TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 36/2025/DS-PT Ngày: 06/6/2025 V/v: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như
Các Thẩm phán:
Bà Tô Thị Thùy Ngân
Ông Hoàng Văn Thụ
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Phan Thị Thanh Tâm, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng: Bà Chung Thị Bích Phượng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 06 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 40/2025/TLPT-DS ngày 28 tháng 4 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 11/2025/DS-ST ngày 12 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 70/2025/QĐ-PT ngày 16/5/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng giữa các đương sự:
Nguyên đơn:
- Ông Phan Ngọc Q, sinh năm 1983 (Vắng mặt)
- Bà Đỗ Thị Vân A, sinh năm 1987 (Đồng thời là đại diện theo ủy quyền của ông Phan Ngọc Q). (Có mặt tại phiên tòa)
Cùng địa chỉ: tổ E, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng.
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1974 (Có mặt tại phiên tòa)
Chỗ ở hiện tại: Tổ I, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1938 (Vắng mặt)
- Bà Trần Thị C1, sinh năm 1945 (Vắng mặt)
Cùng địa chỉ đăng ký thường trú: Tổ A, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng.
Chỗ ở hiện tại: Tổ I, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng.
Đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn C, bà Trần Thị C1: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1974 (Có mặt tại phiên tòa)
Địa chỉ: Tổ I, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Luật sư Hoàng Minh H – thuộc văn phòng L4 (Có mặt tại phiên tòa)
Địa chỉ: P, tầng H, Tòa nhà G, số B đường T, phường K, quận T, Hà Nội.
Người làm chứng:
- Ông Đào Văn L1 (Có mặt tại phiên tòa)
- Bà Nguyễn Phượng X (Vắng mặt)
- Bà Nông Thị Bích L2 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện H, tỉnh Bắc Giang.
Cùng địa chỉ: Tổ I, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng.
Người kháng cáo: Bị đơn Nguyễn Thị L.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm, nguyên đơn ông Phan Ngọc Q, bà Đỗ Thị Vân A trình bày:
Ông Phan Ngọc Q và bà Đỗ Thị Vân A là vợ chồng. Ngày 14/7/2024, bà Vân A xem trên mạng thấy bên môi giới nhà đất đăng bán ngôi nhà 02 tầng xây dựng trên thửa đất số 44; tờ bản đồ số 27; Diện tích: 83,4m² có địa chỉ tại tổ dân phố A, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng, bà đã liên hệ với bên môi giới (ông L1) và gặp bà Nguyễn Thị L. Khi đi xem nhà đất chỉ có bà Vân A, bà L và ông L1.
Cùng ngày 14/7/2024, bà Vân A ký hợp đồng đặt cọc với bà Nguyễn Thị L để nhận chuyển nhượng ngôi nhà và diện tích đất thuộc thửa đất số 44; Tờ bản đồ số: 27; Diện tích: 83,4m², có địa chỉ tại tổ dân phố A, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng với giá 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng). Sau khi lập hợp đồng đặt cọc, bà Vân A đã chuyển vào số tài khoản của bà Nguyễn Thị L số tiền đặt cọc là: 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng).
Khi về nhà, bà Vân A đưa hợp đồng đặt cọc cho ông Phan Ngọc Q xem, ông Q không nhất trí mua nhà đất của bà L, do vậy, ngay tối hôm đó bà Vân A đã nhắn tin cho bà L thông báo về việc không mua nhà đất và xin lại tiền đặt cọc nhưng bà L không nhất trí.
Theo bà Vân A, hợp đồng đặt cọc này chưa đúng về cả hình thức lẫn nội dung, cụ thể như sau:
- Hợp đồng thể hiện Bên đặt cọc là ông Phan Ngọc Q, Bên nhận đặt cọc là bà Nguyễn Thị L. Tuy nhiên, ông Q không biết và không được ký vào bản hợp đồng này. Chữ ký tại bản hợp đồng là chữ ký của bà Đỗ Thị Vân A, đồng thời, bà đã tự ý sử dụng tài sản chung là khoản tiền của hai vợ chồng cùng tạo lập, tích góp được trong thời kỳ hôn nhân để thực hiện giao dịch đặt cọc khi chưa được sự đồng ý của ông Q, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông Q.
- Mặt khác, bà Nguyễn Thị L (bên nhận đặt cọc) không phải chủ sở hữu đối với ngôi nhà và diện tích đất cần chuyển nhượng, nhà và đất đứng tên ông Nguyễn Văn C và bà Trần Thị C1 - là bố mẹ của bà L. Theo quy định tại Điều 192, Điều 194 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 1 điều 167 Luật đất đai năm 2013 thì chỉ chủ sở hữu tài sản mới có quyền định đoạt tài sản thuộc sở hữu của mình.
- Tại thời điểm ký kết hợp đồng đặt cọc, bà L cũng không cung cấp được văn bản ông Nguyên Văn C2 và bà Trần Thị C1 ủy quyền cho bà L nhận đặt cọc chuyển nhượng đất.
Do đó, nguyên đơn yêu cầu bị đơn bà L trả lại tiền đặt cọc là 100.000.000 đồng và tiền lãi theo quy định của pháp luật.
Quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm, bị đơn Nguyễn Thị L trình bày:
Bà Nguyễn Thị L là con đẻ của ông Nguyễn Văn C và bà Trần Thị C1. Do bà L được ông C và bà C1 ủy quyền rao bán nhà đất và nhận đặt cọc, nên bà L đã nhờ nhân viên môi giới bất động sản là ông Đào Văn L1 đăng tin bài. Ngày 14/7/2024, bên môi giới thông báo cho bà L có bà Đỗ Thị Vân A muốn mua nhà đất của bố mẹ bà. Bà L và bên môi giới nhà đất đã dẫn bà Vân A đến trực tiếp xem đất, khi xem bà Vân A cũng gọi điện thoại video cho ông Phan Ngọc Q là chồng của bà Vân A cho xem nhà và đất, nói chuyện về giá cả và ông Q đã nhất trí nên bà L và bà Vân A cùng nhau ký kết hợp đồng đặt cọc với số tiền đặt cọc là 100.000.000 đồng.
Hiện nay ngôi nhà 02 tầng và diện tích đất thuộc thửa đất số 44; Tờ bản đồ số 27; Diện tích: 83,4m² có địa chỉ tại tổ dân phố A, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng gia đình bà đã chuyển nhượng cho người khác.
Bà L đã có ý kiến là sẽ hỗ trợ bị đơn với nhiều phương án như: giảm giá chuyển nhượng, cho kéo dài thời hạn hợp đồng đặt cọc, trong trường hợp bán được bà L sẽ hỗ trợ một phần tiền đặt cọc cho Vân A sau khi bán được nhà, tuy nhiên bà Vân A và ông Q đã khởi kiện tại Tòa nên bà không hỗ trợ nữa.
Theo bà L, bà đã được bố mẹ bà là người sở hữu ngôi nhà 02 tầng và diện tích đất thuộc thửa đất số 44; Tờ bản đồ số 27; Diện tích: 83,4 m² có địa chỉ tại tổ dân phố A, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng ủy quyền đăng bán và nhận đặt cọc theo Giấy ủy quyền đề ngày 01/6/2022. Căn cứ khoản 1 Điều 4 và khoản 2 Điều 5 của Hợp đồng đặt cọc ngày 14/7/2024, bà không nhất trí trả lại tiền cọc cho ông Phan Ngọc Q và bà Đỗ Thị Vân A.
Quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn C, bà Trần Thị C1 trình bày:
Ông bà là chủ nhà đất tại tổ dân phố A, phường H, thành phố C (thửa đất số 44, tờ bản đồ số 27). Do không có nhu cầu sử dụng nên ông bà quyết định chuyển nhượng. Vợ chồng ông bà tuổi đã già không thuận tiện đi lại và giao dịch nên đã ủy quyền cho con gái là Nguyễn Thị L được phép đăng tin rao bán và nhận cọc với người mua.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu bị đơn thanh toán 100.000.000 đồng và rút yêu cầu tính lãi. Bị đơn không nhất trí và giữ nguyên ý kiến.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày luận cứ:
Nguyên đơn là người phá vỡ thỏa thuận trong hợp đồng, từ chối thực hiện hợp đồng mặc dù đã được bị đơn tạo mọi điều kiện để thực hiện hợp đồng. Lý do nguyên đơn đưa ra để không thực hiện hợp đồng là do vợ chồng không xoay được tiền, chồng không ưng là không phù hợp. Đề nghị HĐXX xem xét lời khai của ông L1 về việc chứng kiến bà Vân A gọi điện video để trao đổi với ông Q về việc mua nhà và đã được ông Q nhất trí nên mới thực hiện việc đặt cọc. Bà Vân A tham gia ký kết hợp đồng trong tình trạng hoàn toàn minh mẫn, tự nguyện, không bị lừa dối, ép buộc nên giao dịch phát sinh hiệu lực. Bà L nhận đặt cọc của bà Vân A do đã được bố mẹ ủy quyền nên việc nhận đặt cọc là hợp pháp. Đề nghị HĐXX bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại bản án số 11/2025/DS-ST ngày 12/3/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đã Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 228; Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 116; Điều 117; Điều 118; Điều 122; Điều 134; Điều 140; Điều 210, 213, 218; Điều 328 Bộ luật Dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 29, 33, 35 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan Ngọc Q và bà Đỗ Thị Vân A. Tuyên bố hợp đồng đặt cọc ngày 14/7/2024 giữa bên đặt cọc ông Phan Ngọc Q và bên nhận đặt cọc bà Nguyên Thị Lập L3 vô hiệu. Buộc bà Nguyễn Thị L phải trả lại cho ông Phan Ngọc Q và bà Đỗ Thị Vân A số tiền đã nhận đặt cọc là 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
- Đình chỉ đối với yêu cầu thanh toán tiền lãi của nguyên đơn.
Ngoài ra bản án còn tuyên về phần án phí và quyền kháng cáo của các bên đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 20/03/2024 bị đơn Nguyễn Thị L có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ vụ án và sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận hợp đồng đặt cọc giữa nguyên đơn và bị đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người kháng cáo bị đơn Nguyễn Thị L trình bày: Mong muốn được thỏa thuận với nguyên đơn để giải quyết dứt điểm của vụ án. Bị đơn sẽ có trách nhiệm thanh toán cho nguyên đơn số tiền là 65.000.000đ. Số tiền án phí có giá ngạch theo bản án sơ thẩm tuyên là 5.000.000đ, nguyên đơn và bị đơn mỗi người chịu 2.500.000đ. Bị đơn có trách nhiệm chịu án phí sơ thẩm dân sự là 300.000đ. Nếu nguyên đơn nhất trí thì bị đơn sẽ chuyển khoản thanh toán cho nguyên đơn tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay.
Nguyên đơn nhất trí với ý kiến của bị đơn: Yêu cầu bị đơn thanh toán ngay số tiền tại phiên tòa phúc thẩm là 65.000.000đ. Còn về phần án phí có giá ngạch thì nguyên đơn cũng nhất trí chịu 2.500.000đ, tuy nhiên tại bản án sơ thẩm tuyên nguyên đơn được hoàn lại số tiền là 2.500.000đ nên nguyên đơn nhất trí chuyển số tiền đó sang để nộp án phí có giá ngạch luôn.
Nguyên đơn xác nhận chị L đã chuyển tiền từ số tài khoản 8866612326 chi nhánh Ngân hàng B vào số tài khoản của nguyên đơn là 0988078383 chi nhánh ngân hàng V hồi 8 giờ 48 phút ngày 06/06/2025. Nguyên đơn đã nhận đủ số tiền 65.000.000₫
Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng phát biểu quan điểm:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa, người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
Về đường lối giải quyết: Tại phiên tòa hôm nay các bên đương sự đã tự nguyện thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, việc thỏa thuận của các đương sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội nên cần ghi nhận.
Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ 1 Điều 300; điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng và công nhận sự thỏa thuận của các bên đương sự tại phiên tòa phúc thẩm.
Sau khi nghiên cứu hồ sơ và thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa, nghe lời trình bày của các đương sự, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm thực hiện và tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong việc thụ lý, xác định thẩm quyền, quan hệ pháp luật tranh chấp, thu thập và giao nộp chứng cứ và hòa giải, trình tự và thủ tục phiên tòa sơ thẩm. Đơn kháng cáo của bị đơn Nguyễn Thị L nộp trong thời hạn luật định, bị đơn đã nộp tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm và có biên lai nộp cho Tòa án trong thời hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về sự vắng mặt của nguyên đơn Phan Ngọc Q và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn C, Trần Thị C1 đều đã có giấy ủy quyền tham gia tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
[3] Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay giữa nguyên đơn và bị đơn tự nguyện thỏa thuận, thống nhất được hướng giải quyết vụ án như sau:
Về hợp đồng đặt cọc: Nguyên đơn và bị đơn thống nhất hợp đồng đặt cọc ngày 14/7/2024 giữa bên đặt cọc ông Phan Ngọc Q và bên nhận đặt cọc bà Nguyễn Thị L là vô hiệu.
Về việc thanh toán tiền cọc: Bị đơn có trách nhiệm thanh toán cho Nguyên đơn số tiền (đặt cọc) là 65.000.000đ (sáu mươi năm triệu đồng). Nguyên đơn xác nhận chị L đã chuyển tiền từ số tài khoản 8866612326 chi nhánh Ngân hàng B vào số tài khoản của nguyên đơn là 0988078383 chi nhánh ngân hàng V hồi 8 giờ 48 phút ngày 06/06/2025. Nguyên đơn đã nhận đủ số tiền trên.
Về án phí sơ thẩm có giá ngạch: Nguyên đơn tự nguyện chịu án phí dân sự có giá ngạch là 2.500.000đ để sung công quỹ Nhà nước; Nguyên đơn nhất trí đối trừ vào số tiền 2.500.000đ tại bản án sơ thẩm tuyên nguyên đơn được hoàn lại số tiền là 2.500.000đ theo biên lai số 0001123 ngày 11/11/2024 tại chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
Bị đơn tự nguyện chịu án phí có giá ngạch 2.500.000đ để sung công quỹ Nhà nước.
Về án phí sơ thẩm dân sự: Bị đơn tự nguyện chịu án phí sơ thẩm dân sự là 300.000đ theo bản án dân sự sơ thẩm tuyên để sung công quỹ Nhà nước.
Hội đồng xét xử xét thấy, tại phiên tòa hôm nay các bên đương sự đã tự nguyện thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, việc thỏa thuận của các đương sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội nên cần ghi nhận sự thỏa thuận của các bên đương theo quy dịnh tại điều 300 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần được chấp nhận.
[4] Về án phí phúc thẩm: Do Toà án cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị đơn Nguyễn Thị L và sửa bản án sơ thẩm nên bà L không phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định tại điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 300, Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận kháng cáo của bị đơn Nguyễn Thị L.
- Sửa toàn bộ Bản án Dân sự sơ thẩm số 11/2025/DS-ST ngày 12/3/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
- Công nhận sự thỏa thuận của các bên đương sự tại phiên tòa phúc thẩm như sau:
- Về hợp đồng đặt cọc: Nguyên đơn và bị đơn thống nhất hợp đồng đặt cọc ngày 14/7/2024 giữa bên đặt cọc ông Phan Ngọc Q và bên nhận đặt cọc bà Nguyên Thị Lập L3 vô hiệu.
- Về việc thanh toán tiền cọc: Bị đơn nhất trí thanh toán cho Nguyên đơn số tiền (đặt cọc) là 65.000.000đ (sáu mươi năm triệu đồng). Nguyên đơn xác nhận chị L đã chuyển tiền từ tài khoản 8866612326 chi nhánh Ngân hàng B vào số tài khoản của nguyên đơn là 0988078383 chi nhánh ngân hàng V hồi 8 giờ 48 phút ngày 06/06/2025. Xác nhận nguyên đơn đã nhận đủ số tiền trên.
- Về án phí sơ thẩm có giá ngạch:
- Nguyên đơn tự nguyện chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch 2.500.000đ để sung công quỹ Nhà nước. Nguyên đơn nhất trí đối trừ vào số tiền 2.500.000đ tại bản án sơ thẩm đã tuyên nguyên đơn được hoàn lại số tiền là 2.500.000đ theo biên lai số 0001123 ngày 11/11/2024.
- Bị đơn tự nguyện chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch 2.500.000đ để sung công quỹ Nhà nước.
- Về án phí sơ thẩm dân sự: Bị đơn tự nguyện chịu án phí sơ thẩm dân sự là 300.000đ để sung công quỹ Nhà nước.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị L không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Nay bà được hoàn lại số tiền bà đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm là 300.000đ theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0001263 ngày 11/4/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Như |
Bản án số 36/2025/DS-PT ngày 06/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Số bản án: 36/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
