|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
|
Bản án số: 36/2025/DS-PT Ngày: 13/02/2025 V/v Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
—————————
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quang Tấn
Các Thẩm phán: Ông Đoàn Văn Thậm
Bà Nguyễn Thị Nhiên
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Quốc Sang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Trang Minh Tú - Kiểm sát viên.
Trong ngày 13 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 238/2023/TLPT-DS ngày 07 tháng 12 năm 2023 về “Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 76/2023/DS-ST ngày 18 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 38/2024/QĐ-PT ngày 20 tháng 02 năm 2024 giữa các đương sự:
1- Nguyên đơn:
- Ông Tống Văn G, sinh năm 1952; (có mặt)
- Ông Tống Thành V, sinh năm 1963; (có mặt)
- Bà Tống Thị T, sinh năm 1973; (vắng mặt)
- Bà Tống Thị T1, sinh năm 1967; (vắng mặt)
- Bà Tống Thị S, sinh năm 1957; (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: ấp G, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang
Địa chỉ: khu phố A, thị trấn D, huyện P, Kiên Giang
Địa chỉ: ấp X, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông G, bà T, bà T1, bà S: Ông Tống Thành V, sinh năm 1963; (có mặt);
2. Bị đơn:
Anh Phạm Quốc T2, sinh năm 1982. Địa chỉ: ấp G X, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang; (có mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cho bị đơn: Luật sư Phạm Anh V1, Văn phòng luật sư Phạm Anh V1 – thuộc Đoàn luật sư tỉnh K. (có mặt)
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Con bà T7, ông T8:
- Bà Phạm Thị Y, sinh năm 1974; (vắng mặt)
- Ông Phạm Quốc V2, sinh năm 1979; (vắng mặt)
- Con bà X, ông T9:
- Ông Đinh Văn T3, sinh năm 1977; (vắng mặt)
- Ông Đinh Văn Đ, sinh năm 1979; (vắng mặt)
- Anh Đinh Văn T4, sinh năm 1984; (vắng mặt)
- Ông Đinh Văn N, sinh năm 1975; (vắng mặt)
- Anh Đinh Văn G1, sinh năm 1981; (vắng mặt)
- Vợ, con ông N2:
- Bà Dương Thị N1, sinh năm 1962; (vắng mặt)
- Anh Tống Văn D, sinh năm 1983; (vắng mặt)
- Chị Tống Thị T5, sinh năm 1986; (vắng mặt)
- Ông Tống Văn Đ1, sinh năm 1970. Cư trú: ấp G, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang; (vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp của bà Y, ông V2: Ông Phạm Quốc T2, sinh năm 1982; (có mặt)
Cùng HKTT: ấp G, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang
Cùng địa chỉ: Tổ A, khu phố D, thị trấn A, P, Kiên Giang
Cùng HKTT: ấp G, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang.
Người đại diện hợp pháp cho T3, Đ, T4, N, G1, D, T5: ông Tống Thành V; (có mặt)
- Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Tống Văn G, ông Tống Thành V.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 20-5-2021 và các lời trình bày trong quá trình tố tụng, các nguyên đơn ông Tống Văn G2, bà Tống Thị S, ông Tống Thành V, bà Tống Thị T1, bà Tống Thị T trình bày và yêu cầu như sau:
Về phần gia đình: Cha các nguyên đơn tên Tống Văn T6 (chết năm 1981) và mẹ Huỳnh Thị H (chết năm 2010), có tất cả 10 người con gồm: Tống Thị T7 (chết năm 2012): chồng bà Thế là ông Phạm Quang T8 (chết năm 2012) và 03 người con là Phạm Quốc T2, Phạm Quốc V2, Phạm Thị Y; Tống Văn G (nguyên đơn); Tống Thị X (chết khoảng năm 2013); chồng bà X là Đinh Văn T9 (chết khoảng năm 1990) và 05 người con gồm: Đinh Văn N, Đinh văn T3, Đinh Văn Đ, Đinh Văn G1, Đinh Văn T4; Tống Thị S (nguyên đơn); Tống Văn N2 (đã chết năm 2005) có vợ là Dương Thị N1 và 03 người con là Tống Văn D, Tống Thị T5; Tống T (nguyên đơn); Tống Thị T1 (nguyên đơn); Tống Thị T10 (chết hồi nhỏ, không chồng con); Tống Văn Đ1; Tống Thị T (nguyên đơn).
Nguyên trước đây vào khoảng năm 1954 cha mẹ các nguyên đơn là ông Tổng Văn T11, bà Huỳnh Thị H có nhận chuyển nhượng một diện tích đất của ông 9 Chệt chiều ngang 01 công đất (hiện nay còn 21,5m) chiều dài từ mé sông K Xẻo Rô đến Kênh chiến lược (hiện nay còn 88,5m), diện tích đo đạc thực tế (phần đất phía trên lộ) 1.745,88m² tọa lạc tại ấp G X, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang. Vào ngày ngày 24 tháng 02 năm 2021 Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang giải quyết vụ Tranh chấp chia thừa kế quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn với bị đơn ông Phạm Quốc T2 bằng Bản án số: 07/2021/DS-ST ngày 24 tháng 02 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang. Theo đó, Tòa án xác định ½ diện tích đất trên lộ (872.94m²) là di sản thừa kế của bà Huỳnh Thị H để lại nên phân chia di sản theo pháp luật cho 05 nguyên đơn từ phía giáp đất ông Tống Văn T12 đo ra chiều ngang 4,86m, chiều dài 84,2m để hợp lại cất nhà từ đường (thờ cha, mẹ). Tại thời điểm tranh chấp nguyên đơn không yêu cầu phần đất dưới mé sông (cặp kênh xáng Xẻo Rô) có vị trí: mặt tiếp giáp với đường T – Cán Gáo 21m, mặt tiếp giáp với kênh Xáng Xéo Rô: mặt tiếp giáp với phần đất dưới mé sông của ông Tống Văn T12 và mặt tiếp giáp với phần đất của ông Dương Văn G3, tọa lạc tại ấp G, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang. Do phần đất này nằm trong hành lang an toàn giao thông đường bộ và hành lang an toàn giao thông đường thủy nội địa và nguyên đơn nghĩ rằng phần đất này nguyên đơn cũng được sử dụng khi được phân chia phần đất phía trên lộ theo đo đạc, thẩm định tại chỗ. Khi Tòa án tuyên án ông T2 không kháng cáo bản án theo thủ tục phúc thẩm nghĩa là chấp nhận phần diện tích đất tranh chấp là di sản của bà H đễ lại và đồng ý phân chia theo Bản án của Tòa. Tuy nhiên, phần đất cặp mé sông ông T2 tiếp tục chiếm giữ, tiến hành xây cất nên yêu cầu U, ngăn chặn nhưng phía ông T2 không chấp hành còn dùng lời lẽ thách thức. Phần diện tích đất phía trên lộ được xác định là di sản của mẹ nguyên đơn để lại thì phần đất cặp mé sông cũng là di sản của cha mẹ nguyên đơn để lại chưa phân chia.
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết phân chia thừa kế cho 05 anh, chị em được hưởng 05 phần đất liền kề có chiều ngang giáp lộ Thứ 7 – Cán Gáo là 4.86m bắt đầu từ phía giáp với đất ông Tống Văn T12 đo ra để hợp lại xây dựng nhà từ đường cho cha, mẹ. Đồng thời, buộc Phạm Quốc T2 chấm dứt hành vi chiếm giữ, sử dụng và ngăn chặn nguyên đơn sử dụng phần đất này.
Trong quá trình tố tụng bị đơn ông Phạm Quốc T2 trình bày như sau: Ông T2 xác định phần đất dưới mé sông hiện nay các đồng nguyên đơn tranh chấp chia thừa kế là do cha mẹ là Tống Thị T7 (chết năm 2012) và Phạm Quang T8 (chết năm 2012) tự khai phá và sử dụng từ năm 1980 đến nay. Phần đất này cha mẹ ông T2 khai phá, sử dụng có chiều ngang (rộng) là 26,5m, chiều dài từ lộ ra đến sông, đến năm 2015 ông T2 có mua thêm 01m của ông Tống Văn T12 để thuận tiện sử dụng, nên hiện nay chiều ngang (rộng) là 27,5m. Lúc đầu, cha mẹ ông T2 có cất căn nhà để ở, sinh sống; đến năm 1989 cha mẹ ông di dời nhà ra nhà máy X1 lúa để ở (cách phần đất này khoảng 500m), đến khoảng năm 1995-1996 cha mẹ ông T2 về lại phần đất này để xây dựng chuồng heo và chăn nuôi tại đây; đến khoảng năm 2002-2003 thì dỡ bỏ chuồng heo, không nuôi nữa. Khi không nuôi heo nữa thì đất này không ai sử dụng, đất cặp sông nên bị sạc lỡ (lỡ đến mé lộ, chỉ còn mặt nước). Đến năm 2016 ông T2 bắt đầu sử dụng, làm bờ kẻ cặm bằng đá và đổ đất lên và sử dụng đến nay. Hiện nay phần đất này ông T2 chỉ xây dựng bờ kè để không sạc lỡ thêm, dự định năm sau thì xây dựng cơ sở kinh doanh. Tất cả phần đất dưới mé sông ở đây chưa ai được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do đất nằm cặp mé sông, đất hành lang giao thông đường thủy.
Ông T2 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn vì đất này ông được thừa kế từ cha, mẹ.
Tại Công văn số 16/UBND-NC ngày 16-01-2023 UBND huyện A: Phần đất tranh chấp không thuộc giấy chứng nhận QSD đất cho ông Phạm Quang T8 và hiện nay chưa cấp giấy cho ai. Phần đất này không thuộc trường hợp phải thu hồi đất, người đang sử dụng đất được tiếp tục sử dụng đất theo quy định tại Luật Đất đai hiện hành.
Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ cho thấy: Qua biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 09-3-2012 7-6-2019 và Tờ trích đo địa chính số: TĐ 76-2022 thể hiện phần đất tranh chấp có diện tích 429m² (bao gồm cả đất hành lang an toàn giao thông là 369,5m²) tọa lạc tại ấp G X, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang. Trên đất chỉ có bờ kè do ông T2 xây dựng, không có công trình vật kiến trúc nào khác.
Kết quả định giá: QSD đất có giá trị 953.238.000 đồng; công trình (bờ kè) giá trị 562.474.000 đồng.
Tại phiên tòa,
- Nguyên đơn: Giữ nguyên yêu cầu khởi kiện chia thừa kế QSD đất theo đo đạc thực tế đất có bề ngang là 16,8m. Nếu được chia cả 5 người cùng nhận chung một phần và xin nhận phía giáp đất ông T12.
- Bị đơn: Không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì đất này là do cha mẹ để lại.
- Người làm chứng ông Nguyễn Văn K (B) trình bày: bà H là mợ dâu của ông K. Khoảng năm 1988 ông có hỏi mượn bà H phần đất mé sông cất nhà ở. Khi ông về ở đã có nhà ông Phạm Quang T8 (cha T2) và nhà ông Nguyễn Văn H1; khi đó ông T8 có cất chuồng heo. Khoảng năm 1992 ông K trả đất và di dời nhà ra Thứ 7, lúc này ông T8 cũng di dời nhà; còn ông H1 di dời nhà sau đó khoảng 01 năm. Từ khoảng năm 1992 thì đất đó bỏ trống cho đến khi tranh chấp. Bà H trước đây ở trên Kênh đến khoảng năm 1995 – 1996 về cất nhà ở phía trên lộ, phần mé sông để trống.
- Người làm chứng ông Phạm Ngọc Đ2 trình bày: ông có bà con nên có tới lui và biết về phần đất. Trước đây ông T8 (cha T2) có cất nhà ở và nuôi heo, có đóng cây nước. Sử dụng khoảng 4 đến 5 năm thì nhà sập và di dời đi nơi khác, đất để trống.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 76/2023/DS-ST ngày 18 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang đã quyết định:
Không chấp nhận yêu cầu của các nguyên đơn ông Tống Văn G, Tống T, bà Tống Thị T, Tống Thị T1, Tống Thị S về việc yêu cầu chia thừa kế phần đất có diện tích đo đạc thực tế 429m² tại ấp G, xã Đ, huyện A, Kiên Giang với ông Phạm Quốc T2.
(Phần đất tọa lạc tại ấp G X, xã Đ, huyện A, Kiên Giang theo sơ đồ, vị trí giáp ranh, các cạnh được xác định theo Tờ Trích đo địa chính số: TĐ 76- 2022, duyệt ngày 07-4-2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện A được kèm theo).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên phần án phí, chi phí tố tụng và báo quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 02/10/2023 nguyên đơn ông Tống Văn G, ông Tống Thành V có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm với nội dung:
Ông G, ông V kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện An Minh. Yêu cầu cấp phúc thẩm sửa toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 76/2023/DSST, ngày 18/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện An Minh theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ngày 02/10/2023 Viện trưởng Viện Kiểm S1 nhân dận huyện A: Có Quyết định kháng nghị toàn bộ bản án sơ thẩm số 76/2023/DSST, ngày 18/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện An Minh. Yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm theo xác định phần đất tranh chấp là di sản của cụ T11, cụ H để lại và phân chia di sản thừa kế theo pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn ông Tống Văn G, ông Tống Thành V vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Bị đơn anh Phạm Quốc T2 yêu cầu giữ nguyên bản án sơ thẩm không đồng ý với nội dung kháng cáo của nguyên đơn và kháng nghị của Viện kiểm Sát.
Các đương sự không tự hòa giải với nhau được, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến kết luận vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử phúc thẩm và các đương sự từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm nghị án đã thực hiện và chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về hướng giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của các nguyên đơn ông Tống Văn G, ông Tống Thành V; chấp nhận một phần nội dung kháng nghị của Viện trưởng VKSND huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang; áp dụng khoản 2 Điều 308 BLTTDS sửa Bản án số 76/2023/DS-ST ngày 18/9/2023 của TAND huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về tố tụng: Ông G, bà T, bà T1, bà S, Ông Đinh Văn T3, Ông Đinh Văn Đ, Anh Đinh Văn T4, Ông Đinh Văn N, Anh Đinh Văn G1, Anh Tống Văn D, Chị Tống Thị T5 vắng mặt có văn bản ủy quyền cho ông Tống Thành V làm đại diện tham gia tố tụng; Bà Dương Thị N1 có đơn xin vắng mặt; Bà Phạm Thị Y, ông Phạm Quốc V2 vắng mặt có văn bản ủy quyền cho ông Phạm Quốc T2 làm đại diện tham gia tố tụng. Ông Đ1 vắng mặt đến lần thứ hai không vì sự kiện bất khả khắng hay trở ngại khách quan. Nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Nguyên đơn xác định khi chết cụ H để lại phần đất có diện tích đo thực tế 429m², tọa lạc ấp G, xã Đ, huyện A, Kiên Giang. Yêu cầu Tòa án giải quyết phân chia thừa kế cho 05 anh, chị em được hưởng 05 phần đất liền kề có chiều ngang giáp lộ Thứ 7 – Cán Gáo là 4.86m bắt đầu từ phía giáp với đất ông Tống Văn T12 đo ra để hợp lại xây dựng nhà từ đường cho cha, mẹ. Đồng thời, buộc Phạm Quốc T2 chấm dứt hành vi chiếm giữ, sử dụng và ngăn chặn nguyên đơn sử dụng phần đất này.
[2.2]. Bị đơn xác định là đất của cha, mẹ là ông T8, bà T7 để lại thừa kế nên không phải là di sản.
[2.3]. Xét kháng cáo của nguyên đơn ông G, ông V thấy rằng:
[2.3.1]. Các đương sự thống nhất xác định, cụ T11, Cụ H, có 10 người con, trong đó có 01 người chết trước, không có chồng con. Do đó hàng thừa kế thứ nhất của cụ T11, cụ H gồm có: 9 người con là: bà T7, ông G, bà X, bà S, bà N2, ông V, bà T1, ông Đ1, bà T. Ngoài những người con nêu trên thì cụ T11, cụ H không có người con chung, con nuôi, con riêng nào khác.
Sinh thời cụ T11, cụ H có tạo nhiều thửa đất, gồm phần đất khoảng 100 công tầm nhỏ ở Kênh ông L và phần đất tại ấp G X. Quá trình sử dụng đất các cụ đã phân chia đất cho các con đối với phần đất ở Kênh ông L. Phần đất ở ấp G X có nguồn gốc do các cụ sang của ông 9 Chệt vào khoảng năm 1953, phần này hiện nay gồm 2 phần: phần từ lộ xe trở vô ruộng và phần từ Lộ xe xuống sông X. Đối với phần trên bờ (từ Lộ xe trở vô) đã được phân chia tại Bản án số 07/2021/DS-ST ngày 24-02-2021. Đối với phần từ Lộ xuống sông X có diện tích 429m², với bề ngang giáp lộ 16,8m các bên đang tranh chấp.
[2.3.2]. Về di sản thừa kế: Phần đất tranh chấp có nguồn gốc là của các cụ T11, cụ H mua của ông 9 Chệt. Sau khi mua các cụ sử dụng đến khoảng năm 1974 thì không còn sử dụng phần đất này. Đến khoảng năm 1981 thì ông T8, bà T7 sử dụng đất cho đến năm 2006 thì bỏ đất trống. Cụ T11, cụ H không phải là đối tượng được pháp luật công nhận và cấp giấy chứng nhận QSD đất. Đến thời điểm cụ H chết vào năm 2010 thì cụ H vẫn chưa xác lập QSD đất đối với phần đất này nên đây không phải là di sản thừa kế do cụ H để lại.
Xét việc Tòa sơ thẩm áp dụng các Điều 2 Luật Đất đai năm 1993, Điều 50 Luật Đất đai năm 2003 (Luật điều chỉnh tại thời điểm các cụ còn sống) và Điều 100 Luật Đất đai năm 2013, Điều 106 Luật Đất đai năm 2003 (nay là Điều 188 Luật Đất đai năm 2013) để xác định “phần đất nguyên đơn yêu cầu chia thừa kế, không phải là di sản thừa kế”. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông G, ông V không đưa ra được tình tiết, chứng cứ nào mới. Do vậy trong thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử thống nhất không chấp nhận nội dung kháng cáo của nguyên đơn ông G, ông V, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 76/2023/DS-ST ngày 18 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang.
Về kháng nghị của Viện kiểm sát:
- Xác định phần đất tranh chấp là di sản thừa kế: HĐXX nhận thấy tại công văn số 16/UBND-NC ngày 16-01-2023 UBND huyện A: Phần đất tranh chấp hiện nay chưa cấp giấy cho ai. Phần đất này không thuộc trường hợp phải thu hồi đất, người đang sử dụng đất được tiếp tục sử dụng đất theo quy định tại Luật Đất đai hiện hành. Trên đất chỉ có bờ kè do ông T2 xây dựng, không có công trình vật kiến trúc nào khác. Theo quy định của Luật Đất đai thì ông T2 đủ điều kiện được tiếp tục sử dụng phần đất này. Đất được xác định không phải là di sản thừa kế. Nên việc kháng nghị của Viện Kiểm sát không có căn cứ chấp nhận. Tại Toà Viện kiểm sát rút kháng nghị đối với vấn đề này. Nên HĐXX không xem xét.
- Về phần xác định án phí: Cấp sơ thẩm không xem xét miễn giảm án phí cho các nguyên đơn khi họ là người cao tuổi đủ điều kiện miễn giảm là thiếu sót. Nên cần chấp nhận phần kháng nghị này. Sửa án sơ thẩm về phần án phí.
[3]. Về chi phí tố tụng:
Chi phí đo đạc là 793.500 đồng, chi phí thẩm định giá tài sản là 8.003.000 đồng, tổng cộng là 8.796.500 đồng. Do các nguyên đơn không được chấp nhận yêu cầu nên phải chịu toàn bộ chi phí này theo quy định tại khoản 1 Điều 157 và khoản 1 Điều 165 Bộ luật Tố tụng dân sự. Khấu trừ vào số tiền tạm ứng các nguyên đơn đã tạm nộp nên các nguyên đơn đã nộp xong.
[4]. Về án phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm: Đây là tranh chấp về thừa kế và yêu cầu của nguyên đơn không được Tòa án chấp nhận toàn bộ nên các nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định, các nguyên đơn ông G, ông V, bà S là người cao tuổi, có yêu cầu miễn, giảm, nên được miễm nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Án phí dân sự phúc thẩm:
Trả lại tiền án phí phúc thẩm 300.000 đồng cho ông G, ông V theo biên lai thu của cơ quan thi hành án. Do người cao tuổi được miễn án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 02 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 92, Điều 96, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 165, các Điều 227, 228, 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 50 và Điều 106 Luật Đất đai năm 2003 (nay là các điều 100 và 188 Luật Đất đai năm 2013);
Điều 14, Điều 26, Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Không chấp nhận nội dung kháng cáo của nguyên đơn ông Tống Văn G, ông Tống Thành V.
- Chấp nhận một phần nội dung kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát huyện A.
- Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 76/2023/DS-ST ngày 18 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện An Minh.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu của các nguyên đơn ông Tống Văn G, Tống T, bà Tống Thị T, Tống Thị T1, Tống Thị S về việc yêu cầu chia thừa kế phần đất có diện tích đo đạc thực tế 429m² tại ấp G, xã Đ, huyện A, Kiên Giang với ông Phạm Quốc T2.
(Phần đất tọa lạc tại ấp G X, xã Đ, huyện A, Kiên Giang theo sơ đồ, vị trí giáp ranh, các cạnh được xác định theo Tờ Trích đo địa chính số: TĐ 76- 2022, duyệt ngày 07-4-2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện A được kèm theo).
2. Về chi phí tố tụng, án phí:
2.1. Về chi phí tố tụng:
Các nguyên đơn cùng chịu toàn bộ chi phí là là 8.796.500 đồng, gồm: chi phí đo đạc là 793.500 đồng, chi phí thẩm định giá tài sản là 8.003.000 đồng. Khấu trừ vào số tiền tạm ứng các nguyên đơn đã tạm nộp, các nguyên đơn đã nộp xong.
2.2. Về án phí:
2.2.1. Án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn ông Tống Văn G, ông Tống Thành V, bà Tống Thị S là người cao tuổi được miễn án phí, bà Tống Thị T, bà Tống Thị T1, mỗi người phải chịu án phí là 300.000 đồng, tổng cộng là 600.000 đồng. Khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp 3.280.000 đồng theo biên lai số 0005080 ngày 28-10-2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh, các nguyên đơn ông V, G, bà T1, S, T được nhận lại số tiền là 2.680.000 đồng.
2.2.2. Án phí dân sự phúc thẩm: Trả lại cho ông Tống Văn G, ông T13 Thành Văn tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo các biên lai tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001386 ngày 02/10/2023,số 0001392 ngày 03/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Quang Tấn |
9
Bản án số 36/2025/DS-PT ngày 13/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất
- Số bản án: 36/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 13/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết phân chia thừa kế cho 05 anh, chị em được hưởng 05 phần đất liền kề có chiều ngang giáp lộ Thứ 7 - Cán Gáo là 4.86111 bắt đầu từ phía giáp với đất ông Tống Văn T12 đo ra để hợp lại xây dựng nhà từ đường cho cha, mẹ. Đồng thời, buộc Phạm Quốc T2 chấm dứt hành vi chiếm giừ, sử dụng và ngăn chặn nguyên đơn sử dụng phần đất này.
