Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 36/2025/DS-ST

Ngày: 13 - 6 - 2025

V/v: “Tranh chấp hợp đồng xây dựng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Quang Huy
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mai Phú
Ông Nguyễn Văn Mặc Vũ
- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Ngọc Trung Dũng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đà Lạt.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Đà Lạt, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 308/2024/TLST-DS ngày 14 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng xây dựng”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2025/QĐXXST-DS ngày 15/4/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 297/2025/QĐ-ST ngày 08/5/2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Đăng T, sinh năm 1987
  2. Địa chỉ: Số A B L, phường H, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.

    Đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Cao Trọng N, sinh năm: 2000. Địa chỉ: Lô G H, phường D, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. (Theo văn bản ủy quyền ngày 16/12/2024 tại VPCC Phạm Lan A)

  3. Bị đơn: Ông Nguyễn Mạnh H, sinh năm 1980
  4. Địa chỉ: C Đ, phường D, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.

  5. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị D, sinh năm: 1955. Địa chỉ: C Đ, phường D, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.
  6. (Ông N; bà D có mặt; ông H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có ông Lê Cao Trọng N trình bày:

Ngày 10/3/2022 giữa ông T và ông H có thỏa thuận ký “Hợp đồng xây dựng nhà cấp 4 thi công trọn gói” với nội dung ông H sẽ thi công công trình xây dựng nhà cấp 4 (kết cấu tường bao tôn, nền gạch, sơn nước) tại khu C, phường D, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng trên phần diện tích đất do mẹ ông H (là bà Nguyễn Thị D) đã bán cho ông T. Thực hiện hợp đồng, ông T đã chuyển cho ông H số tiền 100.000.000đ vào số tài khoản số 0561003894647 tại ngân hàng V chi nhánh L, chủ tài khoản Nguyễn Mạnh H.

Trong suốt thời gian từ khi chuyển tiền cho ông H cho đến nay thì ông H vẫn không thực hiện công việc như đã cam kết. Ông T đã nhiều lần yêu cầu ông H phải trả lại số tiền đã nhận vì không thi công xây dựng được nhưng ông H vẫn không trả. Do đó, ông T khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên hủy hợp đồng thi công xây dựng được lập giữa các bên ngày 10/3/2022, giải quyết hậu quả của hợp đồng, buộc ông H phải hoàn trả lại cho ông T số tiền đã nhận là 100.000.000đ và lãi suất của số tiền trên tương đương 0,75%/tháng tính đến thời điểm Tòa án xét xử sơ thẩm.

Bị đơn ông Nguyễn Mạnh H mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt nên không có lời trình bày.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị D trình bày:

Bà là mẹ của ông Nguyễn Mạnh H, vào ngày 06/01/2022 bà có đứng ra bán cho ông T 01 lô đất có diện tích 80m² tại khu C, phường D, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng với giá là 580.000.000đ. Diện tích đất trên vẫn chưa được cấp GCN QSDĐ. Sau khi việc chuyển nhượng giữa các bên đã hoàn tất, ông T có đặt vấn đề nhờ ông H (con trai bà) thi công xây dựng nhà cấp 4, mái lợp tôn trên phần diện tích đất đã nhận chuyển nhượng. Ông T có tạm ứng số tiền để mua vật liệu là 100.000.000đ. Tuy nhiên, do việc xây dựng không thực hiện được nên ngày 03/5/2024 bà có viết giấy cam kết với nội dung sẽ trả lại toàn bộ số tiền đã nhận chuyển nhượng và số tiền đã nhận tạm ứng cho việc thi công xây nhà cho ông T. Tổng cộng là 680.000.000đ. Nay đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đòi lại số tiền 100.000.000đ thì mặc dù ông T là người trực tiếp nhận số tiền trên nhưng bà đồng ý sẽ đứng ra trả thay cho ông T. Riêng đối với yêu cầu tính lãi suất chậm trả của nguyên đơn thì bà không đồng ý.

Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không được do bị đơn vắng mặt.

Tại phiên tòa hôm nay,

Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án tuyên hủy hợp đồng thi công xây dựng được lập giữa các bên ngày 10/3/2022, buộc ông H phải hoàn trả lại số tiền đã nhận là 100.000.000đ và lãi suất 0,75%/tháng tính đến thời điểm Tòa án xét xử sơ thẩm là 29 tháng tương đương số tiền 21.750.000đ

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày ý kiến bà đồng ý trả thay cho ông H số tiền 100.000.0000đ nhưng đề nghị được trả dần mỗi tháng từ 1.000.000đ đến 2.000.000đ vì hoàn cảnh hiện tại của bà đang khó khăn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng: Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa Hội đồng xét xử và các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa dân sự sơ thẩm. Đồng thời, nêu quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:

  • Diện tích đất 80m² tại địa chỉ khu C Đ, phường D, thành phố Đ mà bà D bán cho ông T chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó, hợp đồng xây dựng ngày 10/3/2022 giữa ông T và ông H đã vô hiệu từ thời điểm xác lập theo quy định tại Điều 123 Bộ luật dân sự. Có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc hủy hợp đồng thi công xây dựng ngày 10/3/2022.
  • Khi giao dịch dân sự vô hiệu, các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Ngày 24/02/2022 ông T đã chuyển cho ông H số tiền 100.000.000đ thông qua tài khoản tại ngân hàng V. Tuy nhiên, đến nay ông H vẫn chưa thực hiện được công việc như đã cam kết. Do đó, cần buộc ông H có nghĩa vụ trả lại cho ông T số tiền trên là phù hợp.
  • Lỗi dẫn đến hợp đồng vô hiệu là do của cả hai bên, ông H và ông T đều biết diện tích đất trên vẫn chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì không thể tiến hành xây dựng nhưng vẫn cố tình ký kết hợp đồng và giao nhận tiền cho nhau. Do đó, không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu tính lãi suất của nguyên đơn; Việc bà D đồng ý đứng ra trả thay cho bị đơn ông H số tiền 100.000.000đ nhưng tại phiên tòa nguyên đơn không đồng ý nên không có căn cứ để xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng và quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên hủy hợp đồng xây dựng lập ngày 10/3/2022. Tại thời điểm thụ lý giải quyết vụ án, bị đơn có địa chỉ cư trú tại C Đ, phường D, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Do đó, căn cứ quy định tại Điều 385 Bộ luật dân sự; Điều 138 Luật Xây dựng cần xác định quan hệ tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp hợp đồng xây dựng” và vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn ông Nguyễn Mạnh H mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tiến hành lấy lời khai, hòa giải và xét xử nhưng đều vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định.

[2] Về nội dung:

[2.1] Xuất phát từ việc vào ngày 10/3/2022 giữa ông T và ông H có thỏa thuận ký “Hợp đồng xây dựng nhà cấp 4 thi công trọn gói” với nội dung ông H sẽ thi công công trình xây dựng nhà cấp 4 (kết cấu tường bao tôn, nền gạch, sơn nước) tại khu C, phường D, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng trên phần diện tích đất do mẹ ông H (là bà Nguyễn Thị D) đã bán cho ông T. Tuy nhiên, ông H vẫn không thực hiện được công việc như đã cam kết trong hợp đồng nên các bên phát sinh tranh chấp.

[2.2] Theo lời trình bày của nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều thừa nhận, diện tích đất 80m2 tại khu C Đ, phường D, thành phố Đ mà ông T nhận chuyển nhượng từ bà D vẫn chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, các bên vẫn thỏa thuận về việc thi công xây dựng và giao kết hợp đồng. Do đó, nội dung của hợp đồng này đã vô hiệu ngay kể từ thời điểm xác lập do vi phạm điều cấm của luật theo quy định tại Điều 123 Bộ luật dân sự “Giao dịch dân sự có mục đích, nội dung vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu”

Điểm a, khoản 2, Điều 138 Luật Xây dựng “2. Nguyên tắc ký kết hợp đồng xây dựng gồm: ...b) Tự nguyện, bình đẳng, hợp tác, không trái pháp luật và đạo đức xã hội;

Điểm b, khoản 1, Điều 139 Luật Xây dựng “1. Hợp đồng xây dựng có hiệu lực khi đáp ứng đủ các điều kiện sau: ...b) Bảo đảm các nguyên tắc ký kết hợp đồng xây dựng quy định tại điểm a, khoản 2 Điều 138 của Luật này”

Do đó, việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên hủy hợp đồng xây dựng ngày 10/3/2022 là có căn cứ nên cần chấp nhận và lỗi dẫn đến hợp đồng vô hiệu thuộc về cả nguyên đơn và bị đơn.

[2.3] Giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu: Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn xuất trình tài liệu chứng cứ là chứng từ của việc chuyển tiền và bản sao kê tài khoản ngân hàng thể hiện ngày 24/02/2022 đã chuyển cho ông Nguyễn Mạnh H số tiền 100.000.000đ thông qua số tài khoản 0561003894647 tại ngân hàng V với nội dung “ck tien xay dung nha cap 4" (BL 06, 07). Mặc dù bị đơn vắng mặt và không có lời trình bày. Tuy nhiên, qua xem xét tài liệu chứng cứ mà nguyên đơn xuất trình phù hợp với lời khai thừa nhận của bà D tại “Giấy cam kết” ngày 03/5/2024 (BL 27) nên việc nguyên đơn có chuyển trước một phần tiền ứng trước của hợp đồng cho bị đơn là có xảy ra trên thực tế. Tại biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 28/02/2025 (BL 46) thì qua việc kiểm tra thực tế diện tích đất trên vẫn là đất trống, không có công trình, không có vật liệu xây dựng. Như vậy, trong suốt thời gian từ khi nhận tiền đến nay, ông H vẫn chưa thực hiện công việc như đã cam kết. Do đó, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải hoàn trả lại số tiền 100.000.000đ là phù hợp.

[2.4] Đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc tính lãi suất chậm trả tương đương 0.75%/tháng tính từ ngày 24/02/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm là 29 tháng, tương đương số tiền 21.750.000đ. HĐXX, xét thấy yêu cầu này là không có căn cứ để chấp nhận. Bởi lẽ, lỗi dẫn đến hợp đồng vô hiệu thuộc về cả nguyên đơn và bị đơn, mặc dù biết rõ nội dung của hợp đồng đã vi phạm điều cấm của luật nhưng vẫn cố tình giao kết và thực hiện việc giao nhận tiền cho nhau.

[2.5] Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị D đề nghị được trả thay cho ông H số tiền 100.000.000đ. Căn cứ quy định tại Điều 370 Bộ luật dân sự về việc chuyển giao nghĩa vụ “Bên có nghĩa vụ có thể chuyển giao nghĩa vụ cho người thế nghĩa vụ nếu được bên có quyền đồng ý”. Tuy nhiên, tại phiên tòa nguyên đơn không đồng ý với yêu cầu này nên không có căn cứ để xem xét.

[3] Về chi phí tố tụng: Chi phí cho việc xem xét, thẩm định tại chỗ là 800.000đ. Nguyên đơn đã tạm nộp và được quyết toán xong. Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên cần buộc bị đơn có nghĩa vụ thanh toán lại số tiền trên cho nguyên đơn.

[4] Về án phí: Nguyên đơn ông Nguyễn Đăng T phải chịu 1.087.500đ án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu tính lãi suất không được Tòa án chấp nhận.

Bị đơn ông Nguyễn Mạnh H phải chịu 300.000đ án phí đối với yêu cầu hủy hợp đồng và 5.000.000đ án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận. Tổng cộng 5.300.000đ

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 157, 158, Điều 227, 228, 271, 273 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;
  • Căn cứ các Điều 351, 357, 468 Bộ luật dân sự; Điều 138 Luật Xây dựng
  • Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Đăng T về việc “Tranh chấp hợp đồng xây dựng” đối với bị đơn ông Nguyễn Mạnh H.
    1. Hủy hợp đồng xây dựng ngày 10/3/2022 giữa ông Nguyễn Đăng T với ông Nguyễn Mạnh H.
    2. Buộc ông Nguyễn Mạnh H có nghĩa vụ trả lại cho ông Nguyễn Đăng T số tiền 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng).
  2. Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Đăng T về việc buộc ông Nguyễn Mạnh H thanh toán số tiền lãi suất 21.750.000đ.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  1. Về chi phí tố tụng: Buộc ông Nguyễn Mạnh H có nghĩa vụ thanh toán lại cho ông Nguyễn Đăng T số tiền 800.000đ.
  2. Về án phí:
    1. Buộc ông Nguyễn Đăng T phải chịu 1.087.500đ án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 3.343.000₫ đã nộp theo biên lai thu số 0001231 ngày 10/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt. Hoàn trả cho ông Nguyễn Đăng T số tiền 2.255.500đ án phí còn thừa.
    2. Buộc ông Nguyễn Mạnh H phải chịu 5.300.000đ án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND thành phố Đà Lạt;
  • - Phòng TTKT & THA;
  • - Chi cục THADS tp Đà Lạt;
  • - Các đương sự (03);
  • - Lưu AV - HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Vũ Quang Huy

Các Hội thẩm nhân dân Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Mai Phú Nguyễn Văn Mặc Vũ Vũ Quang Huy
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 36/2025/DS-ST ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT TỈNH LÂM ĐỒNG về tranh chấp hợp đồng xây dựng

  • Số bản án: 36/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng xây dựng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Nguyễn Đăng Trình “Tranh chấp hợp đồng xây dựng” Ông Nguyễn Mạnh Hùng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger