TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A Tỉnh Hậu Giang Bản án số: 36/2025/DS-ST Ngày: 26-5-2025 V/v: Tranh chấp nợ hụi. | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Đua
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1/ Ông Hồ Thanh Trí
- 2/ Ông Cao Văn Chuộng
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Minh Thông – Thư ký Toà án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A: Ông Lê Thanh Tưởng – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 5 năm 2025, tại Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 47/2025/TL.ST-DS, ngày 18 tháng 02 năm 2025 về việc tranh chấp nợ hụi, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 83/2025/QĐST-DS ngày 21 tháng 4 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 56A/2025/QĐST-DS ngày 07 thánh 5 năm 2025, giữa các đương sự:
1/- Nguyên đơn: Nguyễn Thị C
Địa chỉ: Ấp X, thị trấn R, huyện C, tỉnh Hậu Giang. (Có mặt tại phiên tòa)
2/- Bị đơn: Lê Phương T
Địa chỉ: Ấp X, thị trấn R, huyện C, tỉnh Hậu Giang. (Vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng tại Tòa án nguyên đơn bà Nguyễn Thị C trình bày: Bà làm chủ hụi ở địa phương, có cho chị Lê Phương T tham gia chơi các dây hụi như sau:
Dây hụi thứ nhất mở vào ngày 09/02/2020 (âm lịch), dây hụi này có 27 phần, mỗi lần đóng hụi chết là 2.000.000 đồng, đóng hụi sống là 1.500.000 đồng. Chị T tham gia 01 phần, chị T hốt hụi vào tháng 6 năm 2020 với số tiền là 42.500.000 đồng.
Dây hụi thứ 2 mở vào ngày 20/9/2020 (âm lịch), dây hụi này có 34 phần, chị T tham gia 03 phần hụi, mỗi lần đóng hụi chết là 2.000.000 đồng, đóng hụi sống là 1.500.000 đồng. Phần hụi thứ nhất chị T hốt vào tháng 9 năm 2020 với số tiền là 49.500.000 đồng. Phần hụi thứ 2 chị T hốt vào tháng 12 năm 2021 với số tiền là 52.500.000 đồng. Phần hụi thứ 3 chị T hốt vào tháng 4 năm 2022 (âm lịch) với số tiền là 55.000.000 đồng.
Tổng số tiền chị T hốt hụi là 199.500.000 đồng. Chị T đã đóng lại hụi chết với số tiền là 23.500.000 đồng. Số tiền còn lại chị T phải đóng hụi cho bà là 176.000.000 đồng. Bà đã nhiều lần tìm chị T để yêu cầu trả số tiền nợ hụi trên nhưng chị T không thực hiện. Nay bà C khởi kiện yêu cầu chị Lê Phương T có nghĩa vụ trả cho bà số tiền nợ hụi là 176.000.000 đồng và tiền lãi theo quy định của pháp luật kể từ ngày 01/5/2022 đến khi chị T trả hết nợ cho bà C.
Bị đơn chị Lê Phương T vắng mặt nên không có lời trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A phát biểu quan điểm:
Về trình tự thủ tục tố tụng giải quyết vụ án là đúng quy định của pháp luật. Đối với bị đơn chị Lê Phương T được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị T.
Về nội dung vụ án kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị C. Đề nghị Hội đồng xét xử buộc chị Lê Phương T có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị C số tiền nợ hụi là 176.000.000 đồng và tiền lãi theo quy định của pháp luật kể từ ngày 01/5/2022 đến khi chị T trả hết nợ cho bà C.
Về án phí các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Thị C và chị Lê Phương T có tham gia chơi hụi với nhau. Theo thỏa thuận bà C cho chị T tham gia chơi hụi 02 dây có 04 phần, mỗi phần hụi chết đóng 2.000.0000 đồng/lần, hụi sống đóng 1.500.000 đồng. Chị T đã lãnh tổng số tiền của 04 dây hụi là 199.500.000 đồng, chị T đã đóng lại hụi chết với số tiền là 23.500.000 đồng, còn nợ tiền hụi 176.000.000 đồng. Nay bà C khởi kiện yêu cầu chị Lê Phương T có nghĩa vụ trả cho bà số tiền nợ hụi là 176.000.000 đồng và tiền lãi theo quy định của pháp luật kể từ ngày 01/5/2022 đến khi chị T trả hết nợ cho bà C nên phát sinh tranh chấp. Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp nợ hụi theo khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Do bị đơn có địa chỉ tại huyện C nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A.
[2] Về thủ tục tố tụng: Quá trình tố tụng tại Tòa án cũng như tại phiên Tòa hôm nay bị đơn chị Lê Phương T vắng mặt nhiều lần không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị T.
[3] Về nội dung vụ án:
[3.1] Xét yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị C yêu cầu chị Lê Phương T có nghĩa vụ trả cho bà số tiền nợ hụi là 176.000.000 đồng, Hội đồng xét xử nhận thấy giữa chị Lê Phương T và bà Nguyễn Thị C có tham gia chơi hụi cùng nhau. Chị T tham gia 02 dây hụi do bà Nguyễn Thị C làm chủ hụi. Dây hụi thứ nhất mở vào ngày 09/02/2020, chị T tham gia 01 phần. Dây hụi thứ 2 mở vào ngày 20/9/2020 (âm lịch) chị T tham gia 03 phần. Tấc cả các phần hụi này chị T đã lãnh hụi xong. Theo các tờ nhận tiền xác định chị T có nhận tiền hụi của bà C, cụ thể: Hụi mở ngày 09/02/2020 âm lịch chị T nhận 42.500.000 đồng. Hụi mở ngày 20/9/2020 (âm lịch) hốt hụi tháng 9 năm 2020 với số tiền là 49.500.000 đồng; hốt hụi tháng 12 năm 2021 với số tiền là 52.500.000 đồng; hốt hụi tháng 4 năm 2022 với số tiền là 55.000.000 đồng. Tổng số tiền 04 lần lãnh hụi là 199.500.000 đồng. Bà C xác nhận chị T đã đóng hụi chết 23.500.000 đồng, chị T còn nợ tiền hụi 176.000.000 đồng nên chị T phải có nghĩa vụ trả cho bà C số tiền này. Qúa trình tố tụng, Tòa án đã tiến hành các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật để triệu tập chị T đến Tòa án cung cấp chứng cứ, hòa giải nhưng chị T không đến và không có văn bản gửi cho Tòa án nêu ý về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do đó, bà Nguyễn Thị C yêu cầu chị Lê Phương T có nghĩa vụ trả số tiền nợ hụi 176.000.000 đồng là có căn cứ chấp nhận.
Xét yêu cầu tính lãi của bà Nguyễn Thị C với mức lãi suất theo quy định của pháp luật 0,83%/tháng. Hội đồng xét xử nhận thấy giữa bà C và chị T tham gia chơi hụi có thỏa thuận lãi suất. Tuy nhiên, chị T chậm thực hiện nghĩa vụ đóng hụi cho bà C thì chị T phải chịu lãi suất là 10%/năm (0,83%/tháng) theo quy định tại Điều 22 Nghị số: 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường. Bà C yêu cầu chị T trả tiền lãi kể từ ngày 01/5/2022 đến khi chị T trả hết nợ cho bà C. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử tạm tính tiền lãi chị T phải trả cho bà C kể từ ngày 01/5/2022 đến hết ngày xét xử sơ thẩm ngày 26/5/2025, cụ thể: (0,83% x 176.000.000 đồng) x 36 tháng 25 ngày = 53.805.800 đồng và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 27/5/2025 cho đến khi chị T trả hết nợ cho bà C.
[3.2] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của bà C được chấp nhận nên chị T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Cụ thể: 5% x (176.000.000 đồng + 53.805.800 đồng) = 11.490.290 đồng.
[4] Tại phiên tòa, kiểm sát viên phát biểu quan điểm về trình tự thủ tục và nội dung vụ giải quyết vụ án là đúng quy định của pháp luật nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 117, Điều 351, Điều 357, Điều 468, Điều 471 của Bộ luật dân sự năm 2015
Căn cứ vào Điều 22 Nghị định số: 19/2019/NĐ-CP19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường.
Căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị C đối với chị Lê Phương T. Buộc chị Lê Phương T có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị C tổng số tiền nợ hụi là 176.000.000 đồng và tiền lãi tạm tính đến hết ngày 26/5/2025 là 53.805.800 đồng và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 27 tháng 5 năm 2025 mức lãi suất là 0,83%/tháng tương ứng với thời gian và số tiền chưa thi hành.
[2] Về án phí: Buộc chị Lê Phương T phải chịu án phí là 11.490.290 đồng.
[3] Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ngày 26 tháng 5 năm 2025. Đương sự văn mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
[4]. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Văn Đua |
Bản án số 36/2025/DS-ST ngày 26/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, Tỉnh Hậu Giang về tranh chấp nợ hụi
- Số bản án: 36/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp nợ hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/05/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, Tỉnh Hậu Giang
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả số tiền nợ hụi
