|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM TỈNH NINH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 36/2025/DS-ST Ngày: 24 - 6 - 2025 V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM,TỈNH
NINH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Thanh Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Hoàng Liên
- Ông Trần Văn Bình
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Uyên Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm tham gia phiên tòa: Bà Lê Nguyễn Tường Vy - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang- T xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 579/2024/TLST-DS ngày 12 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40a/2025/QĐXXST-DS ngày 16/5/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 35/2025/QĐST-DS ngày 05/6/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng N.
Địa chỉ: Số B L, phường T, quận B, Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V – Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Đình H – Giám đốc Ngân hàng N - chi nhánh Đ.
Người đại diện theo uỷ quyền lại: Ông Đỗ Thanh H1, sinh năm 1987 – Trưởng phòng Khách hàng Ngân hàng N – Chi nhánh Đ (có mặt).
Địa chỉ: Số B đường H, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
- Bị đơn: Ông Võ Đình Anh T, sinh năm 1978 (vắng mặt).
Địa chỉ: Khu phố G, phường V, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 21/11/2024, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa hôm nay, ông Đỗ Thanh H1 là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Ngân hàng N - chi nhánh Đ1 có quan hệ tín dụng với ông Võ Đình Anh T như sau:
- Hợp đồng tín dụng số 4910-LAV-202300448kết ngày 09/6/2023
+ Hạn mức cho vay: RGEFIELD HMTD 600.000.000(Bằng chữ: Sáu trăm triệu đồng
+ Phương thức cho vay: Cho vay theo hạn mức
+ Mục đích sử dụng vốn vay: Bổ sung vốn lưu động kinh doanh vận tải
+ Thời hạn duy trì hạn mức: 12 tháng, kể từ ngày 09/06/2023đến hết ngày 08/06/2024
+ Thời hạn cho vay và kỳ hạn trả nợ: Theo từng báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ.
Tính đến ngày 24/6/2025, số tiền phải trả là 678.498.255 đồng (Bằng chữ: Sáu trăm bảy mươi tám triệu bốn trăm chín mươi tám nghìn hai trăm năm mươi lăm đồng), trong đó:
Nợ gốc: 595.000.000.
Nợ lãi: 83.498.255 đồng, trong đó: lãi trong hạn: 61.326.028 đồng và lãi quá hạn: 22.172.227 đồng.
- Hợp đồng tín dụng số 4910-LAV-201902195 ký kết ngày 12/12/2019:
+ Số tiền cho vay: 1.600.000.000 đồng (Bằng chữ: Một tỷ sáu trăm triệu đồng)
+ Phương thức cho vay: Cho vay từng lần
+ Mục đích sử dụng vốn vay: Mua xe tải để kinh doanh vận tải
+ Thời hạn cho vay: 96 tháng, kể từ ngày 12/12/2019 đến hết ngày 10/12/2027
Tính đến ngày 24/6/2025, số tiền phải trả là 1.182.701.190 đồng (Bằng chữ: Một tỷ một trăm tám mươi hai triệu bảy trăm lẻ một nghìn một trăm chín mươi đồng), trong đó:
Nợ gốc: 1.000.000.000 đồng.
Nợ lãi: 182.701.190 đồng, trong đó: lãi trong hạn: 158.517.810 đồng và lãi quá hạn: 24.183.380 đồng.
Để bảo đảm cho số tiền vay theo Hợp đồng tín dụng số 4910-LAV-202300448 ký kết ngày 09/6/2023 và Hợp đồng tín dụng số 4910-LAV-201902195 ký kết ngày 12/12/2019, ông Võ Đình Anh T đã dùng tài sản thế chấp cho ngân hàng là xe ô tô theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 006962 (biển số xe 85C-034.15) do Phòng C Công an tỉnh N cấp ngày 11 tháng 12 năm 2019 đứng tên ông Võ Đình Anh T tại Hợp đồng thế chấp tài sản số [...]/HĐTC ký kết ngày 12/12/2019.
Đến nay, ông Võ Đình Anh T đã vi phạm Hợp đồng tín dụng số 4910-LAV-202300448 ký kết ngày 09/6/2023 và Hợp đồng tín dụng số 4910-LAV-201902195 ký kết ngày 12/12/2019 với Ngân hàng N - Chi nhánh Đ, cụ thể: Đến hạn thực hiện nghĩa vụ trả nợ nhưng ông Võ Đình Anh T không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ. Mặc dù ngân hàng đã thông báo, đôn đốc, nhắc nhở nhiều lần nhưng ông Võ Đình Anh T vẫn cố tình trốn tránh, không thực hiện nghĩa vụ trả nợ.
Nay, Ngân hàng N khởi kiện ông Võ Đình Anh T, yêu cầu Tòa án giải quyết:
- - Buộc ông Võ Đình Anh T phải thanh toán toàn bộ nợ gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn và các khoản chi phí có liên quan khác theo Hợp đồng tín dụng số 4910-LAV-202300448 ngày 09/6/2023 và Hợp đồng tín dụng số 4910-LAV-201902195 ngày 12/12/2019 số tiền phải trả tính đến ngày 24/6/2025 là 1.861.199.445 đồng (Bằng chữ: Một tỷ tám trăm sáu mươi mốt triệu một trăm chín mươi chín nghìn bốn trăm bốn mươi lăm đồng), trong đó:
- Nợ gốc: 1.595.000.000 đồng.
- Nợ lãi: 266.199.445 đồng, trong đó: Lãi trong hạn: 219.843.838 đồng và lãi quá hạn: 46.355.607 đồng.
- - Buộc ông Võ Đình Anh T tiếp tục thanh toán toàn bộ lãi trong hạn, lãi quá hạn và các khoản chi phí có liên quan khác phát sinh từ ngày 25/6/2025 theo các hợp đồng tín dụng đã ký kết với Ngân hàng cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết.
- - Buộc ông Võ Đình Anh T tiếp tục duy trì Hợp đồng thế chấp tài sản số [...]/HĐTC ký kết ngày 12/12/2019 với Ngân hàng để thực hiện nghĩa vụ trả nợ bao gồm nợ gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn và các khoản chi phí có liên quan khác cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết.
- - Trường hợp ông Võ Đình Anh T không thực hiện hoặc không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng N có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi toàn bộ nợ theo quy định pháp luật.
Đối với bị đơn ông Võ Đình Anh T: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã thông báo, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông T không đến Tòa án làm việc và cũng không có ý kiến phản hồi gì liên quan đến tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp; vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, cụ thể như sau:
Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án.
Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án:
Đối với nguyên đơn: Đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
Đối với bị đơn: Mặc dù đã được Toà án tống đạt, niêm yết hợp lệ các thông báo tố tụng nhưng bị đơn vẫn vắng mặt, không cung cấp ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Tại phiên toà hôm nay, bị đơn tiếp tục vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là thực hiện đúng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N, cụ thể:
- - Buộc ông Võ Đình Anh T thanh toán cho Ngân hàng N tổng số tiền của các khoản vay nêu trên tính đến ngày 24/6/2025 là: 1.861.199.445 đồng (Bằng chữ: Một tỷ tám trăm sáu mươi mốt triệu một trăm chín mươi chín nghìn bốn trăm bốn mươi lăm đồng), trong đó: Nợ gốc: 1.595.000.000 đồng; Lãi trong hạn: 219.843.838 đồng và lãi quá hạn: 46.355.607 đồng.
- - Buộc ông Võ Đình Anh T thanh toán phần nợ lãi, tiền phạt phát sinh theo lãi suất quá hạn, lãi phạt theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng nêu trên kể từ ngày 25/6/2025 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
- - Sau khi Bản án/Quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, ông Võ Đình Anh T không thực hiện, thực hiện không đúng hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh thì Ngân hàng N có quyền yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản bảo đảm của các khoản vay nói trên để thu hồi nợ cho Ngân hàng, cụ thể tài sản đảm bảo là: Xe tải có mui nhãn hiệu HYUNDAI; màu trắng, số khung: 18CPHC094152; Số máy D6ACGJ296059; Biển số đăng ký: 85C-034.15 theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 006962, do Phòng C – Công an tỉnh N cấp ngày 11/12/2019.
- Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ ông Võ Đình Anh T đối với Ngân hàng. Nếu số tiền thu được từ bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông Võ Đình Anh T vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Ngân hàng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Nguyên đơn Ngân hàng N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Võ Đình Anh T phải trả tiền nợ gốc, nợ lãi phát sinh từ Hợp đồng tín dụng đã ký kết. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn cư trú ở phường V, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T theo điểm a khoản 1 Điều 35, diểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Về việc vắng mặt của bị đơn:
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa án đã thực hiện các thủ tục tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn ông Võ Đình Anh T nhưng ông T không đến tham gia tố tụng mặc dù đã được tống đạt, triệu tập hợp lệ. Tại phiên tòa hôm nay, ông T vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về nội dung:
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Căn cứ các chứng cứ, tài liệu và lời khai nguyên đơn cung cấp, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[2.1] Xét Hợp đồng tín dụng số 4910-LAV-202300448 ngày 09/6/2023 và Hợp đồng tín dụng số 4910-LAV-201902195 ngày 12/12/2019 được ký kết giữa Ngân hàng N với ông Võ Đình Anh T (gọi tắt là Hợp đồng), Hội đồng xét xử thấy rằng: Các bên tham gia hợp đồng có đủ năng lực hành vi dân sự và tự nguyện giao kết hợp đồng, nội dung và mục đích của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Việc lập hợp đồng được thực hiện đúng theo trình tự pháp luật về tín dụng ngân hàng. Do vậy, các thỏa thuận được thể hiện trong hợp đồng trên là hợp pháp và làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên.
[2.2.] Thực hiện thoả thuận của hợp đồng tín dụng, Ngân hàng N đã giải ngân cho ông Võ Đình Anh T tổng số tiền 2.195.000.000 đồng (Hai tỷ một trăm chín mươi lăm triệu đồng). Đối với Hợp đồng tín dụng số 4910-LAV-202300448 ngày 09/6/2023, Ngân hàng đã giải ngân cho ông T 02 lần, cụ thể ngày 13/12/2023 giải ngân số tiền 250.000.000 đồng, ngày 15/5/2024 giải ngân số tiền 345.000.000 đồng; đối với Hợp đồng tín dụng số 4910-LAV-201902195 ngày 12/12/2019, Ngân hàng đã giải ngân cho ông T số tiền 1.600.000.000 đồng. Ông T đã nhận đủ số tiền vay và thực hiện việc trả nợ (gốc + lãi) định kỳ theo thỏa thuận. Ông T đã vi phạm nghĩa vụ vụ trả nợ, Ngân hàng đã chuyển nợ quá hạn kể từ ngày 10/6/2024 đối với khoản vay 1.600.000.000 đồng, chuyển nợ quá hạn kể từ ngày 14/6/2024 đối với khoản vay 250.000.000 đồng, chuyển nợ quá hạn kể từ ngày 05/11/2024 đối với khoản vay 345.000.000 đồng; lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Tổng số tiền bị đơn đã thanh toán là 1.221.254.227 đồng, trong đó số tiền gốc là 600.000.000 đồng, số tiền lãi là 621.254.227 đồng. Phía nguyên đơn nhiều lần đôn đốc, thông báo việc trả nợ, nhưng bị đơn không thực hiện trả nợ. Do bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận hai bên đã ký nên việc Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bị đơn trả tiền nợ gốc còn thiếu là 1.595.000.000 đồng là có cơ sở chấp nhận.
[2.3] Về lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn: Thỏa thuận của các bên trong hợp đồng tín dụng về lãi suất là hoàn toàn tự nguyện, không trái quy định của pháp luật về việc áp dụng mức lãi suất cho vay và đã được Ngân hàng tính toán, thực hiện theo đúng hợp đồng, theo từng giai đoạn điều chỉnh lãi suất của bên cho vay và phù hợp với quy định về áp dụng mức lãi suất của Ngân hàng N1 tại thời điểm điều chỉnh nên có giá trị thi hành đối với các bên. Do đó, nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền còn nợ theo Hợp đồng tín dụng số 4910-LAV-202300448 ngày 09/6/2023 và Hợp đồng tín dụng số 4910-LAV-201902195 ngày 12/12/2019 với tổng số tiền tính đến ngày 24/6/2025 là 1.861.199.445 đồng, trong đó nợ gốc là 1.595.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 219.843.838 đồng, nợ lãi quá hạn là 46.355.607 đồng là có cơ sở chấp nhận.
[2.4] Đối với yêu cầu: Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ông Võ Đình Anh T còn phải tiếp tục thanh toán toàn bộ lãi trong hạn, lãi quá hạn và các khoản chi phí có liên quan khác phát sinh theo mức lãi suất quá hạn mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho đến khi thanh toán xong hợp đồng tín dụng của Ngân hàng. Xét thấy yêu cầu này phù hợp với các nội dung mà các bên đã thỏa thuận tại Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng, phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.5] Để đảm bảo khoản vay, tại Hợp đồng thế chấp tài sản số [...]/HĐTC ngày 12/12/2019, ông Võ Đình Anh T đã tự nguyện thế chấp tài sản là: 01 Xe tải có mui nhãn hiệu HYUNDAI; màu trắng, số khung: 18CPHC094152; Số máy D6ACGJ296059; Biển số đăng ký: 85C-034.15 theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 006962 do Phòng C – Công an tỉnh N cấp ngày 11/12/2019 đứng tên ông Võ Đình Anh T.
Xét việc thế chấp tài sản nêu trên được xác lập trên ý chí tự nguyện của các bên, hình thức và nội dung hợp đồng không trái quy định pháp luật, phù hợp theo quy định tại Điều 319, Điều 323, Điều 303, Điều 401 Bộ luật Dân sự năm 2015 và hướng dẫn tại Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm nên hợp đồng thế chấp đã ký giữa các bên là có hiệu lực thi hành. Do việc bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng có quyền đòi nợ và yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm. Do đó, yêu cầu của Ngân hàng về việc được kê biên, phát mại tài sản thế chấp để thu hồi toàn bộ số tiền nợ khi bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ là có căn cứ.
[3] Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Võ Đình Anh T nhưng ông T không có văn bản trình bày ý kiến và cũng không phản đối những tình tiết, sự kiện cũng như những tài liệu, chứng cứ do Ngân hàng xuất trình nên có cơ sở khẳng định ông T đã từ bỏ quyền của mình được pháp luật quy định.
[4] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về án phí: Theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị đơn ông Võ Đình Anh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Ngân hàng N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nên được hoàn trả toàn bộ tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- - Các điều 319, 323, 303, 401, 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự;
- - Điều 91, Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng;
- - Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N đối với bị đơn ông Võ Đình Anh T.
- Buộc ông Võ Đình Anh T phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng N số tiền tính đến ngày 24/6/2025 là: 1.861.199.445 đồng (Một tỷ tám trăm sáu mươi mốt triệu một trăm chín mươi chín nghìn bốn trăm bốn mươi lăm đồng), trong đó: Nợ gốc: 1.595.000.000 đồng; Lãi trong hạn: 219.843.838 đồng và lãi quá hạn: 46.355.607 đồng.
- Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 25/6/2025), ông Võ Đình Anh T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi trong hạn, lãi quá hạn và các khoản chi phí có liên quan khác phát sinh lãi theo mức lãi suất quá hạn đã thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 4910-LAV-202300448 ngày 09/6/2023 và Hợp đồng tín dụng số 4910-LAV-201902195 ngày 12/12/2019 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng. Trường hợp trong Hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
- Trường hợp ông Võ Đình Anh T không thực hiện, thực hiện không đúng hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh thì Ngân hàng N có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp là: 01 Xe tải có mui nhãn hiệu HYUNDAI; màu trắng, số khung: 18CPHC094152; Số máy D6ACGJ296059; Biển số đăng ký: 85C-034.15 theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 006962, do Phòng C – Công an tỉnh N cấp ngày 11/12/2019 đứng tên ông Võ Đình Anh T.
- Trường hợp số tiền thu được sau khi phát mại tài sản thế chấp không đủ thanh toán hết khoản nợ thì bị đơn vẫn phải có nghĩa vụ tiếp tục trả nợ ngân hàng cho đến khi tất toán. Nếu phát mại tài sản thế chấp giá trị lớn hơn khoản nợ thì số tiền chênh lệch phải trả lại cho chủ sở hữu. Trường hợp nếu bị đơn thanh toán được nợ thì nguyên đơn có nghĩa vụ làm thủ tục giải chấp tài sản và trả lại giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 006962 do Phòng C – Công an tỉnh N cấp ngày 11/12/2019 đứng tên ông Võ Đình Anh T.
- Về án phí:
- Ông Võ Đình Anh T phải chịu 67.835.983 đồng (Sáu mươi bảy triệu tám trăm ba mươi lăm nghìn chín trăm tám mươi ba đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Ngân hàng N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. H2 lại cho Ngân hàng N số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 32.425.000 đồng (Ba mươi hai triệu bốn trăm hai mươi lăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003479 ngày 05/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt đại diện hợp pháp của nguyên đơn, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 24/6/2025). Bị đơn vắng mặt, quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thanh Tuấn |
Bản án số 36/2025/DS-ST ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 36/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn