Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2025/DS- PT

Ngày: 26/02/2025

V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

-Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán- chủ toạ phiên toà: Bà Triệu Thị Luyện.

Các thẩm phán: Ông Nguyễn Hà Giang, bà Nguyễn Thị Hằng

-Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Thương Hiền – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang: Bà Ngô Thị Vân Anh– Kiểm sát viên.

Trong ngày 26/02/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 258/2024/TLPT-DS ngày 12/12/2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 49/2024/DS-ST ngày 09 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 10/2025/QĐ-PT ngày 10/01/2025, các Quyết định hoãn phiên tòa số 22/2025/QĐ-PT ngày 24/01/20225 giữa:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1975 (có mặt)

Địa chỉ: Thôn C, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang

Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Triệu Hạnh H, Luật sư Hà Thị H1- Văn phòng L, Đoàn Luật sư tỉnh B (Luật sư H1 có mặt, Luật sư H vắng mặt)

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1970 (có mặt)

Địa chỉ: Thôn C, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Duy B, sinh năm 1972 (chồng bà T - vắng mặt)
  2. Địa chỉ: Thôn Chùa, xã Xuân Hương, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang

  3. Anh Nguyễn Duy H2, sinh năm 1995 (con bà T - vắng mặt)
  4. Địa chỉ: Thôn Chùa, xã Xuân Hương, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang

  5. Chị Nguyễn Thị H3, sinh năm 1996 (con bà T – vắng mặt)
  6. Địa chỉ: Thôn P, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh

    Người đại diện theo uỷ quyền của ông Nguyễn Duy B, anh Nguyễn Duy H2, chị Nguyễn Thị H3: Bà Nguyễn Thị T (theo Hợp đồng uỷ quyền ngày 17/4/2023 – có mặt )

  7. Bà Phạm Thị G, sinh năm 1976 (vợ ông D – có mặt)
  8. Địa chỉ: Thôn Chùa, xã Xuân Hương, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang

  9. Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1997 (con ông D – vắng mặt)
  10. Địa chỉ: Thôn Am, xã Xuân Hương, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang

  11. UBND xã X, huyện L.
  12. Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Văn T1 - Chức vụ: Chủ tịch UBND xã (vắng mặt)

  13. UBND huyện L, tỉnh Bắc Giang.
  14. Người đại diện theo uỷ quyền tham gia tố tụng: Ông Lương Văn B1 (văn bản số 16286/ QĐ-UBND ngày 13/12/2021 - vắng mặt)

* Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T; bị đơn - ông Nguyễn Văn D (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án dân sự sơ thẩm số 49/2024/DS-ST ngày 09/8/2024, tài liệu có trong hồ sơ, vụ án có nội dung như sau:

Theo đơn khởi kiện ngày 13/01/2023, quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Duy B, anh Nguyễn Duy H2, chị Nguyễn Thị H3 trình bày:

Hộ gia đình bà là chủ sử dụng thửa đất số 21, tờ bản đồ số 62, diện tích 195,5m²,địa chỉ thôn C, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Nguồn gốc đất là do bố chồng bà mua của Ban lãnh đạo thôn C từ năm 1993. Khi giao đất cho các hộ, thôn C có tiến hành đóng cọc mốc xác định mốc giới giữa các hộ, tứ cận thửa đất của gia đình bà được xác định: Phía Đông (mặt tiền) tiếp giáp đường liên thôn, phía Tây giáp thửa đất nhà ông Nguyễn Đức H4, phía Bắc giáp đường ngõ, phía Nam giáp đất nhà ông Nguyễn Văn D. Năm 1997, vợ chồng bà ra ở riêng trên thửa đất này, gia đình bà đã xây dựng nhà ở và sinh sống từ đó cho đến nay. Thời điểm gia đình bà xây dựng nhà ở, hộ ông D giáp đất nhà bà chưa ra sinh sống, khi bà xây dựng các công trình trên đất đã chủ động tạo lập ranh giới giữa đất của 02 gia đình bằng 02 bức tường, 01 bức tường chính là bức tường nhà ở của gia đình bà và 01 bức tường xây dựng tiếp nối thẳng với tường nhà ở kéo dài từ tường nhà ở đến sát cổng nhà, khi xây dựng 2 đoạn tường này bà xây dựng cách đường ranh giới đất giữa 02 gia đình nhà bà và ông D 10cm (móng đoạn tường xây giật cấp), như vậy ranh giới đất giữa gia đình bà và gia đình ông D được xác định là một đường thẳng cách mép tường nhà bà 10cm. Vài năm sau, gia đình ông D ra xây dựng nhà ở trên thửa đất tiếp giáp với đất của gia đình bà, khi đó ông D xây dựng căn nhà ở có tường nhà cách tường nhà bà khoảng 10cm. Ngày 24/8/2004, diện tích đất nêu trên đã được UBND huyện L đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P524976, số vào sổ 00868 QSDÐ/ QĐ1694 QĐ/UB(H) cho hộ ông Nguyễn Duy B (là chồng bà).

Khoảng tháng 10 năm 2022 (âm lịch), gia đình ông D khởi công xây dựng nhà có tường tiếp giáp với tường nhà bếp và công trình phụ của gia đình bà xây dựng từ năm 1997. Trước khi khởi công ông D có sang nói chuyện với gia đình bà, đề nghị trong quá trình xây dựng nếu có đoạn tường nào nhà bà xây cũ bị cong thì phá đi để nhà ông D xây nhà thì bà có quan điểm nếu tường nhà bà cong phần nào thì bà phá phần đó, còn nhà ông D xây nhà thì đề nghị ông xây theo mép tường cũ vì đây là ranh giới giữa 2 nhà. Tuy nhiên quá trình xây dựng thì gia đình ông D đã cho thợ phá công trình cũ của nhà ông D, xây sát mép tường nhà của gia đình bà mà không xây theo mép tường nhà cũ của ông D trước đây, đồng thời ông D xây dựng cột bê tông, đồ trần lấn chiếm sang khoảng không phía trên thửa đất của gia đình bà. Quá trình xem xét thẩm định bà xác định hộ ông D xây dựng lấn chiếm phần diện tích đất theo sơ đồ chồng ghép kết quả đo vẽ hiện trạng sử dụng đất ngày 10/7/2023 là hình tam giác ký hiệu các cạnh là ABF, diện tích lấn chiếm 0,6m². Khi bà phát hiện sự việc gia đình ông D xây dựng công trình lấn chiếm đất của gia đình bà, bà đã trực tiếp yêu cầu ông D tháo dỡ cột bê tông, dừng hoạt động xây dựng và báo tới chính quyền địa phương xã X nhưng ông D vẫn tiếp tục xây dựng.

Do đó bà khởi kiện yêu cầu Toà án xem xét buộc ông Nguyễn Văn D phải trả gia đình bà diện tích đất lấn chiếm theo kết quả đo đạc thẩm định tại chỗ ngày 10/7/2023 là phần hình tam giác ký hiệu các cạnh là ABF (sơ đồ chồng ghép hiện trạng sử dụng và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp 2004), diện tích lấn chiếm 0,6m², đề nghị ông D phải tháo dỡ toàn bộ công trình xây dựng trên phần đất lấn chiếm gồm bức tường xây lấn chiếm, cột bê tông, phần trần nhà đã xây, đổ trần phía trên thửa đất của gia đình bà.

Quá trình xét xử sơ thẩm, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày, về nguồn gốc thửa đất của gia đình bà và gia đình ông D đều mua của Ban Q năm 1993 để làm đường điện, khi mua 04 lô liền nhau đều có diện tích như nhau là 200m² và nộp tiền như nhau, sau này khi bà được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2004 diện tích cụ thể bao nhiêu bà không để ý, khi khởi kiện bà mới biết giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ gia đình bà ghi diện tích cấp 195,5m², hộ nhà ông D được cấp hơn 200m2. Bà đã sử dụng thửa đất từ năm 1997, khi nhà nước đo đạc năm 2003 để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bản thân bà và gia đình bà không được gọi ra để xác định ranh giới, mốc giới thửa đất giữa 2 nhà, gia đình bà đã xây dựng công trình trên đất từ năm 1997, trước thời điểm cơ quan nhà nước đo đạc để cấp giấy chứng nhận.

Bị đơn ông Nguyễn Văn D trình bày:

Gia đình ông có thửa đất số 61, tờ bản đồ số 21 tại thôn C, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang mua năm 1993, được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P524632, số vào sổ 00924 QSDĐ/QĐ1694QĐ/UB(H) ngày 24/8/2004, diện tích 214,1m², phía Đông Nam tiếp giáp đường liên thôn, phía T tiếp giáp với thửa đất hộ ông Nguyễn Đức H4, phía đông Bắc tiếp giáp thửa đất của hộ gia đình ông B, bà T, phía Tây Nam giáp thửa đất của hộ bà Nguyễn Thị C. Thời gian trước đây, do công trình phụ gia đình ông xuống cấp nên ông dỡ bỏ một phần công trình phụ để cải tạo xây dựng mới. Trước khi xây dựng, ông đã sang gia đình nhà bà T nói chuyện về đoạn tường nhà bà T xây cong sang phần sân bếp của gia đình ông, ông B, bà T có thừa nhận trước đây xây tạm bợ, chắp vá, không căng dây, bây giờ nhà ông xây kiên cố thì kéo dây mốc trước mốc sau cho thẳng, cong vẹo, nghiêng ở đâu thì tháo dỡ ở đấy để tránh sinh chuyện về sau này. Sau đó ông có nhờ người căng dây, câu dọi thì xác định đoạn tường nhà bà T tính từ tường hậu phía T giáp với nhà ông H4 kéo về phía Đông Nam từ khoảng cách 3,7m-6,6m đã xây lấn sang phần đất của nhà ông 13,5cm, phần trên tường nghiêng ngả sang thửa đất nhà ông 23,5cm, khi đó bà T biết và đổi ý nói nhờ địa chính xã về xác minh, ông cũng đồng ý và mời địa chính về xác minh. Địa chính xã đã xác nhận và giải thích cho bà T nhưng bà T không nghe, không tháo dỡ đoạn tường xây lấn sang đất nhà ông nên ông vẫn tiếp tục xây dựng và khi xây lên cao thì ông bảo thợ lái cột ra 8cm, khi thi công bà T yêu cầu UBND xã về yêu cầu gia đình đình chỉ thi công nhưng UBND xã xác định ông vẫn xây dựng trên phần đất của gia đình ông nên không đình chỉ được, hiện nay công trình gia đình ông đã hoàn thành công trình. Ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà T về việc buộc gia đình ông phải trả phần diện tích đất đã lấn chiếm. Quá trình giải quyết ông có yêu cầu phản tố, buộc gia đình bà Nguyễn Thị T trả phần diện tích đất lấn chiếm 1,1m², diện tích đất lấn chiếm tại vị trí theo sơ đồ chồng ghép ngày 10/7/2023 khi xem xét thẩm định là hình ABC (khu vực đầu hồi nhà bếp).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Ủy ban nhân dân huyện L trình bày:

Theo hồ sơ địa chính xã X lập năm 2004 có thể hiện: Hộ ông Nguyễn Văn B2 (vợ là bà Nguyễn Thị T) quản lý và sử dụng thửa đất 62, tờ bản đồ số 21, diện tích 195,5m²; hộ ông Nguyễn Văn D quản lý và sử dụng thửa đất 61, tờ bản đồ số 21, diện tích 214,1m². Ngày 24/8/2004, UBND huyện L đã cấp GCNQSD đất cho hộ ông Nguyễn Văn B2 và hộ ông Nguyễn Văn D đối với 02 thửa đất nêu trên. Việc cấp GCNQSD đất cho cho hộ ông Nguyễn Văn B2 và hộ ông Nguyễn Văn D là đảm bảo đúng quy định pháp luật.

Sau khi được cấp GCNQSD đất 02 hộ ông B2, bà T và hộ ông D sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp. Đến khoảng cuối năm 2022, đầu năm 2023, khi gia đình ông D xây dựng công trình nhà thì 02 hộ phát sinh tranh chấp, hộ bà Nguyễn Thị T đã khởi kiện ra Toà án nhân dân huyện Lạng Giang. Quá trình giải quyết vụ án, ngày 10/7/2023, Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang đã phối hợp với các cơ quan chuyên môn của huyện tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ và đo đạc toàn bộ các thửa đất đang có tranh chấp. Kết quả đo vẽ thửa đất của hộ gia đình như sau:

  • + Đối với thửa đất hộ ông Nguyễn Văn B2 (bà T) được thể hiện thửa đất số 1, diện tích đo đạc theo hiện trạng sử dụng đất là 196,7m² (tăng 1,2m² so với diện tích trong GCN quyền sử dụng đất được cấp).
  • + Đối với thửa đất hộ ông Nguyễn Văn D được thể hiện thửa đất số 2, diện tích đo đạc theo hiện trạng sử dụng đất là 214,5m² (tăng 0,4m² so với diện tích trong GCN quyền sử dụng đất được cấp).

Quan điểm của UBND huyện L về việc diện tích đất hiện tại 2 hộ đang sử dụng đều có sự sai lệch so với diện tích 2 hộ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (hộ ông B2 tăng 1,2m² so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hộ ông D tăng 0,4m² so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) là do sai số đo đạc trong các lần đo.

Tại Sổ địa chính lập năm 2004 có thể hiện: Hộ ông Nguyễn Văn B2 (vợ là bà Nguyễn Thị T) quản lý và sử dụng thửa đất 62, tờ bản đồ số 21, diện tích 195,5m² đã được UBND huyện cấp GCNQSD đất ngày 24/8/2004. Hộ ông Nguyễn Văn D quản lý và sử dụng thửa đất 61, tờ bản đồ số 21, diện tích 214,1m² đã được UBND huyện cấp GCNQSD đất ngày 24/8/2004.

Tại hồ sơ kết quả đo đạc theo bản đồ địa chính chính quy năm 2003 cả hộ ông D và hộ ông B2 đều thể hiện đúng theo hiện trạng bản đồ đo đạc và có ký giáp ranh liền kề xác định phần ranh giới chung.

Kiểm tra hiện trạng sử dụng đất của 2 hộ cho thấy: Hiện trạng hộ ông Nguyễn Văn D và hộ ông Nguyễn Văn B2 (bà T) thì các ranh giới, mốc giới giáp ranh liền kề đã được xây dựng tường bao và các công trình kiên cố làm ranh giới ngăn cách. Phần ranh giới giáp ranh giữa hộ ông D và hộ ông B2 (bà T) thì hiện trạng nhà ở và bức tường bao xây ngăn cách.

Quan điểm của UBND huyện đối với việc giải quyết tranh chấp nêu trên như sau: Đối với 02 hộ gia đình nêu trên thì tài liệu dùng để cấp GCNQSD đất là Bản đồ địa chính chính quy được đo đạc năm 2003. Ranh giới, mốc giới đã được thể hiện rõ ràng theo hồ sơ kết quả đo đạc. Không thể hiện việc cấp chồng lấn lên giới giữa 2 hộ. Căn cứ vào Luật đất đai, nguồn gốc, diễn biến việc sử dụng đất, căn cứ vào hồ sơ địa chính và hiện trạng công trình. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện xem xét giải quyết vụ việc theo đúng quy định pháp luật đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự.

Thời điểm đo đạc bản đồ năm 2003, các hộ dân tự xác định ranh giới, mốc giới giữa các hộ và theo hồ sơ kỹ thuật thửa đất thì các hộ có ký giáp ranh. Quá trình từ thời điểm UBND cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì không nhận được khiếu nại nào về việc cấp giấy của hộ bà T hay ông D. UBND chỉ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với đất, không cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với tài sản trên đất. Hiện nay ranh giới mốc giới trước sau vẫn rõ ràng do đó không có việc UBND cấp chồng lấn phần đất của hộ gia đình bà T sang cho hộ ông D.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Ủy ban nhân dân xã X, huyện L trình bày:

Theo hồ sơ địa chính xã X lưu trữ và bản đồ địa chính đo đạc năm 2003 có thể hiện: Hộ ông Nguyễn Văn B2 (vợ là bà Nguyễn Thị T) quản lý và sử dụng thửa đất 62, tờ bản đồ số 21, diện tích 195,5m²; hộ ông Nguyễn Văn D quản lý và sử dụng thửa đất 61, tờ bản đồ số 21, diện tích 214,1m². Ngày 24/8/2004, UBND huyện L đã cấp GCNQSD đất cho hộ ông Nguyễn Văn B2 và hộ ông Nguyễn Văn D đối với 02 thửa đất nêu trên. Sau khi được cấp GCNQSD đất 02 hộ ông B2, bà T và hộ ông D sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp. Đến năm 2022, khi gia đình ông D xây dựng công trình nhà thì 02 hộ phát sinh tranh chấp, hộ bà Nguyễn Thị T đã khởi kiện ra Toà án nhân dân huyện Lạng Giang. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xem xét thẩm định thi thấy hiện tại diện tích đất của 02 hộ sử dụng đều có sai lệch so với diện tích 02 hộ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đây là sai số đo đạc. U đề nghị Tòa án xem xét giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

Thời điểm năm 1993 UBND xã X có chủ trương bán 1 số lô đất để làm đường điện cho thôn, khi đó khu vực thửa đất nhà bà T, ông D đang sử dụng hiện nay nằm trong diện các lô đất được phân lô bán ở thời điểm đó. Hiện nay UBND xã X không lưu giữ được hồ sơ nào liên quan đến nội dung này. Theo đề án đo đạc bản đồ địa chính năm 2003 thì các hộ dân tự xác định mốc giới thửa đất khi đo đạc, ký giáp ranh giữa các hộ và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2004, trên thực tế hiện nay 04 lô liền nhau khu vực nhà bà T, ông D đều có diện tích khác nhau khi được đo đạc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2004.

Quá trình giải quyết, Tòa án tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ và định giá đối với diện tích đất đang tranh chấp, kết quả như sau:

  • - Đối với diện tích đất của hộ ông Nguyễn Duy B (hộ bà T): Hiện trạng hộ bà T đang sử dụng 196,7m² (thừa 1,2m² so với diện tích trong GCN quyền sử dụng đất được cấp).
  • - Đối với diện tích đất của hộ ông Nguyễn Văn D: Hiện trạng hộ ông D đang sử dụng 214,5m² (thừa 0,4m² so với diện tích của thửa đất trên bản đồ đo đạc năm 2003).

Phần diện tích đất tranh chấp bà T đang yêu cầu giải quyết là hình tam giác ký hiệu các cạnh là ABF (trên sơ đồ chồng ghép hiện trạng sử dụng đất và tờ bản đồ cấp giấy chứng nhận) có diện tích 0,6m² (trong đó cạnh AF = 6,68m là bức tường dầm tầng 2 xây thò ra so với móng tầng 1; cạnh AB = 0,18m là bức tường dầm tầng 2 xây thò ra so với móng của tầng 1; cạnh BC = 6,68m là bức tường móng của tầng 1).

Phần diện tích đất tranh chấp ông D đang yêu cầu giải quyết là phần đất bà T đã xây dựng đầu hồi nhà bếp, là hình tam giác ký hiệu các cạnh là ABC (trên sơ đồ chồng ghép hiện trạng sử dụng đất và tờ bản đồ cấp giấy chứng nhận) có diện tích 1,1m² (trong đó cạnh cạnh AB = 0,18m, cạnh BC = 4,24+4,07+2,53m, cạnh CA = 10,78m)

Bà T xác định: Tại vị trí tranh chấp bà đang khởi kiện thì hộ ông D đã xây đoạn tường nhà trần từ tầng 1 và lên tầng 2 đổ trần, cột xây tường chìa sang khoảng không 0,18m sang phần đất của gia đình bà.

Ông D xác định: Phần diện tích đất bà T khởi kiện buộc ông trả lại không có căn cứ, hộ bà T xây tường đầu hồi nhà bếp từ năm 1997 lấn chiếm đất của nhà ông, phần đất lấn chiếm là 1,1m² theo Sơ đồ chồng ghép ngày 10/7/2023 là điểm ABC.

* Kết quả định giá tài sản ngày 10/7/2023 theo yêu cầu của nguyên đơn như sau:

Đất tại khu vực có tranh chấp thuộc đất vị trí 1, mặt đường thuộc đoạn trường mầm non thôn C đi xã M có giá thị trường 14.000.000đ/1m²; 01 nhà cấp 3 loại 2 xây dựng năm 2003 cải tạo và xây dựng mới năm 2022 (nhà ông D xây dựng) có phần xây dựng năm 2003 trị giá 66.228.400 đồng, phần cơi nới năm 2022 có giá 768.075.000đồng, phần bắn mái tôn tầng 3 có giá 9.378,400đồng; các tài sản có thể di dời Hội đồng không định giá; nhà cấp 4 loại 2 xây dựng năm 1997 (nhà bà T xây dựng) có giá 8.618.400đồng, khu chăn nuôi loại C (nhà bà T xây dựng) có giá 4.280.000đồng.

Theo kết quả thẩm định tại chỗ bổ sung ngày 10/7/2024 xác định: kiểm tra mốc giới trước sau của 02 thửa đất hộ ông D và hộ bà T xác định trùng khớp với kết quả đo đạc thẩm định ngày 10/7/2023. Tuy nhiên, bà T xác định: cạnh phía Tây thửa đất nhà ông D xây lấn sang phần đất nhà bà T 25cm tính từ tường nhà bà T kéo sang phần đất của nhà ông D, bà T đề nghị tính lại diện tích của nhà ông D theo số liệu đo đạc ngày 10/7/2023 nhưng khi tính thì cạnh phía Tây của hộ ông D cách tường nhà bà 25cm. Ông D xác định phần đất phía Tây thửa đất nhà ông đã xây hết phần đất nhà ông, không lấn sang phần đất của gia đình bà T. Tòa án đề nghị Công ty cổ phần H5 tính toán số liệu theo yêu cầu của bà T để xác định diện tích của 02 hộ gia đình thì theo yêu cầu của bà T tại cạnh phía Tây của 02 thửa đất hộ ông D lấn chiếm 25cm phần diện tích đất của thửa đất gia đình bà T thì khi tính lại phần diện tích theo yêu cầu của bà T thì diện tích thửa đất hộ gia đình bà T là 198,1m², diện tích nhà ông D là 214m².

Tại biên bản xác minh, ông Nguyễn Duy U, sinh năm 1942 (ông Ư là bố chồng bà T) trình bày:

Thời điểm năm 1993, UBND xã X có chủ trương bán 1 số lô đất để làm đường điện cho thôn. Khi đó ông là Bí thư chi bộ thôn C, gia đình ông cũng mua 01 lô đất hiện nay lô đất này ông đã cho vợ chồng bà T, ông B sử dụng, hộ ông B đã được cấp giấy chứng nhận lô đất này. Khi mua thì có 04 lô liền kề diện tích các lô được đo dây, đóng cọc diện tích 200m² với giá mỗi lô 3 triệu đồng. Khoảng năm 1996 gia đình ông đã xây 01 căn nhà 03 gian (hiện nay là nhà bếp của gia đình bà T), ông không nhớ chiều dài các cạnh thửa đất ông mua cụ thể như thế nào nhưng thửa đất ông mua chiều dài mặt tiền dài hơn chiều dài phía sau của thửa đất, khi xây dựng nhà 03 gian thì ông vẫn để lại 01 rãnh thoát nước vì phía sau thửa đất có ao của gia đình nhà người khác. Ông đề nghị Tòa án không triệu tập ông đến phiên tòa.

Tại biên bản xác minh, ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1968 (địa chỉ: Thôn C, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang) trình bày:

Thời điểm năm 1993 thôn C có thực hiện chủ trương bán đất để làm đường điện cho thôn, khi đó khu vực đất nhà bà T, ông D phân làm 04 lô có diện tích 200m² như nhau nhưng được đo đạc bằng thước dây. Khi đó ông Nguyễn Ngọc S là trưởng thôn (đã chết) nhờ ông đi đóng cọc cho từng lô, khi đóng cọc từng lô các nhà chưa bốc phiếu nên không biết nhà nào được lô nào, các ông chỉ đóng cọc ở đâu thì ông đóng ở đó, chiều dài chiều rộng các lô ông không biết, nay trên thực tế sử dụng đất không còn mốc giới đóng cọc trước đây. Ông xin từ chối đến Tòa án tham gia phiên tòa.

Tại biên bản xác minh,ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1938 (địa chỉ: Thôn C, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang) trình bày:

Thời điểm năm 1993 thôn C có kế hoạch bán đất để làm đường điện cho thôn. Khi đó khu đất nhà bà T, ông D phân ra làm 04 lô để bán có diện tích mỗi lô 200m², giá bán 3 triệu đồng/01 lô, khi đó ông cũng bốc được 01 lô giáp với thửa đất nhà ông N1 (bố của ông D). Thời điểm đó thôn đóng cọc, chia lô, việc đo đạc bằng thước dây. Sau khi mua ông cho con gái là bà Nguyễn Thị C lô đất này. Sau khoảng 10 năm thì mới được cấp giấy chứng nhận, diện tích lô chị C hiện nay được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 208m². Ông từ chối không tham gia phiên tòa theo giấy mời của Tòa án.

Với nội dung nêu trên, Bản án dân sự sơ thẩm số 49/2024/DS-ST ngày 09/8/2024 của Toà án nhân dân huyện Lạng Giang đã quyết định:

Căn cứ Điều 98, Điều 99, Điều 100, Điều 166, Điều 170, Điều 179, khoản 1 Điều 203 của Luật đất đai;

Căn cứ khoản 9 Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 155, Điều 157, Điều 158, Điều 163, Điều 165, Điều 166, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 24, Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T về việc buộc ông Nguyễn Văn D phải trả cho gia đình bà Nguyễn Thị T phần diện tích đất lấn chiếm 0,6m² là hình tam giác ABF nằm trong thửa đất số 62, tờ bản đồ số 21 của hộ ông Nguyễn Văn B2.
  2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn D: Buộc bà Nguyễn Thị T và các thành viên trong hộ gia đình gồm ông Nguyễn Duy B, anh Nguyễn Duy H2, chị Nguyễn Thị H3 thanh toán trả cho gia đình ông Nguyễn Văn D do ông D đại diện giá trị phần đất diện tích 1,1m² là hình tam giác ký hiệu ABC theo Sơ đồ kèm theo bảo án, trong đó cạnh cạnh AB = 0,18m, cạnh BC = 4,24+4,07+2,53m, cạnh CA = 10,78m) do đã sử dụng, xây lấn sang thửa đất hộ gia đình ông Nguyễn Văn D theo giá trị định giá theo thị trường là 15.400.000₫ (Mười lăm triệu bốn trăm nghìn đồng).
  3. Giao cho bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Duy B, anh Nguyễn Duy H2, chị Nguyễn Thị H3 được quyền sử dụng đối với phần diện tích 1,1m² là hình tam giác ký hiệu ABC (theo Sơ đồ kèm theo bảo án), trong đó cạnh AB = 0,18m, cạnh BC = 4,24+4,07+2,53m, cạnh CA = 10,78m) thuộc thửa đất số 61, tờ bản đồ số 21 được UBND huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P524632, số vào sổ 00924 QSDĐ/QĐ1694QĐ/UB(H) ngày 24/8/2004.

Các đương sự có quyền đến cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục điều chỉnh đối với giấy chứng nhận quyền sử đất.

(Có sơ đồ kèm theo bản án)

Ngoài ra bản án còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm, nghĩa vụ chịu chi phí tố tụng, quyền kháng cáo cho các bên đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm:

  • - Ngày 19/8/2024, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T nộp đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.
  • - Ngày 21/8/2024 bị đơn ông Nguyễn Văn D nộp đơn kháng cáo, đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu phản tố của ông D, buộc gia đình bà T phải trả diện tích đất lấn chiếm bằng đất, không đồng ý nhận bằng tiền.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bà T giữ nguyên nội dung kháng cáo và trình bày: Phần diện tích đất đang có tranh chấp thuộc thửa số 61 tờ bản đồ 21 diện tích 195,5m² đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2004. Nguồn gốc thửa đất gia đình bà mua vào năm 1993, năm 1997 gia đình bà làm nhà bếp, công trình phụ trên đất. Ranh giới đất nhà bà T với ông D là tường bếp xây năm 1997 hiện vẫn còn. Theo kết quả đo đạc thì hiện trạng đất nhà bà T tăng, lý do tăng bà không biết.

Ông D giữ nguyên nội dung kháng cáo và trình bày: Nguồn gốc thửa đất số 62 tờ bản đồ 21 gia đình ông mua năm 1993, năm 2004 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì gia đình bà T đã làm nhà bếp trên đất của bà T. Ranh giới đất giữa hai gia đình ban đầu là cọc tre đóng từ năm 1993, sau đó hai gia đình làm nhà thì ranh giới là tường nhà của cả hai gia đình. Theo kết quả đo đạc thì hiện trạng đất nhà ông tăng,lý do ông không biết.

Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Đề nghị hủy bản án dân sự sơ thẩm vì Tòa sơ thẩm không chuyển hồ sơ lên Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang để giải quyết theo thẩm quyền vì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cả phần đất có công trình xây dựng của bà T cho ông D; Tòa sơ thẩm có một số vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng (không thông báo thụ lý yêu cầu phản tố cho bị đơn, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, kết quả xem xét thẩm định không đúng), nhận định của bản án không phù hợp với thực tế.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu quan điểm:

  • - Về việc chấp hành pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở Tòa án cấp phúc thẩm: Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ và đúng các thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng chấp hành nội quy phiên tòa và thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình khi tham gia tố tụng.
  • - Về việc giải quyết vụ án:

Hộ gia đình bà T là chủ sử dụng thửa đất số 21, tờ bản đồ số 62, diện tích 195,5m² tại địa chỉ Thôn C, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Nguồn gốc đất là do bố chồng bà T mua của Ban lãnh đạo thôn C từ năm 1993. Ngày 24/8/2004, diện tích đất nêu trên đã được UBND huyện L đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P524976, số vào sổ 00868 QSDĐ/QĐ1694QĐ/UB(H) cho hộ ông Nguyễn Duy B (hộ bà Nguyễn Thị T).

Gia đình ông D có thửa đất số 61, tờ bản đồ số 21 tại thôn C, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang mua năm 1993, được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P524632, số vào sổ 00924 QSDĐ/QĐ1694QĐ/UB(H) ngày 24/8/2004, diện tích 214,1m² cho hộ ông Nguyễn Văn D.

Theo kết quả xem xét, thẩm định tài sản tại chỗ và định giá tài sản ngày 10/7/2023 và kết quả thẩm định bổ sung ngày 10/7/2024, xác định được như sau: Đối với diện tích đất của hộ ông Nguyễn Duy B (hộ bà T) thì hiện trạng hộ bà T đang sử dụng 196,7m² (thừa 1,2m² so với diện tích trong GCN quyền sử dụng đất được cấp). Đối với diện tích đất của hộ ông Nguyễn Văn D thì hiện trạng hộ ông D đang sử dụng 214,5m² (thừa 0,4m² so với diện tích của thửa đất trên bản đồ đo đạc năm 2003).

Phần diện tích đất tranh chấp bà T đang yêu cầu giải quyết là hình tam giác ký hiệu các cạnh là ABF (trên sơ đồ chồng ghép hiện trạng sử dụng đất và tờ bản đồ cấp giấy chứng nhận) có diện tích 0,6m². Phần diện tích đất tranh chấp ông D đang yêu cầu giải quyết là phần đất bà T đã xây dựng đầu hồi nhà bếp, là hình tam giác ký hiệu các cạnh là ABC (trên sơ đồ chồng ghép hiện trạng sử dụng đất và tờ bản đồ cấp giấy chứng nhận) có diện tích 1,1m². Theo Thông tư số 25/2014/TT- BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ T3 quy định về bản đồ địa chính thì phần diện tích đất tranh chấp nêu trên nằm trong phạm vi sai số cho phép.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, xử: Chấp nhận một phần kháng cáo của bà T, không chấp nhận kháng cáo của ông D; sửa một phần bản án sơ thẩm số 49/2024/DS-ST ngày 09/8/2024 của TAND huyện Lạng Giang theo hướng không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông D. Bà T phải chịu 420.000đồng án phí dân sự sơ thẩm, ông D phải chịu 770.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Bà T và ông D mỗi người phải chịu 6.500.000 đồng chi phí tố tụng. Bà T và ông D không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về sự vắng mặt của các đương sự tại phiên tòa: Một số người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa . Căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự.

[2] Xét nội dung kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn Hội đồng xét xử thấy:

[2.1] Hộ bà Nguyễn Thị T được UBND huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 62, tờ bản đồ số 21, diện tích 195,5m², địa chỉ thôn C, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang ngày 24/8/2004, số vào sổ 00868 QSDĐ/QÐ1694QĐ/UB(H), tên người sử dụng đất hộ ông Nguyễn Duy B. Hộ ông Nguyễn Văn D được UBND huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất số 61 tờ bản đồ 21 diện tích 214,1m², địa chỉ thôn C, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào số 00924 QSDĐ/QĐ1694QĐ/UB(H) ngày 24/8/2004, tên người sử dụng đất hộ ông Nguyễn Văn D.

[2.2] Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, kết quả đo đạc thì hiện trạng diện tích đất hộ bà T sử dụng là 196,7m², hiện trạng diện tích hộ ông D sử dụng là 214,5m². Như vậy, diện tích thửa đất gia đình bà T, gia đình ông D thực tế sử dụng đều tăng so với diện tích được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

[2.3] Bà T khởi kiện yêu cầu ông D trả 0,6m² đất, diện tích đất tranh chấp (theo bà T chỉ dẫn) thể hiện tại sơ đồ đo đạc thẩm định ngày 10/7/2023 nằm tại vị trí giáp ranh giữa hai hộ gia đình là hình tam giác ABC có các cạnh AB = 0,18m; BC = 6,66m; CA= 6,68m (theo sơ đồ chồng ghép phần đất tranh chấp này được ký hiệu là ABF). Theo kết quả đo đạc chồng ghép hiện trạng sử dụng đất của hộ gia đình bà T với bản đồ cấp Giấy chứng nhận năm 2003 đã xác định phần diện tích đất bà T khởi kiện yêu cầu gia đình ông D trả không nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ ông B (bà T) được nhà nước cấp mà nằm trên phần đất của thửa đất số 61, tờ bản đồ số 21 của hộ ông D đang quản lý sử dụng. Do vậy, Tòa sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T là có căn cứ. Tại cấp phúc thẩm, bà T không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào khác nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà T.

[2.4] Ông D yêu cầu bà T trả 1,1m² đất, diện tích đất tranh chấp (theo ông D xác định) thể hiện tại sơ đồ đo đạc thẩm định ngày 10/7/2023 là hình ABC (trên sơ đồ chồng ghép hiện trạng sử dụng đất và tờ bản đồ cấp giấy chứng nhận) trong đó cạnh AB = 0,18m, cạnh BC = 4,24+4,07+2,53m, cạnh CA = 10,78m. Theo kết quả chồng ghép sơ đồ hiện trạng sử dụng đất của hộ gia đình ông D với bản đồ cấp Giấy chứng nhận năm 2003 đã xác định phần tranh chấp ông D yêu cầu bà T trả nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ ông D được nhà nước cấp giấy chứng nhận năm 2004. Tuy nhiên, theo trình bày của ông D, bà T thì phần diện tích đất này bà T đã sử dụng xây tường nhà bếp từ năm 1997 - xây trước thời điểm ông D được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Từ trước và sau khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gia đình ông D cũng không có bất cứ tranh chấp hay khiếu nại gì về việc sử dụng đất của bà T, cũng không có ý kiến gì về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của UBND huyện L. Diện tích đất hiện gia đình bà T, ông D đều tăng so với diện tích được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. UBND huyện L xác định diện tích đất các hộ tăng là do sai số đo đạc.

Như vậy, mặc dù kết quả đo đạc xác định 1,1m² đất ông D khởi kiện nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho gia đình ông D nhưng căn cứ vào hiện trạng sử dụng của thửa đất, trình bày của các đương sự không có căn cứ xác định gia đình bà T đã lấn chiếm diện tích đất theo kết quả chồng ghép bản đồ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2003 với hiện trạng sử dụng đất như ông D xác định. Mặt khác, diện tích 1,1 m² đất ông D kiện đòi bà T nằm trong sai số đo đạc cho phép khi lập bản đồ địa chính theo Thông tư 25/2014/TT- BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ T3 quy định về bản đồ địa chính, các công trình đã xây dựng trên phần đất này không làm ảnh hưởng đến quyền sử dụng đất của các đương sự trong vụ án. Do vậy, Tòa sơ thẩm chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn là không phù hợp, cần sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.

[3] Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn đề nghị hủy bản án sơ thẩm là không có căn cứ theo Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự nên không được chấp nhận.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Văn D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[5] Về chi phí tố tụng: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu phản tố của bị đơn không được chấp nhận nên bà T, ông D mỗi người phải chịu ½ chi phí đo đạc xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản theo khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 165 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do sửa bản án sơ thẩm nên bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Văn D không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận một phần kháng cáo của bà Nguyễn Thị T; không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn D, sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 49/2024/DS-ST ngày 09/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.

Căn cứ Điều 98, Điều 99, Điều 100, Điều 166, Điều 170, khoản 1 Điều 203 của Luật đất đai;

Căn cứ khoản 9 Điều 26, Điều 35, Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 2 Điều 148, khoản 1 Điều 157, Điều 158, khoản 1 Điều 165, Điều 166 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 26, khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử;

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T về việc buộc ông Nguyễn Văn D phải trả cho gia đình bà Nguyễn Thị T phần diện tích đất lấn chiếm 0,6m² là hình tam giác ABF nằm trong thửa đất số 61 tờ bản đồ 21, địa chỉ thôn C, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang (có sơ đồ kèm theo bản án).
  2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn D về việc Buộc bà Nguyễn Thị T trả diện tích 1,1m² là hình tam giác ký hiệu ABC nằm trong thửa đất số 62, tờ bản đồ số 21, địa chỉ thôn C, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Gian (có sơ đồ kèm theo bản án).
  3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    • - Bà Nguyễn Thị T phải chịu 420.000đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 450.000đồng tạm ứng án phí bà T đã nộp theo Biên lai nộp tiền tạm ứng án phí số 0005269 ngày 17/3/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang. Trả lại bà Nguyễn Thị T số tiền tạm ứng án phí còn lại là 30.000đồng.
    • - Ông Nguyễn Văn D phải chịu 770.000đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 385.000đồng đã nộp theo biên lai nộp tiền tạm ứng án phí số 0005751 ngày 20/9/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang. Ông Nguyễn Văn D phải nộp tiếp số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 385.000đồng.
  4. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản: Bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Văn D mỗi người phải chịu 6.500.000 đồng tiền chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản. Do bà Nguyễn Thị T đã nộp tạm ứng số tiền này và đã chi phí xong nên ông Nguyễn Văn D có trách nhiệm hoàn trả bà Nguyễn Thị T số tiền 6.500.000đồng.
  5. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Văn D không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.Trả lại bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Văn D mỗi người 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo biên lai số 0007757 ngày 19/8/2024, biên lai số 0007761 ngày 22/8/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • -VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • -TAND huyện Lạng Giang;
  • - Chi cục THADS huyện Lạng Giang;
  • -Các đương sự;
  • -Lưu HS vụ án; VP

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Triệu Thị Luyện

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 36/2025/DS-PT ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 36/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất giữa T và D
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger