: 28.824.898 đồng, trong đó nợ gốc: 12.174.894 đồng và tiền lãi quá hạn: 16.650.004 đồng.
- Kể từ ngày 28/6/2025, anh Nguyễn Văn T phải tiếp tục trả tiền lãi, phí phát sinh theo thỏa thuận trong Hợp đồng phát hành thẻ V đã ký cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
- Về án phí: Anh Nguyễn Văn T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Trả lại Ngân hàng TMCP S số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền và thời hiệu: Ngân hàng TMCP S (S1) được Sở kế hoạch và đầu tư thành phố H cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty cổ phần, mã số doanh nghiệp: 0302847233, đăng ký lần đầu ngày 24/01/2003, đăng ký thay đổi lần thứ 27 ngày 12/10/2022, ngành nghề kinh doanh của S1 là kinh doanh tiền tệ, tín dụng và các hoạt động khác ghi trong Giấy phép thành lập và hoạt động cũng như Điều lệ của Ngân hàng.
Ngày 16/12/2021, anh Nguyễn Văn T1 mở thẻ tín dụng Visa online, loại thẻ Visa Classic tại Ngân hàng TMCP S, hạn mức thẻ là: 10.000.000 đồng. Sau khi kích hoạt thẻ, anh T đã thực hiện các giao dịch nhưng không thanh toán nợ gốc và lãi theo thỏa thuận trong hợp đồng phát hành thẻ Visa. Vì vậy Ngân hàng TMCP S khởi kiện anh T tại Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội. Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền và còn thời hiệu khởi kiện.
[1.2] Về quan hệ pháp luật: Anh Nguyễn Văn T là cá nhân không có đăng ký kinh doanh, mục đích vay mua ô tô. Vì vậy đây là tranh chấp dân sự về hợp đồng tín dụng quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về số tiền nợ gốc và lãi theo hợp đồng tín dụng:
Thẻ tín dụng mà anh T mở tại S1 là thẻ Visa Classic, hạn mức thẻ là 10.000.000 đồng. Sau khi kích hoạt thẻ, anh T thực hiện giao dịch với số tiền là 9.372.400 đồng nhưng chỉ thanh toán cho S1 tổng số tiền là 404.000 đồng. Đến ngày 11/8/2022, anh T2 còn nợ S1 tổng số tiền là: 12.174.894 đồng và vi phạm nghĩa vụ trả nợ sau 03 kỳ thông báo giao dịch liên tiếp nên S1 đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn và tính lãi quá hạn kể từ ngày 11/8/2022.
Xét yêu cầu đòi số tiền gốc và lãi tính đến ngày 27/06/2025 là 28.824.898 đồng, trong đó nợ gốc: 12.174.894 đồng và tiền lãi quá hạn: 16.650.004 đồng, Hội đồng xét xử thấy:
Mặc dù tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 16/12/2021 do S1 xuất trình cho Tòa án thể hiện hạn mức thẻ là 10.000.000 đồng và anh T thực hiện các giao dịch với tổng số tiền 9.372.400 đồng. Tuy nhiên, tại mục b khoản 24.4 Điều 24 của Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng TMCP S quy định khi vi phạm xảy ra, Chủ thẻ hiểu và đồng ý rằng S1 có thể thực hiện một hoặc nhiều hành động sau: “Áp dụng tính lãi quá hạn đối với toàn bộ Dự nợ theo quy định của S1. Sau 75 ngày kể từ ngày lập TBGD hoặc sau 03 (ba) kỳ TBGD liên tiếp, nếu Chủ thẻ không thanh toán hoặc thanh toán ít hơn Số tiền tối thiểu, S1 sẽ chấm dứt việc sử dụng thẻ của Chủ thẻ”. Đồng thời, anh T cũng xác nhận khi mở thẻ online, anh cũng đọc lướt qua và tích vào mục đồng ý với các quy định trong Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng TMCP S. Thỏa thuận này giữa các bên phù hợp với quy định tại Điều 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 nên chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng TMCP S.
Đối với chị Lương Thị N là vợ anh Nguyễn Văn T: Anh T xác nhận, anh và chị N kết hôn năm 2019. Như vậy Hợp đồng phát hành thẻ tín dụng ngày 16/12/2021 phát sinh trong thời kỳ hôn nhân của vợ chồng, Tuy nhiên, Chủ thẻ là anh Nguyễn Văn T và anh T cũng xác nhận việc anh sử dụng thẻ để chi tiêu cá nhân, chị Lương Thị N không sử dụng thẻ này nên có đủ cơ sở để xác định khoản nợ này là nợ riêng của anh T, cần buộc anh T phải có trách nhiệm trả cho S1 số tiền nợ gốc và lãi như nêu trên là phù hợp.
[2.1.2] Về yêu cầu thanh toán khoản tiền lãi phát sinh trên số dư nợ gốc chưa trả, kể từ ngày 28/6/2024 theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng đa ký cho đến khi toán xong khoản nợ: Tại điểm a khoản 1 Điều 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao quy định: “Đối với trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng mà các bên có thỏa thuận về việc trả lãi thì quyết định kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật”. Do vậy chấp nhận yêu cầu này của Ngân hàng TMCP S, buộc anh T phải tiếp tục thanh toán khoản tiền lãi phát sịnh trên dư nợ gốc chưa trả theo Hợp đồng phát hành thẻ tín dụng ngày 16/12/2021, kể từ ngày 28/6/2025 đến khi tất toán khoản vay.
[3] Về án phí: Căn cứ điều 143, 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, anh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Trả lại Ngân hàng TMCP S số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ:
- Điều 117, 119, 133, 320, 323, 463 466 và 468 Bộ luật dân sự năm 2015;
- Khoản 1 Điều 30; Điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 244; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố Tụng dân sự;
- Khoản 2 Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
- Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
- Điều 25, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S đối với anh Nguyễn Văn T.
- Kể từ ngày 28/6/2025, anh Nguyễn Văn T phải tiếp tục trả tiền lãi, phí phát sinh theo thỏa thuận trong Hợp đồng phát hành thẻ tín dụng Visa ngày 16/12/2021 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
- Về án phí: Anh Nguyễn Văn T phải nộp 1.441.245 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Ngân hàng TMCP S và anh Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
Buộc anh Nguyễn Văn T phải trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền nợ gốc và lãi theo Hợp đồng phát hành thẻ tín dụng Visa ngày 16/12/2021 tạm tính đến hết ngày 27/6/2025 là: 28.824.898 đồng, trong đó nợ gốc: 12.174.894 đồng và tiền lãi quá hạn: 16.650.004 đồng.
Trả lại Ngân hàng TMCP S số tiền 633.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai số: 0073301 ngày 16/04/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.
Nơi nhận
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Thúy Hồng |
Bản án số 36/2025/DSST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN - TP. HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 36/2025/DSST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN - TP. HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ngân hàng TMCP S
