Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NGHỆ AN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2025/DS-PT
Ngày: 25/3/2025
“V/v tranh chấp quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Thị Hồng Vân.
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hải Minh
Bà Trần Thị Mỹ Hải
- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Thanh Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Bằng Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự số 121/2024/TLPT-DS ngày 02 tháng 12 năm 2024, về việc “Tranh chấp về quyền sử dụng đất”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 27/2024/DS-ST ngày 15 tháng 8 năm 2024, của Tòa án nhân dân huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 41/2025/QĐ-PT ngày 27 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Hà Văn H, sinh năm 1963; Địa chỉ: Thôn I, xã C, huyện A, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
  2. Bị đơn:
    • + Bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1969; Địa chỉ: Thôn D, xã C, huyện A, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
    • + Ông Hà Văn N, sinh năm 1972; Địa chỉ: Thôn I, xã C, huyện A, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
  3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
    • + Bà Trần Thị M, sinh năm 1964; Địa chỉ: Thôn I, xã C, huyện A, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
    • + Ông Mai Hồng H1, sinh năm 1958; Địa chỉ: Thôn I, xã C, huyện A, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
    • + Bà Hoàng Thị L, sinh năm 1960; Địa chỉ: Thôn I, xã C, huyện A, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
    • + Bà Hoàng Thị H2, sinh năm 1969; địa chỉ: Thôn I, xã C, huyện A, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
    • + Chị Hà Thị Mai V, sinh năm 1992; địa chỉ: Thôn G, xã C, huyện A, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
    • + Anh Hà Ngọc A, sinh năm 1997; địa chỉ: Thôn D, xã C, huyện A, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
    • + Anh Hà Mạnh K, sinh năm 2000; địa chỉ: Thôn D, xã C, huyện A, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
  4. Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Hà Văn H.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và lời trình bày tại phiên tòa, của nguyên đơn ông Hà Văn H, thể hiện:

Năm 1988 gia đình ông được công ty L4 Anh S giao trông coi bảo vệ lô đất số 163, tiểu khu I tại khu vực hố tráng rú cồn thuộc xóm I, xã C, huyện A, tỉnh Nghệ An diện tích 0,7 ha. Đất gia đình ông được giao có vị trí tiếp giáp: phía Đông giáp ông Hà Văn L1, phía Tây giáp đất ông Thái Văn K1, phía Nam giáp ruộng, phía Bắc giáp ông Nguyễn Văn C, ông Lê Văn Đ và ông Nguyễn Văn L2. Năm 1994 gia đình ông được nhà nước cấp sổ lâm bạ xanh diện tích là 0,7 ha. Sau khi được cấp sổ Lâm bạ thì gia đình ông đã sẻ phát một phần để trồng chè, phần còn lại là các cây gỗ tự nhiên. Đến năm 2011 thì được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, năm 2015 thì gia đình ông tiến hành sẻ phát toàn bộ các cây gỗ tự nhiên còn lại để trồng keo.

Đến tháng 9/2015 gia đình ông Hà Văn N đến khai phá lấn chiếm trên lô đất gia đình ông H được giao. Ông đã có đơn kiến nghị đến Ủy ban nhân dân xã C và được Ủy ban nhân dân xã C giải trình khu vực đất đó đã được Ủy ban nhân dân huyện A, tỉnh Nghệ An cấp sổ đỏ cho ông Mai Hồng H1 theo nghị định 02 của chính phủ. Ông H1 đang cho ông Hà Văn N sử dụng để trồng keo. Ông H1 còn tự ý thỏa thuận chuyển nhượng đất cho bà Nguyễn Thị Q mà diện tích đất chuyển nhượng cho bà Q là đất của gia đình ông. Sau khi nhận chuyển nhượng bà Q đã trồng keo trên đó.

Sau khi phát hiện ông N và bà Q lấn chiếm đất của gia đình ông thì ông có gửi đơn lên Ủy ban nhân dân xã C, huyện A, tỉnh Nghệ An để hòa giải nhưng không thành. Vì vậy, ông đề nghị Tòa án buộc bà Nguyễn Thị Q trả lại toàn bộ diện tích đất lấn chiếm là 5.410,0 m² đất thuộc thửa đất số 312, tờ bản đồ số 01 tại xóm I (thôn I mới), xã C, huyện A, tỉnh Nghệ An và buộc ông Hà Văn N trả lại phần diện tích đất lấn chiếm là 2.500,0 m² đất thuộc thửa đất số 338, tờ bản đồ số 01 tại xóm I (thôn I mới), xã C, huyện A, tỉnh Nghệ An.

Tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn bà Nguyễn Thị Q trình bày:

Bà là vợ ông Hà Văn L1, năm 1988 gia đình bà được Ủy ban nhân dân huyện A, tỉnh Nghệ An cấp quyền sử dụng đất Lâm nghiệp đối với thửa đất số 312, tờ bản đồ số 01 tại xóm I (Thôn I mới), xã C, huyện A, tỉnh Nghệ An diện tích 2,6 ha. Đến năm 2002 ông L1 qua đời. Vì các con còn nhỏ nên bà không vào rừng sẻ phát được nên thửa đất không ai sử dụng. Đến năm 2016 ông Hà Văn H và ông Mai Hồng H1 xảy ra mâu thuẫn tranh chấp đất nên khi UBND xã C kiểm tra hồ sơ thì phát hiện ra phần diện tích đất được cấp cho ông H1 có 01 phần diện tích đất khoảng 3000 m² là của gia đình bà. Vì vậy giữa ông H1 và gia đình bà đã thỏa thuận ông H1 viết giấy chuyển nhượng lại diện tích đất hơn 3000 m² đất cho gia đình bà. Đến năm 2017, gia đình bà đã sẻ phát và trồng keo cho đến nay. Nay ông Hà Văn H yêu cầu bà phải trả phần diện tích đất là 5.410,0 m² đất mà ông H cho rằng bà đã lấn chiếm thì bà không đồng ý.

Tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn ông Hà Văn N trình bày:

Năm 2013, gia đình ông có đặt vấn đề mượn đất của ông Mai Hồng H1 để trồng keo phát triển kinh tế và được ông H1 đồng ý. Năm 2015, ông Hà Văn H bảo ông N lấn đất của ông H để trồng keo, nhưng vì vợ chồng ông N mượn đất của ông H1 nên vợ chồng ông N không lấn đất của ông H. Nay ông Hà Văn H yêu cầu ông Hà Văn N trả lại diện tích đất lấn chiếm là 2500.0m2 thì ông N và bà H không đồng ý, vì đất mà vợ chồng ông, bà đang quản lý và sử dụng là của ông Mai Hồng H1 chứ ông N, bà H không lấn chiếm đất của ông Hà Văn H.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Hoàng Thị H2 trình bày:

Bà là vợ của ông Hà Văn N. Năm 2013, gia đình bà có đặt vấn đề mượn đất của ông Mai Hồng H1 để trồng keo phát triển kinh tế và được ông H1 đồng ý. Năm 2015, ông Hà Văn H cho rằng gia đình bà đã lấn đất của ông H để trồng keo, nhưng vì vợ chồng bà mượn đất của ông H1 nên không lấn đất của ông H. Nay ông H yêu cầu gia đình bà trả lại diện tích đất lấn chiếm là 2500.0m2 thì bà không đồng ý, vì đất mà gia đình bà đang quản lý và sử dụng là của ông Mai Hồng H1 chứ không phải của ông N.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị M trình bày:

Bà là vợ của ông Hà Văn H. Bà thống nhất với lời trình bày của nguyên đơn ông Hà Văn H về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị Q trả lại toàn bộ diện tích đất lấn chiếm là 5410,0 m², buộc ông Hà Văn N trả lại phần diện tích đất lấn chiếm là 2500,0 m², nhưng bà trình bày thêm: qua xem xét thẩm định tại chỗ và hiện trạng sử dụng thì phần đất mà gia đình bà được giao có diện tích 1.9535,6 m². Thửa đất số 338 được giao cho ông L1 có diện tích 8337,7 m². Tuy nhiên hàng rào từ năm 1988 đã bị phá bỏ phần tiếp giáp ông L1 chỉ còn các cọc gỗ của hàng rào cũ làm ranh giới, quá trình sử dụng đất gia đình bà không cơi nới, mở rộng diện tích đất cũng như không lấn chiếm của các hộ liền kề. Hiện phần diện tích đất của gia đình bà đang bị bà Q và ông N lấn chiếm.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Mai Hồng H1 và bà Hoàng Thị L trình bày:

Năm 2011, ông Mai Văn D là chủ thửa đất trước đây và vợ chồng ông đã thỏa thuận thống nhất tách bìa và chuyển bìa đỏ sang tên cho ông Mai Hồng H1 và bà Hoàng Thị L. Thửa đất đã được Ủy ban nhân dân huyện A, tỉnh Nghệ An cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Mai Hồng H1 và bà Hoàng Thị L. Năm 2016, giữa gia đình ông H1 và ông H đã xẩy ra mâu thuẫn tranh chấp đất, ông H cho rằng ông H1 đã lấn chiếm đất ông H, trong quá trình giải quyết thì ông được biết diện tích thửa đất mà ông H1 đã được cấp bìa có chồng lấn diện tích đất của ông Hà Văn L1 nên giữa ông và bà Q (vợ ông L1) đã thỏa thuận viết giấy chuyển nhượng 3000 m² đất để trả lại cho bà Q. Còn diện tích đất còn lại thì ông cho ông N và bà H mượn đất để trồng keo làm ăn kinh tế.

Nay ông Hà Văn H khởi kiện yêu cầu buộc bà Nguyễn Thị Q trả lại toàn bộ diện tích đất lấn chiếm là 5410,0 và buộc ông Hà Văn N trả lại phần diện tích đất lấn chiếm là 2500 m² (Hai nghìn năm trăm), tổng diện tích ông H yêu cầu bà Q và ông N phải trả cho gia đình ông H là 7910,0m2 thì ông H1 không đồng ý. Vì diện tích đất 5410m² (Năm nghìn bốn trăm mười) đó là của bà Q và phần diện tích đất là 2500 m² (Hai nghìn năm trăm) mà ông H cho rằng ông N đang lấn chiếm là đất của vợ chồng ông H1 bà L.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Hà Thị Mai V, anh Hà Mạnh K, anh Hà Ngọc A trình bày:

Chị V, anh K và anh A là con của ông L1 và bà Q, trước đây ông Hà Văn L1 được nhà nước cấp cho 01 thửa đất rừng tại thôn I, xã C, huyện A, tỉnh Nghệ An. Năm 2002 ông Hà Văn L1 mất cho đến năm 2016 bà Q tiếp quản thửa đất của ông Hà Văn L1. Năm 2017 bà Q có trồng keo và đã thu hoạch được một lứa hiện tại đang trồng lứa keo thứ hai đã được 02 năm tuổi. Nguồn gốc thửa đất bà Q đang quản lý và sử dụng là được thừa kế từ ông L1 và chị V, anh K, anh A đều không có ý kiến gì. Việc ông Hà Văn H yêu cầu bà Q trả phần diện tích đất mà ông H cho rằng bà Q đã lấn chiếm của ông H thì chị V, anh K và anh A đều không đồng ý, vì thửa đất đó là đất của ông L1 và bà Q.

Với nội dung trên, bản án sơ thẩm số 27/2024/DS-ST ngày 15 tháng 8 năm 2024, của Tòa án nhân dân huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An đã quyết định:

Căn cứ vào các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 235 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 3, Điều 4, Điều 101, Điều 166, Điều 203 Luật đất đai 2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

- Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hà Văn H về việc buộc bà Nguyễn Thị Q trả lại toàn bộ diện tích đất lấn chiếm là 5410 m² đất thuộc thửa đất số 312, tờ bản đồ số 01 tại xóm I (Thôn I mới), xã C, huyện A, tỉnh Nghệ An và buộc ông Hà Văn N trả lại phần diện tích đất lấn chiếm là 2500 m² đất thuộc thửa đất số 338, tờ bản đồ số 01 tại xóm I (Thôn I mới), xã C, huyện A, tỉnh Nghệ An.

Bản án còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 28 tháng 8 năm 2024, nguyên đơn ông Hà Văn H kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm số 27/2024/DS-ST ngày 15 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại bản án dân sự sơ thẩm và giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật, huỷ bản án dân sự sơ thẩm của Toà án nhân dân huyện Anh Sơn.

Tại phiên tòa ông Hà Văn H giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân phát biểu quan điểm:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng: Trong quá trình thụ lý vụ án đến khi xét xử phúc thẩm, Thẩm phán được phân công đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng trình tự, thủ tục phiên tòa. Người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về thủ tục kháng cáo: Nguyên đơn ông Hà Văn H kháng cáo trong thời hạn luật định, có đơn xin miễn nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm và thuộc trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí theo quy định tại Nghị quyết 326/2016/UBTVQH của Ủy ban thường vụ Quốc hội nên được Tòa án cấp phúc thẩm thụ lý, giải quyết vụ án là đúng pháp luật.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Hà Văn H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự, kết quả tranh tụng và ý kiến Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Hà Văn N và một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt những người này theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 2 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung: Xét nội dung kháng cáo của ông Hà Văn H - Ông Hà Văn H yêu cầu buộc bà Nguyễn Thị Q trả lại toàn bộ diện tích đất lấn chiếm là 5.410,0 m² đất thuộc thửa đất số 312, tờ bản đồ số 01 tại xóm I (thôn I mới), xã C, huyện A, tỉnh Nghệ An và buộc ông Hà Văn N trả lại phần diện tích đất lấn chiếm là 2.500,0 m² đất thuộc thửa đất số 338, tờ bản đồ số 01 tại xóm I (thôn I mới), xã C, huyện A, tỉnh Nghệ An, thấy rằng:

[2.1] Về nguồn gốc và diện tích các thửa đất:

[2.1.1] Nguyên đơn là ông Hà Văn H khai: Năm 1988 gia đình ông được công ty L4 S giao trông coi bảo bảo vệ lô đất số 163, tiểu khu I tại khu vực hố tráng rú cồn thuộc xóm I, xã C, huyện A, tỉnh Nghệ An diện tích 0,7 ha. Năm 1994 được cấp sổ lâm bạ xanh, diện tích là 0,7ha, nay là thửa đất số 319, tờ bản đồ số 01. Đến năm 2011, ông H được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất 319, diện tích ghi trong GCNQSDĐ là 6964 m². Quá trình giải quyết vụ án, ông H khai ngoài thửa đất số 319, ông không được cấp thửa đất nào khác. Các tài liệu, chứng cứ mà ông H giao nộp gồm: Giấy chứng nhân quyền sử dụng đất ngày 02/11/2011 mang tên ông Hà Văn H và bà Trần Thị M vào sổ cấp giấy số H00703/QĐ3447; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất AL 506885 không có ngày tháng, năm 200 mang tên ông Mai Văn D và bà Hoàng Thị T vào sổ cấp giấy số H00124; giấy chứng nhân quyền sử dụng đất không có ngày tháng, năm 200 mang tên ông Hà Văn H và bà Trần Thị M vào sổ cấp giấy số H00683(bản sao phô tô chứng thực); Hồ sơ giao đất lâm nghiệp ngày 15/10/1998 cấp cho chủ hộ ông Hà Văn H; Hồ sơ giao đất Lâm nghiệp ngày 15/10/1998 cấp cho chủ hộ ông Mai Văn D; Hồ sơ giao đất Lâm nghiệp ngày 15/10/1998 cấp cho chủ hộ ông Hà Văn L1 (bản sao phô tô chứng thực); Biên bản giải quyết tranh chấp đất rừng ngày 09/10/2015; Thông báo số 31/TB-UBND ngày 27/10/2015 của UBND xã C thông báo kết quả giải quyết đơn thư công dân; Biên bản làm việc ngày 03/8/2016 tại UBND xã C; Biên bản hòa giải tranh chấp đất rừng ngày 22/9/2017; Công văn số 33/CV-UBND ngày 01/11/2017 của UBND xã C về kết quả hòa giải tranh chấp đất đai theo CV số 814/UBND-TNMT ngày 11/9/2017 của UBND huyện A, Biên bản giải quyết ngày 31/3/2022 tại UBND xã C, huyện A (bản phô tô chứng thực); Đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 22/12/2006 của ông Hà Văn H; biên bản xác định ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 25/4/2002 của ông Hà Văn H; đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 23/1/2007 của ông Mai Hồng H1; biên bản xác định ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 25/4/2002 của ông Mai Hồng H1 (phô tô).

[2.1.2] Ông Hà Văn N cho rằng: Đất mà vợ chồng ông, bà đang quản lý và sử dụng thuộc thửa đất 338 là của ông Mai Hồng H1 chứ không phải đất của ông H, ông N không lấn chiếm đất ông H.

[2.1.3] Bà Nguyễn Thị Q cho rằng: Diện tích đất bà đang sử dụng là của vợ chồng bà (Ông L1 bà Q), sau khi chồng bà chết thì bà vẫn tiếp tục sử dụng, không liên quan đến đất ông H và bà cũng không lấn chiếm đất ông H.

[2.1.4] Tài liệu, chứng cứ và lời khai của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án thể hiện:

  • - Đối với thửa đất số 319: Hồ sơ giao đất lâm nghiệp, Quyết định giao quyền quản lý sử dụng đất lâm nghiệp số 704 ngày 15/10/1998 giao cho ông Hà Văn H quản lý, sử dụng 0.7 ha thửa 163 (Nay là thửa đất số 319). Ngày 02/11/2011, ông H bà M được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 498989 đối với thửa đất số 319, tờ bản đồ số 01 tại R, Xóm I, xã C, huyện A, tỉnh Nghệ An, diện tích được cấp là 6964 m².
  • - Đối với thửa đất số 312: Lâm bạ, Quyết định số 707 ngày 15/10/1998 giao quyền quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp thể hiện giao cho ông Hà Văn L1 thửa đất 164 (diện tích 0.7 ha) và 165 (Diện tích 1.9ha), tổng diện tích 2.6ha (đã thu hồi 0.7ha), còn lại hiện nay do bà Nguyễn Thị Q (Vợ ông L1) quản lý, sử dụng.
  • - Đối với thửa đất số 338: Thửa đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 498969 ngày 27/7/2011 đối với thửa đất số 338, diện tích cấp là 14.604 m² mang tên hộ ông Mai Hồng H1 và bà Hoàng Thị L.

Như vậy, đối với thửa đất số 319 mang tên ông Hà Văn H và bà Trần Thị L3, diện tích đất từ khi được giao đất theo Quyết định giao đất lâm nghiệp năm 1998 thể hiện diện tích của thửa đất là 0.7 ha (7000 m²), Biên bản cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quá trình đo đạc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Hà Văn H và bà Trần Thị L3 thì thửa đất 319 có diện tích 6964 m², theo kết quả xác minh tại Ủy ban nhân dân xã C cho biết diện tích chênh lệch (36 m²) là do sai sót trong quá trình đo đạc.

Tại biên bản xác định ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 25/11/2002 đối với thửa đất số 319 thể hiện ông Mai Hồng H1 ký xác nhận tại phần tiếp giáp ký hiệu số 3 (Tương ứng thửa đất số 312). Tại biên bản xác định ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 25/11/2002 đối với thửa đất số 312 và 338 xác định ranh giới thực địa của ông Mai Hồng H1, tại phần các chủ sử dụng đất tiếp giáp, thể hiện ông H ký tên đối với phần tiếp giáp ký hiệu số 4 (tương ứng thửa đất số 319). Điều đó thể hiện ông H và các chủ sở hữu quyền sử dụng đất đối với các thửa đất liền kề đã thống nhất về ranh giới, mốc cận.

[2.2] Theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ của Tòa án ngày 09/6/2023, thửa đất 319 có diện tích theo hiện trạng do ông H chỉ là 19016,0 m², tuy nhiên theo Lâm bạ và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 319 thì diện tích được cấp là 6964 m², hiện trạng thửa đất do ông H chỉ không trùng khớp với diện tích được cấp theo lâm bạ và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho vợ chồng ông Hà Văn H và bà Trần Thị L3. Hơn nữa, diện tích mà ông H chỉ theo hiện trạng đã bao trùm lên các thửa đất liền kề, gồm có thửa 312 và thửa 338, mà tại biên bản xác định ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 25/11/2002 đối với thửa đất số 312 và 338 xác định ranh giới thực địa của ông Mai Hồng H1, tại phần các chủ sử dụng đất tiếp giáp, thể hiện ông H đã ký tên xác nhận ranh giới đối với phần tiếp giáp ký hiệu số 4 (Tương ứng thửa đất số 319).

[2.3] Quá trình giải quyết vụ án, ông H không cung cấp tài liệu, chứng cứ thể hiện ông H là chủ sở hữu quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 312 và 338. Kết quả xác minh tại Ủy ban nhân dân xã C thể hiện: Thông qua hồ sơ lưu trữ tại xã năm 1998; Ông Hà Văn H có quyết định giao đất số: 707/QĐUB ngày 15/10/1998; Tiểu khu I; Lô 163; Diện tích 0,7 ha. Nay đo đạc theo bản đồ 163 thửa đất 319; tờ bản đồ 01; Diện tích 6964,0 m số Seri AL498989 Số vào số H00730/QĐ 3447/UBND huyện A cấp ngày 02/11/2011 là cùng một thửa có nguồn gốc là đất của ông Hà Văn H và thuộc quyền sở hữu và sử dụng của ông Hà Văn H và bà Trần Thị M, nhưng theo hiện nay thửa đất 319; tờ bản đồ 01; Diện tích 6964,0 m² so với hồ sơ giao ban đầu lệch 36 m² là do sai số các lần đo đạc, thửa đất này không mua bán nhận chuyển nhượng. Về hình thể thửa đất theo lâm bạ xanh năm 1998 và bản đồ 163 thì không thay đổi. Bà Nguyễn Thị Q (Chồng là: Ông Hà Văn L1) có quyết định giao đất số: 707/QĐUB ngày 15/10/1998; Tiểu khu 936 Lô 164; Diện tích 0,7 ha. Nay đo đạc theo bản đồ 163 thửa đất 312, tờ bản đồ 01, diện tích 2919 m² (Quy chủ sử dụng là Ông Mai Hồng H1) thửa đất chưa được cấp bìa. Thửa đất 312; Tờ bản đồ 01, Quy chủ sai trên bản đồ 163 cho ông Mai Hồng H1. Năm 2016 giữa ông Mai Hồng H1 và bà Nguyễn Thị Q đã có văn bản thoả thuận giao lại đất thửa 312, Tờ bản đồ 01 cho bà Nguyễn Thị Q sử dụng. Thửa đất này hiện tại phía dưới thửa đất của của bà Q, ông Hà Văn H trồng khoảng 400 m² chè; thửa đất của bà Q về mốc giới, ranh giới, diện tích có thay đổi. Thửa 338 Tờ bản đồ 01: Theo lâm bạ xanh năm 1998 trước đây là đất của Ông Mai Văn D, theo ông Mai Hồng H1 trình bày ông và ông D thống nhất tách bìa chuyển nhượng cho ông Mai Hồng H1 được Ủy ban nhân dân huyện A, tỉnh Nghệ An cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 338, tờ bản đồ 01, diện tích 14604,0 m² vào năm 2001, ông H1 đang cho ông Hà Văn N mượn để trồng Keo.

[2.4] Ông Hà Văn H yêu cầu buộc bà Nguyễn Thị Q trả lại toàn bộ diện tích đất lấn chiếm thuộc các thửa đất 312 và 338, tờ bản đồ số 01 tại xóm I (thôn I mới), xã C, huyện A, tỉnh Nghệ An; buộc ông Hà Văn N trả lại phần diện tích đất lấn chiếm là 2500,0 m² đất thuộc thửa đất số 338, tờ bản đồ số 01 tại xóm I (thôn I mới), xã C, huyện A, tỉnh Nghệ An. Tuy nhiên, tài liệu, chứng cứ, lời khai của các đương sự, kết quả xác minh và kết quả xem xét thẩm định tại chỗ đều thể hiện: Không có tài liệu, chứng cứ thể hiện ông Hà Văn H là chủ sở hữu quyền sử dụng đất đối với các thửa đất số 312 và 338, ông H không có quyền đối với quyền sử dụng đất được nhà nước công nhận theo quy định tại điều 166 của Luật đất đai 2013 đối với các thửa đất không thuộc quyền sử dụng của ông Hà Văn H. Do đó, Toà án cấp sơ thẩm không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Hà Văn H là có căn cứ, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của ông H, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm dân sự của Toà án nhân dân huyện Anh Sơn, như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tại phiên toà là phù hợp.

[3] Về chi phí tố tụng: Do yêu cầu của nguyên đơn không được chấp nhận nên nguyên đơn Toà án cấp sơ thẩm buộc nguyên đơn phải chịu toàn bộ chi phí thẩm định, định giá tài sản là đúng quy định của pháp luật.

[4] Về án phí: Ông Hà Văn H là người cao tuổi, có đơn xin miễn giảm án phí nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, án phí dân sự phúc thẩm.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Hà Văn H, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 27/2024/DS-ST ngày 15 tháng 8 năm 2024, của Tòa án nhân dân huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An.
  2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Ông Hà Văn H không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
  3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.
  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • -Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • -TAND huyện Anh Sơn;
  • -Chi Cục THADS huyện Anh Sơn;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Thái Thị Hồng Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 36/2025/DS-PT ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 36/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: V/v tranh chấp quyền sử dụng đất”
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger