TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 36/2025/DS-ST Ngày: 06-3-2025 V/v: Tranh chấp dân sự về quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Trường Chinh.
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Thanh Tâm.
- 2. Ông Phạm Phước Tâm.
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Trọng Nhân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh tham gia phiên tòa: Ông Lương Ngọc Tiến - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 20, 27 tháng 02 và ngày 06 tháng 03 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 601/2023/TLST- DS ngày 19 tháng 6 năm 2023 về việc “Tranh chấp về quyền sử dụng đất”; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 661/2024/QĐXXST-DS ngày 30 tháng 12 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 23/2025/QĐĐST-DS ngày 21 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1965; Địa chỉ: Ấp E, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (có mặt).
- Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1969, Địa chỉ: Ấp D, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1969; Địa chỉ: Ấp D, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của ông T1 là: Chị Nguyễn Ngọc D - sinh năm 1979; địa chỉ: Số nhà F, đường N, tổ B, ấp H, xã H, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp theo văn bản ủy quyền ngày 27/9/2023 (có mặt).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Bà Cao Mỹ L, sinh năm 1966; anh Nguyễn Thanh S, sinh năm 1978; anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1979, anh Nguyễn Thanh P1, sinh năm 1975, anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1995; Cùng địa chỉ: Ấp D, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (bà L có mặt, các đương sự còn lại đều vắng mặt).
- Bà Dương Thị S1, sinh năm 1947 (đã chết);
Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà S1 bao gồm: Ông Nguyễn Văn H - sinh năm 1955; ông Nguyễn Văn P - sinh năm 1969; ông Nguyễn Văn T1 - sinh năm 1969; Cùng địa chỉ: Ấp D, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Ông Nguyễn Văn T - sinh năm 1965; địa chỉ: Ấp E, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Bà Nguyễn Thị Bạch T3 - sinh năm 1973; địa chỉ: Tổ B, ấp C, xã M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp (ông T có mặt, các đương sự còn lại đều vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, các lời khai tại Tòa án và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn ông Nguyễn Văn T trình bày như sau:
Nguồn gốc đất trước đây là của ông bà nội cho cha ông là Nguyễn Văn H1 (đã chết năm 1980) và mẹ là Dương Thị S1 (đã chết năm 2024) phần đất tọa lạc tại ấp D, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Ông bà nội cho đất vào năm 1980, diện tích khoảng 13.000m², ông không biết thuộc thửa số bao nhiêu, sau khi nhận đất thì bà S1 trực tiếp quản lý và sử dụng đất, có các con cùng sử dụng đất với bà, bà S1 có tổng cộng 06 người con, gồm Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Văn T, Nguyễn Thị Bạch T3, Nguyễn Văn P; ngoài ra còn Nguyễn Thị H2 đã chết năm 2002.
Trước đây, cha mẹ ông sử dụng không có đăng ký quyền sử dụng đất. Vào khoảng năm 1991, bà Dương Thị S1 có chia đất cho các anh em như sau:
Ông Nguyễn Văn H được mẹ cho 02 công tầm lớn là 2.600m², khi đó ông H đã có vợ nên đi kê khai đăng ký quyền sử dụng đất riêng và cũng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Đối với số đất còn lại thì bà S1 chia cho 03 anh em nhưng chưa kê khai để đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trong đó: Ông Nguyễn Văn T1 được mẹ cho 02 công tấm lớn (2.600m²); ông Nguyễn Văn T được mẹ cho 03 công tầm lớn (3.900m²) và ông Nguyễn Văn P được mẹ cho 03 công tầm lớn (3.900m²). Do ông T và ông P khi đó còn sống chung trong gia đình nên thống nhất để anh Nguyễn Văn T1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đã tách ra thành 03 thửa.
Hiện nay, anh Nguyễn Văn T1 có đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gồm 03 thửa, cụ thể: Thửa số 193, tờ bản đồ số 8, diện tích 1.339,8m²; Thửa số 203, tờ bản đồ số 8, diện tích 2.860,8m²; Thửa số 188, tờ bản đồ số 8, diện tích 6.273,4m²; Các thửa đất cùng tọa lạc tại ấp D, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Các anh em đã nhận đất sử dụng khi mẹ cho đất là từ năm 1991 cho đến nay, ông P sử dụng thửa 193 và một phần thửa 188; một phần thửa 188 còn lại thì ông T trực tiếp sử dụng. Đất của ông T1 được bà S1 chia thuộc thửa số 203, hiện nay ông T1 vẫn đang quản lý và sử dụng.
Đối với một phần thửa số 188 của ông P thì cố cho ông T năm 1997, đến khoảng năm 2012 thì ông T cố lại cho ông T1 nên ông T1 sử dụng từ năm 2012 đến nay, diện tích khoảng 1.979,1m².
Hiện nay, ông Nguyễn Văn T1 đang đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với toàn bộ diện tích đất nêu trên. Ông và ông T đã nhiều lần đến gặp ông T1 và nhờ anh em trong họ đến nói chuyện, yêu cầu ông T1 làm thủ tục sang tên đất nhưng ông T1 không đồng ý.
Ngày 26/7/2022, cán bộ UBND xã P có đến lập biên bản tiếp xúc với bà Dương Thị S1. Bà cũng đã xác nhận có cho đất cho các con như đã nêu trên.
Ngày 28/7/2022 địa phương tổ chức hòa giải nhưng ông Nguyễn Văn T1 trình bày ý kiến là chỉ đồng ý chuyển cho ông Nguyễn Văn T 02 công tầm lớn, ông Nguyễn Văn P là 01 công tầm lớn. Do đó, cả hai bên không thỏa thuận được nên hòa giải không thành.
Đối với giá trị đất thì ông T thống nhất theo biên bản định giá ngày 28/4/2023 nên không có ý kiến gì.
Đối với Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 04/8/2023, Sơ đồ đo đạc ngày 04/8/2023 và Sơ đồ đo đạc ngày 28/02/2025 thì ông T cũng thống nhất.
Nay ông T khởi yêu cầu ông Nguyễn Văn T1 làm thủ tục tách thửa, sang tên quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn T đối với diện tích 4.131,5m², thuộc một phần thửa số 188, tờ bản đồ số 8, đất tọa lạc tại ấp D, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (diện tích đất được xác định trong phạm vi các mốc M6-M7-M8-M12 theo sơ đồ đo đạc ngày 04/8/2023) hiện do ông Nguyễn Văn T1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm, ông T xác định lại diện tích đất tranh chấp là 3.900m² thuộc một phần thửa 188, tờ bản đồ số 8, đất tọa lạc tại ấp D, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp và yêu cầu xác lập lại sơ đồ đo đạc, đối với phần diện tích đất ngoài phạm vi tranh chấp thì ông T thống nhất giao lại cho ông T1.
Như vậy, ông Nguyễn Văn T chỉ yêu cầu công nhận cho ông được quyền sử dụng đối với diện tích 3.900m² thuộc một phần thửa 188, tờ bản đồ số 8, đất tọa lạc tại ấp D, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp được xác lập trong phạm vi các mốc M6-M7-M8-M12 theo sơ đồ đo đạc ngày 28/02/2025 do Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ xác lập.
Diện tích đất còn lại ngoài phạm vi các mốc M6-M7-M8-M12 thuộc một phần thửa số 188 nêu trên thì ông T đồng ý giao lại cho ông T1 được quyền sử dụng.
* Ông Nguyễn Văn P trình bày trong đơn khởi kiện cũng như tại Tòa án đều thống nhất với lời trình bày của ông Nguyễn Văn T:
Trong vụ án này ông P khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn T1 làm thủ tục tách thửa, sang tên quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn P đối với diện tích 1.342,4m², thuộc thửa số 193, tờ bản đồ số 8, đất tọa lạc tại ấp D, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (diện tích đất được xác lập trong phạm vi các mốc M1-M2-M3-M4-M5 theo sơ đồ đo đạc ngày 04/8/2023) và diện 1.979,1m², thuộc một phần thửa số 188, tờ bản đồ số 8 (diện tích đất được xác định trong phạm vi các mốc M8-M9-M10-M11-M12 theo sơ đồ đo đạc ngày 04/8/2023) hiện do ông Nguyễn Văn T1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
* Bị đơn ông Nguyễn Văn T1 ủy quyền cho bà Nguyễn Ngọc D trình bày như sau:
Đối với yêu cầu khởi kiện của ông T và ông P thì ông T1 không đồng ý với các lý do:
Ông Nguyễn Văn T1 đã được đứng tên quyền sử dụng đất với diện tích 11.259m² loại đất trồng lúa, cùng tờ bản đồ số 8, gồm 03 thửa: Thửa 188, diện tích 6.274m²; Thửa 203, diện tích 2.878m²; Thửa 193, diện tích 2.107m²; cùng tọa lạc tại xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Về nguồn gốc đất:
- Thửa số 188 là của chú tên Nguyễn Văn G, cho ông T1 vào năm 1985 (05 công tầm cắt).
- Thửa số 193, 203 là của ông nội tên Nguyễn Văn A (chết năm 2000) và bà nội Nguyễn Thị T4 (chết năm 2003) cho ông T1 vào năm 1985.
Sau khi cho đất từ năm 1985 đến năm 1999 thì ông Trung trực T5 sử dụng và kê khai để được UBND huyện C cấp giấy chứng nhận QSDĐ ngày 15/12/1999. Cha ông là Nguyễn Văn H1 (chết năm 1981), mẹ tên Dương Thị S1 (chết năm 2024). Cha mẹ có 7 người con: Nguyễn Văn H; Nguyễn Văn T1; Nguyễn Văn T; Nguyễn Văn P; Nguyễn Thị Bạch T3; Nguyễn Thị Mộng T6 và Nguyễn Thanh M (T6 và M chết lúc nhỏ).
Sau khi cha chết. Năm 1984 mẹ lấy chồng khác. Ông T1 nghỉ học sớm, năm 1985, ông T1 được ông bà nội và chú G cho 11.259m², ông T1 là người trực tiếp quản lý và canh tác đất để lo các em ăn học.
Khoảng năm 1999, ông T và ông P tự ý lấy đất ông T1 canh tác, mỗi người 03 công (tầm cắt), thuộc các thửa 188 và thửa 193, tờ bản đồ số 8, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Việc ông T và ông P tự ý lấy đất sử dụng thì ông T1 không tự nguyện cho sử dụng nhưng thấy hai em hoàn cảnh khó khăn nên ông tạm cho mượn đất canh tác để lo gia đình.
Cuối năm 1999, ông P tự ý bán lại cho ông T 02 công thuộc một phần thửa số 188, giá 09 chỉ vàng 24kr/công (2 công 18 chỉ vàng 24kr). Ông P còn canh tác 01 công tầm cắt thuộc thửa số 193. Do đó, tổng cộng T canh tác 05 công (tầm 3 mét), ông P canh tác 01 công (tầm 3 mét).
Còn 03 công thửa 188 mà ông T canh tác, ông T1 có nói miệng: Ông T1 chỉ cho ông T 02 công. Còn 01 công, khi nào ông T1 lớn tuổi thì ông T phải trả lại để ông T1 dưỡng tuổi già. Đất ông T1 chỉ cho T và P mượn canh tác, ông T1 không cho đứt. Vì đất này ông được UBND huyện C cấp giấy CN QSDD từ năm 1999, trước khi cho hai em mượn đất canh tác cho đến nay.
Đến năm 2013, ông T bán lại cho ông T1 1,5 công tầm cắt, giá 22,5 chỉ vàng 24kr. Vợ chồng ông T1 bán vàng giao tiền cho ông T tại tiệm V (có lập giấy tay ngày 07/8/2013 âm lịch). Sau khi bán lại cho ông T1 1,5 công thuộc thửa số 188 thì ông T còn canh tác 3,5 công một phần thửa 188. Khoảng năm 2017 thì ông T1 có thuê lại toàn bộ diện tích đất của ông T đang sử dụng, hai bên thỏa thuận là 03 công, mỗi công là 3.000.000 đồng/năm, như vậy mỗi năm là 9.000.000 đồng, ông T1 thuê làm 02 đợt, mỗi đợt là 03 năm, ông T1 trả tiền thuê 02 lần, mỗi lần là 27.000.000 đồng; tổng cộng 02 đợt thuê thì ông T1 đã trả cho ông T 54.000.000 đồng. Đến năm 2022 thì ông T lấy đất lại để sử dụng với diện tích hơn 4.000m².
Ông T1 cũng giữ lời hứa, nên năm 2022 ông T1 làm thủ tục tách thửa sang tên cho ông T 02 công, cho ông P 01 công, nhưng hai em không đồng ý, đòi nhiều hơn nên xảy ra tranh chấp cho đến nay.
Những nội dung khởi kiện mà ông T và ông P trình bày đất của mẹ là bà S1 cho là không có căn cứ.
Bởi vì, các thửa đất này ông bà nội và chú G cho riêng ông T1 vào năm 1985 từ thời điểm sau khi ông H1 chết. Còn mẹ lấy chồng khác và sống bên chồng ở ấp G, xã P từ năm 1984. Phần đất đang tranh chấp được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông T1 vào năm 1999, thời điểm cấp giấy trong hộ của ông T1 còn có bà Cao Mỹ L - sinh năm 1966 (vợ ông T1), Nguyễn Văn T2 - sinh năm 1993 (con ông T1) và Nguyễn Thị Mỹ L1 - sinh năm 1998 (con ông T1); Cùng địa chỉ: ấp D, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Nay, nếu thỏa thuận được, ông T1 chỉ đồng ý cho Nguyễn Văn P 01 công (1.000m²) thuộc thửa số 193; Nguyễn Văn T 02 công (2.000m²) thuộc một phần thửa số 188, cùng tờ bản đồ số 8, tọa lạc xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Trường hợp ông T và ông P không đồng ý thì ông T1 sẽ không cho đất như đã thỏa thuận nữa mà yêu cầu ông P và ông T trả lại toàn bộ diện tích đất cho ông T1 như đã nêu trên.
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các thửa đất tranh chấp hiện do ông T1 đang quản lý bản chính, không cầm cố hoặc thế chấp cho cá nhân hay tổ chức nào khác.
Đối với giá trị đất thì ông T1 thống nhất theo biên bản định giá ngày 28/4/2023 nên không có ý kiến gì.
Đối với Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 04/8/2023, Sơ đồ đo đạc ngày 04/8/2023 và Sơ đồ đo đạc ngày 28/02/2025 thì ông T1 cũng thống nhất.
* Bà Cao Mỹ L thống nhất với lời trình bày của ông Nguyễn Văn T1, không có bổ sung gì thêm.
* Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được công khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm như sau:
- Nguyên đơn đã giao nộp các tài liệu, chứng cứ gồm: Bản sao biên bản hòa giải ngày 28/7/2022, Bản sao biên bản tiếp xúc ngày 23/6/2022 và ngày 22/7/2022, bản sao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hộ ông Nguyễn Văn T1, công văn cung cấp thông tin và trích lục bản đồ địa chính các thửa đất tranh chấp, Đơn xin xác nhận đề ngày 05/3/2025, Trích lục khai tử bà Dương Thị S1.
- Bị đơn đã giao nộp các tài liệu, chứng cứ gồm: Bản sao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 15/12/1999 cho hộ ông Nguyễn Văn T1, bản sao giấy chuyển nhượng đất đề ngày 07/8/2013, bản sao đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất ngày 17/5/1999, bản sao tờ khai nguồn gốc đất ngày 17/5/1999, bản sao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 15/11/2024 (được cấp đổi giấy tập trung theo bản đồ mới).
- Các tài liệu, chứng cứ Tòa án đã thu thập có trong hồ sơ vụ án bao gồm: Bản sao Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 30/3/2023, Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 04/8/2023, Sơ đồ đo đạc ngày 04/8/2023 và Sơ đồ đo đạc ngày 28/02/2025, Bản sao biên bản định giá tài sản ngày 28/4/2023, giấy xác nhận thành viên hộ gia đình của hộ ông Nguyễn Văn T1, Công văn số 10386/CNVPĐKĐĐHCL-CCTT ngày 26/6/2024 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nên không có kiến nghị gì.
- Về việc giải quyết nội dung vụ án: Như phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về quan hệ pháp luật: Theo đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn yêu cầu được quyền sử dụng diện tích đất thuộc thửa số 193 và thửa số 188 cùng tờ bản đồ số 8, đất tọa lạc tại ấp D, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Do đó, quan hệ pháp luật trong vụ án này được xác định là “Tranh chấp về quyền sử dụng đất” theo quy định tại khoản 9 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thẩm quyền giải quyết: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do nơi cư trú bị đơn và đối tượng đang tranh chấp là quyền sử dụng đất đều ở huyện C, tỉnh Đồng Tháp nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Cao Lãnh theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về sự vắng mặt của các đương sự, tại các phiên tòa sơ thẩm ngày 20, 27 tháng 02 và ngày 06 tháng 03 năm 2025, các đương sự đã được triệu tập hợp lệ nhưng chỉ có mặt ông T, bà D, ông T1 và bà L; các đương sự còn lại đều vắng mặt nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[4] Đối với nguyên đơn ông Nguyễn Văn P đã được Tòa án triệu tập đến phiên tòa lần thứ hai nhưng anh P đã vắng mặt không có lý do và cũng không có người đại diện tham gia phiên tòa nên Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu của nguyên đơn ông Nguyễn Văn P theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[5] Về nội dung vụ án, xét yêu cầu của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T, Hội đồng xét xử nhận định:
[6] Về việc xác định tài sản tranh chấp:
[6.1] Theo đơn khởi kiện cũng như quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Văn T yêu cầu giải quyết đối với diện tích 4.131,5m², thuộc một phần thửa số 188, tờ bản đồ số 8, đất tọa lạc tại ấp D, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (diện tích đất được xác định trong phạm vi các mốc M6-M7-M8-M12 theo sơ đồ đo đạc ngày 04/8/2023).
[6.2] Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm, ông T xác định lại diện tích đất tranh chấp là 3.900m² thuộc một phần thửa 188, tờ bản đồ số 8, đất tọa lạc tại ấp D, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp và yêu cầu xác lập lại sơ đồ đo đạc. Việc ông T xác định lại diện tích đất tranh chấp có sự chênh lệch giảm so với đơn khởi kiện và sơ đồ đo đạc ngày 04/8/2023, Hội đồng xét xử xét thất không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu nên chấp nhận.
[6.3] Như vậy, ông Nguyễn Văn T chỉ yêu cầu công nhận cho ông được quyền sử dụng đối với diện tích 3.900m² thuộc một phần thửa 188, tờ bản đồ số 8, đất tọa lạc tại ấp D, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp được xác lập trong phạm vi các mốc M6-M7-M8-M12 theo sơ đồ đo đạc ngày 28/02/2025 do Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ xác lập.
[6.4] Đối chiếu sang hệ thống bản đồ địa chính chính quy thì thửa số 188, tờ bản đồ số 8 hiện nay là thửa số 706, tờ bản đồ số 7, cùng tọa lạc xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp hiện do hộ ông Nguyễn Văn T1 đứng tên quyền sử dụng, được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C cấp ngày 15/11/2024, số vào sổ cấp GCN: CN02474, số bìa: DQ 604474.
[7] Về việc xác định nguồn gốc đất: Căn cứ lời khai của các đương sự trong vụ án cũng như các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được thể hiện phần đất tranh chấp có nguồn gốc của ông Nguyễn Văn A (chết năm 2000) bà Nguyễn Thị T4 (chết năm 2003), ông A và bà T4 là ông bà nội của nguyên đơn, bị đơn.
[8] Về quá trình sử dụng đất:
[8.1] Ông Nguyễn Văn P trình bày phần đất tranh chấp ông được cha mẹ cho vào năm 1991 và có sự thống nhất của những người thân trong gia đình, tuy nhiên từ năm 1990 thì ông đã sử dụng đất canh tác lúa cho đến nay, diện tích đất ông sử dụng là toàn bộ thửa số 188, tờ bản đồ số 8, đất tọa lạc tại ấp D, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Tổng diện tích đất thuộc thửa số 188 là 6.110,6m², nhưng hiện tại ông P chỉ sử dụng 4.131,5m², còn lại 1.979,1m² thì ông T đã trả lại cho ông T1 sử dụng.
[8.2] Ông P sử dụng đất đến năm 2017 thì cho ông T1 thuê lại với giá 3.000.000 đồng/công/năm, hai bên thỏa thuận thuê 03 công là 9.000.000 đồng/năm với thời hạn thuê tổng cộng là 06 năm với số tiền 54.000.000 đồng, ông T1 đã trả tiền thuê xong, đến năm 2022 thì hết hạn hợp đồng nên ông T đã lấy đất lại sử dụng với diện tích là 4.131,5m².
[8.3] Phía bị đơn xác định phần đất tranh chấp do ông T1 được ông bà cho và trực tiếp sử dụng từ năm từ năm 1985 đến nay. Khi được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ năm 1999 thì ông T1 cho ông T mượn canh tác để lo cho cuộc sống gia đình bởi vì ông T không được ông bà cho đất. Tuy nhiên ông T1 cũng không có gì chứng minh việc ông T1 cho ông T mượn đất kể từ năm 1999. Mặt khác, tại phiên tòa sơ thẩm, phía bị đơn cũng thừa nhận vào khoảng năm 2017 có thỏa thuận thuê đất của ông T với diện tích 03 công tầm 3 mét trong thời hạn 06 năm với tổng số tiền là 54.000.000 đồng. Như vậy việc ông T1 cho rằng chỉ cho ông T mượn đất để canh tác là chưa phù hợp.
[8.4] Căn cứ đơn xác nhận đề ngày 05/3/2025, ông Nguyễn Văn D1, ông Nguyễn Văn B, bà Phương Thị L2, ông Nguyễn Văn H, bà Nguyễn Thị M1 và anh Nguyễn Văn T7 đều xác nhận ông Nguyễn Văn T đã được cha mẹ cho diện tích 3.900m² thuộc một phần thửa số 188, tờ bản đồ số 8, đất tọa lạc tại ấp D, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; ông T đã trực tiếp sử dụng đất từ năm 1990 đến nay. Khi bà S1 còn sống cũng đã xác nhận thời điểm năm 1990 có chia đất cho các con, trong đó có ông T diện tích 03 công tầm 3 mét, tương đương với diện tích 3.900m².
[8.5] Như vậy có thể xác định lời trình bày của ông T là phù hợp với lời trình bày của những người làm chứng theo đơn xác nhận ngày 05/3/2025 và của bà Dương Thị D2 về quá trình sử dụng đất cũng như diện tích đất thực tế mà ông T đã sử dụng.
[9] Về quá trình kê khai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Căn cứ vào hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Nguyễn Văn T1 vào năm 1999 bao gồm đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất và tờ khai nguồn gốc đất cùng ngày 17/5/1999, trong đó có thửa số 188, tờ bản đồ số 8, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp đã được Ủy ban nhân dân xã xác nhận đủ điều kiện và đã được Ủy ban nhân dân huyện C cấp quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, như đã phân tích nêu trên, tại thời điểm năm 1999 thì ông T là người đã trực tiếp sử dụng đất nhưng cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã không xem xét đến người đang trực tiếp sử dụng đất là chưa phù hợp.
[10] Về hiện trạng sử dụng đất: Diện tích đất thuộc thửa số 188, tờ bản đồ số 8 (đối chiếu sang hệ thống bản đồ địa chính chính quy là thửa số 706, tờ bản đồ số 7) cùng tọa lạc xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp có diện tích đo đạc thực tế là 6.110,6m², hiện trạng do ông T và ông T1 đang trực tiếp sử dụng trồng lúa, ông T sử dụng diện tích 4.131,5m², ông T1 sử dụng diện tích 1.979,1m²; tuy nhiên, ông T xác định diện tích đất thuộc quyền sử dụng của ông là 3.900m² tương ứng với thửa số 1 trong phạm vi các mốc M6-M7-M8-M12 theo sơ đồ đo đạc ngày 28/02/2025, phần đất chênh lệch dư thì ông đồng ý trả lại cho ông T1 tiếp tục sử dụng.
[11] Căn cứ vào giấy xác nhận thành viên hộ gia đình ông Nguyễn Văn T1 tại thời điểm ngày 15/12/1999 bao gồm các thành viên: Ông Nguyễn Văn T1 (chủ hộ), bà Cao Mỹ L (vợ chủ hộ), ông Nguyễn Văn T (em vợ chủ hộ), ông Nguyễn Thanh P1 (em vợ chủ hộ), ông Nguyễn Văn H3 (cha vợ chủ hộ), bà Võ Thị M2 (mẹ vợ chủ hộ), anh Nguyễn Thanh S (em vợ chủ hộ) và Nguyễn Văn T2 (con chủ hộ). Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm, ông T1 và bà L đều xác định không biết ông Nguyễn Văn T và Nguyễn Thanh P1 là ai, đối với ông H3 và bà M2 và anh S mặc dù đăng ký thường trú chung hộ nhưng không sống chung và cũng không trực tiếp tham gia sản xuất nông nghiệp. Do đó, Hội đồng xét xử xác định thành viên Hộ gia đình sử dụng đất trong hộ của ông T1 bao gồm ông Nguyễn Văn T1, bà Cao Mỹ L và anh Nguyễn Văn T2 và cũng chỉ có ba thành viên này cùng trực tiếp sử dụng đối với phần đất tranh chấp.
[12] Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T là có căn cứ nên chấp nhận. Công nhận cho ông Nguyễn Văn T được quyền sử dụng diện tích 3.900m² thuộc một phần thửa 188, tờ bản đồ số 8 (đối chiếu sang hệ thống bản đồ địa chính chính quy là thửa số 706, tờ bản đồ số 7) cùng tọa lạc xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp đất tọa lạc tại ấp D, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp được xác lập trong phạm vi các mốc M6-M7-M8-M12 theo sơ đồ đo đạc ngày 28/02/2025 do Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ xác lập. Do phần đất tranh chấp hiện ông Nguyễn Văn T đang quản lý và sử dụng nên không đặt ra nghĩa vụ giao đất.
[13] Xét lời trình bày của kiểm sát viên là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử như đã nêu trên.
[14] Về án phí:
[14.1] Do yêu cầu của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T được chấp nhận mà không phải đặt ra nghĩa vụ giao đất nên Hội đồng xét xử xác định vụ án thuộc trường hợp tranh chấp không có giá ngạch theo quy định của pháp luật, vì vậy ông Nguyễn Văn T1, bà Cao Mỹ L và anh Nguyễn Văn T2 phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật là 300.000 đồng.
[14.2] Ông Nguyễn Văn T không phải chịu án phí nên được hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí đã nộp là 4.875.000 (bốn triệu, tám trăm bảy mươi lăm nghìn) đồng theo biên lai số 0000991 ngày 16/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh.
[14.3] Căn cứ khoản 2 Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự, ông Nguyễn Văn P đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng ông P đã vắng mặt không có lý do nên sung vào công quỹ nhà nước số tiền tạm ứng án phí mà ông P đã nộp là 4.875.000 đồng theo biên lai số 0000992 ngày 16/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh.
[15] Về chi phí tố tụng: Do yêu cầu của ông Nguyễn Văn T được chấp nhận nên buộc ông Nguyễn Văn T1, bà Cao Mỹ L và anh Nguyễn Văn T2 phải chịu chi phí đo đạc với số tiền là 7.157.026 đồng, số tiền này ông Nguyễn Văn P đã nộp và đã chi xong nên ông T1 phải có trách nhiệm trả lại cho ông P.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a và c khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 157; Điều 165; Điều 217; Điều 218; Điều 227; Điều 228; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- - Căn cứ Điều 164 Bộ luật dân sự năm 2015.
- - Căn cứ Điều 26, Điều 236 Luật Đất đai năm 2024.
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Đình chỉ yêu cầu của ông Nguyễn Văn P về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn T1 làm thủ tục tách thửa, sang tên quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn P đối với diện tích 1.342,4m², thuộc thửa số 193, tờ bản đồ số 8, đất tọa lạc tại ấp D, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp và diện 1.979,1m², thuộc một phần thửa số 188, tờ bản đồ số 8 hiện do ông Nguyễn Văn T1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông Nguyễn Văn T.
- - Công nhận cho ông Nguyễn Văn T được quyền sử dụng diện tích 3.900m² thuộc một phần thửa 188, tờ bản đồ số 8 (đối chiếu sang hệ thống bản đồ địa chính chính quy là thửa số 706, tờ bản đồ số 7) cùng tọa lạc xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp đất tọa lạc tại ấp D, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp được xác lập trong phạm vi các mốc M6-M7-M8-M12 theo sơ đồ đo đạc ngày 28/02/2025 do Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ xác lập. Đối với diện tích đất đang tranh chấp hiện do ông Nguyễn Văn T đang quản lý và sử dụng nên không đặt ra nghĩa vụ giao đất.
- - Đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số bìa DQ 604474, số vào sổ cấp GCN: CN02474 do Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C, tỉnh Đồng Tháp cấp ngày 15/11/2024 cho hộ ông Nguyễn Thanh T8 thuộc thửa số 706, tờ bản đồ số 7, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp, để cấp lại cho ông Nguyễn Văn T theo diện tích mà ông T được quyền sử dụng như đã nêu trên. Đối với diện tích đất còn lại (ngoài phạm vi quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn T) của thửa số 706 nêu trên đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp lại cho người sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
- - Ông Nguyễn Văn T được quyền xác lập thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà mình được quyền sử dụng như đã nêu trên theo quy định.
- Về án phí:
- - Ông Nguyễn Văn T1, bà Cao Mỹ L và anh Nguyễn Văn T2 phải có trách nhiệm liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.
- - Ông Nguyễn Văn T không phải chịu án phí nên được hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí đã nộp là 4.875.000 (bốn triệu, tám trăm bảy mươi lăm nghìn) đồng theo biên lai số 0000991 ngày 16/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
- - Sung vào công quỹ nhà nước số tiền tạm ứng án phí ông Nguyễn Văn P đã nộp là 4.875.000 (bốn triệu, tám trăm bảy mươi lăm nghìn) đồng theo biên lai số 0000992 ngày 16/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
- Về chi phí tố tụng: Buộc ông Nguyễn Văn T1, bà Cao Mỹ L và anh Nguyễn Văn T2 phải chịu chi phí đo đạc với số tiền là 7.157.026 (bảy triệu, một trăm năm mươi bảy nghìn, không trăm hai mươi sáu) đồng, số tiền này ông Nguyễn Văn P đã nộp và đã chi xong nên ông T1, bà L và anh T2 phải có trách nhiệm liên đới trả lại cho ông P.
- Về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án và thời hiệu thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
(Kèm theo sơ đồ đo đạc ngày 28/02/2025 của Trung tâm K xác lập và các biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 04/8/2023 của Tòa án huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Trường Chinh |
Bản án số 36/2025/DS-ST ngày 06/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH về tranh chấp dân sự về quyền sử dụng đất
- Số bản án: 36/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp dân sự về quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
