Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHƯ PƯH

TỈNH GIA LAI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2024/HSST

Ngày 24-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ PƯH, TỈNH GIA LAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Ngọc Trung

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Chu Xuân Toàn

2. Bà Nguyễn Thanh Thắm (nguyên là giáo viên – Hiệu trưởng trường Tiểu học Nguyễn Viết Xuân)

- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Trí - Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 36/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Đào Thị Thái T, sinh ngày: 15/01/1984 tại huyện C, tỉnh Gia Lai; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn P, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 9/12; con ông Đào Xuân Đ và bà Nguyễn Thị Kim L; có chồng là Nguyễn Công D (đã chết) và 03 người con, lớn nhất sinh năm 2001, nhỏ nhất sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/3/2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

2. Lê Minh Đ1, sinh ngày: 24/4/2007, tại huyện C, tỉnh Gia Lai; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 7/12; con ông Lê Minh H (đã chết) và bà Lê Thị L1; tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt tạm giam từ ngày 30/3/2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

- Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Lê Minh Đ1: Bà Lê Thị L1, sinh năm 1985;

Trú tại: Thôn T, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai. (Là mẹ đẻ của bị cáo Đl). Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Lê Minh Đ1: Ông Nguyễn Đình C - Trợ giáp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh G. Có mặt

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Kpuih W, sinh ngày 29/4/2008;

    Trú tại: P, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

    Đại diện hợp pháp của Kpuih W: Ông Siu B, sinh năm 1980 và bà Kpuih H1' Pĩ, sinh năm 1984 (Là cha mẹ đẻ của Kpuih W);

    Địa chỉ: Thôn T, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

  2. Anh Rmah T1, sinh năm 1999;

    Trú tại : Plei H, thị trấn N, huyện C, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt

  3. Anh Siu D1, sinh ngày 17/6/2006;

    Trú tại: P, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt

  4. Anh Ksor L2, sinh năm 2004;

    Trú tại: P, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt

  5. Anh Kpuih M, sinh năm 2002;

    Trú tại: P, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt

  6. Anh Rmah M1, sinh năm 1999;

    Trú tại: P, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt

  7. Anh Phạm Văn D2, sinh năm 1984;

    Trú tại : Thôn B, thị trấn C, huyện C, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt

  8. Anh Nguyễn Đình T2, sinh năm 1988;

    Trú tại : Làng V, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt

* Người phiên dịch tiếng Jarai: Ông Siu Thun P - Nguyên cán bộ Trung tâm y tế huyện C, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ ngày 20/3/2024, trong lúc Lê Minh Đ1 và Kpuih W, (sinh ngày 29/4/2008, trú tại thôn T, xã I, huyện C) đang chơi tại nhà Đào Thị Thái T tại P, xã I, huyện C thì có một người tên K (chưa rõ lai lịch) liên lạc với Đ1 để hỏi mua ma túy với số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng) thì Đ1 hỏi T có ma túy để bán không, T trả lời “có” và lấy một gói ma túy đưa cho Đ1 nhờ Đ1 đi giao cho K. Khi có được ma túy từ T thì Đ1 đã cắt gói ma túy ra, rồi lấy ra khoảng 1/3 lượng ma tuý cất vào trong người, số lượng ma túy còn lại Đ1 mang giao bán cho K và lấy 1.000.000 đồng đưa cho T. Đến khoảng 22 giờ 00 phút cùng ngày, thì Đ1 rủ W và T góp tiền mua ma tuý đá về sử dụng. W đồng ý nói Đ1 cho mượn 100.00 đồng để góp mua ma tuý, T cũng đồng ý góp 150.000 đồng, số tiền này Đ1 nói trừ nợ tiền mà Đ1 đang nợ T thì T đồng ý. Sau đó, Đ1 đã lấy số ma túy mà Đ1 có được từ việc lấy bớt trong gói ma túy giao bán cho K trước đó ra để Đ1, W và T cùng nhau sử dụng, rồi W lấy dụng cụ sử dụng ma tuý gồm: Chai nhựa, cóng bằng thuỷ tinh, bật lửa có sẵn trong nhà của T để trên một chiếc chiếu tại phòng khách. Tiếp đó, Đ1 cắt ống nhựa đổ ma tuý đá vào cóng rồi bật lửa nấu chín ma tuý. Sau khi đã chuẩn bị xong, thì Đ1, T và W cùng nhau hút ma tuý đá. Đến khoảng 00 giờ ngày 21/3/2024, T tiếp tục đưa ra một gói ma tuý đá cùng Đ1 và W sử dụng. Đến khoảng 02 giờ cùng ngày thì T không sử dụng ma tuý nữa mà đi vào phòng ngủ. Đến khoảng 07 giờ 45 phút cùng ngày, W vừa hút ma tuý xong thì Công an xã I đến kiểm tra, bắt quả tang T, Đ1 và W có hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý tại nhà của Đào Thị Thái T; thu giữ và niêm phong dụng cụ sử dụng ma tuý gồm: 02 (hai) ống thuỷ tinh không rõ hình dạng, có bám dính chất màu trắng đục, nghi là ma tuý; 01 (một) đoạn ống nhựa được hàn kín một đầu, có bám dính chất màu trắng đục bên trong, nghi là ma tuý; 01 (một) mảnh vỡ bật lửa cùng thiết bị đánh lửa bằng điện; 01 (một) chai nhựa và 01 chiếc chiếu nhựa màu đỏ trắng kích thước (2x1,4)m. Sau khi bắt quả tang, Công an xã I đã bàn giao đối tượng và vật chứng cho Cơ quan CSĐT Công an huyện C để điều tra theo thẩm quyền.

Sau khi tiếp nhận, Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã ra Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đào Thị Thái T, đồng thời T đã tự nguyện giao nộp: 01 gói nilon bên trong chứa chất màu trắng dạng tinh thể; 05 đoạn ống nhựa được hàn kín hai đầu bên trong chứa chất màu trắng dạng tinh thể (T khai nhận là ma tuý đá) và 02 cân tiểu ly dùng để cân ma tuý, Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã tiến hành niêm phong theo quy định. Quá trình khám xét thu giữ thêm 01 cân tiểu ly.

Quá trình điều tra, Đào Thị Thái T khai nhận: Vào ngày 20/3/2024, T đã mua số ma tuý trên của một người tên T2 (thường gọi là T2 con), việc mua bán ma tuý diễn ra tại nhà của T, rồi T cất giấu trong nhà với mục đích bán cho những người có nhu cầu sử dụng chất ma tuý để kiếm tiền lời. Tối ngày 20/3/2024, T đã bán ma tuý cho Phạm Thanh D3 (tên thương gọi là Ú), sinh năm 1984, trú tại thôn B, thị trấn C, huyện C, tỉnh Gia Lai số lượng ma tuý “25 số” với số tiền 3.300.000 đồng (ba triệu ba trăm nghìn đồng), trước đó vào tháng 01/2024 T đã bán cho D3 với số lượng ma túy là 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng). Ngoài ra, T còn khai nhận, từ tháng 01/2024 đến tháng 3/2024 T đã nhiều lần mua ma tuý của T2 (khoảng 05 lần) để bán cho nhiều người gồm: Rmah T1 (sinh năm 1999, trú tại P, TT N, huyện C) 03 lần; Siu D1 (sinh năm 2006, trú tại P, xã I, huyện C) 05 lần; Ksor L2, sinh năm 2004, trú tại P, xã I, huyện C) 02 lần và Kpă Si N (sinh năm 1997, trú tại P, TT N, huyện C) 02 lần. Đồng thời, trong thời gian từ tháng 01/2024 đến tháng 3/2024, T đã đưa ma túy cho Đ1 08 lần để nhờ Đ1 giao bán cho những người sử dụng ma túy trên địa bàn huyện C.

Quá trình điều tra mở rộng đã xác định được: Ngoài lần thực hiện hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trên thì Lê Minh Đ1 còn thực hiện hành vi Mua bán trái phép chất ma túy, vào tháng 01/2024 và ngày 20/3/2024, tại P, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai, cụ thể như sau:

Vào tháng 01/2024, Lê Minh Đ1 thường xuyên đến nhà Đào Thị Thái T chơi, biết T cũng sử dụng chất ma túy đá và T có bán ma túy đá cho những người khác thì Đ1 có ý định giúp T giao bán ma túy đá, mục đích là để hưởng lợi từ việc lấy bớt ma túy mỗi lần giao bán cho người khác để sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân. Bản thân Lê Minh Đ1 có sử dụng ma túy đá nhưng không có ma túy để bán, khi có người liên hệ hỏi mua ma túy thì Đ1 sẽ trao đổi với T về số tiền mà người cần mua ma túy đề cập, rồi T đưa gói ma túy tương ứng với số tiền để Đ1 đi giao bán, khi lấy được tiền từ việc bán ma túy thì Đ1 đưa hết cho T. Trong thời gian từ tháng 01/2024 đến ngày 20/3/2024, Đ1 giúp T giao bán ma túy cho những người gồm: Kpuih Mang (sinh năm 2002, trú tại thôn T, xã I, huyện C) 02 lần; Rmah M2 (sinh năm 1999, trú tại thôn T, xã I, huyện C) 02 lần; Rơ Mah Q, (sinh năm 2002, trú tại thôn T, xã I, huyện C) 02 lần và đối tượng tên K (hiện chưa rõ lai lịch) 02 lần.

Tại Kết luận giám định số: 359/KL-KTHS ngày 28/3/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh G kết luận:

1. Chất màu trắng đục bám dính trong 01 (một) đoạn ống nhựa và trong 02 (hai) đoạn ống thuỷ tinh, uốn cong, trong bì công văn, ghi “01” (mô tả tại mục Mẫu cần giám định) đều là ma túy, loại Methamphetamine, do lượng mẫu ít nên không cân được khối lượng chất bám dính.

2. Chất màu trắng dạng tinh thể trong 01 (một) gói nilon và 05 (năm) đoạn ống nhựa được niêm phong trong bì công văn, ghi “02” (mô tả tại mục Mẫu cần giám định) đều là ma túy, loại Methamphetamine, tổng khối lượng 1,0452gam

Tại Bản cáo trạng số 38/CT-VKS ngày 28/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Đào Thị Thái T và Lê Minh Đ1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 251 và điểm b, c khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

Diễn biến tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 251 và điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 55, Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đào Thị Thái T từ 08 năm đến 09 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội từ 15 năm 06 tháng đến 17 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ là ngày 21/3/2024.

Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 251 và điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 55, Điều 58; Điều 90, Điều 91; Điều 98; khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Mình Đ2 từ 05 năm 06 tháng 06 năm về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội từ 11 năm đến 12 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ là ngày 30/3/2024.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị tịch thu tiêu hủy 0,8801 gam chất màu trắng, dạng tinh thể (loại Methamphetamine) trong 06 (sáu) gói nilon cùng vỏ bao gói, đã được niêm phong theo quy định; 01 (Một) đoạn ống nhựa, một đầu hở và 02 (hai) đoạn ống thủy tinh, uốn cong, đã được niêm phong; 01 (Một) chiếc chiếu nhựa màu đỏ trắng, kích thước (2x1,4)m, đã qua sử dụng; 01 (Một) chai nhựa cao 21cm, nắp màu vàng, đã qua sử dụng; 01 (Một) mảnh vỡ bật lửa màu đỏ cùng một thiết bị đánh lửa bằng điện màu đen; 03 (Ba) cân tiểu ly, có cùng kích thước (3,5x6,5)cm, màu đen bạc, đã qua sử dụng; tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 (Một) chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu VIVO loại 1916, màu đen, đã qua sử dụng; 01 (Một) chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu APPLE loại Iphone 6 (16GB), màu Gold, đã qua sử dụng.

Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo không có nghề nghiệp và không có thu nhập ổn định nên đề nghị miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền với các bị cáo.

Về án phí: Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Đào Thị Thái T và Lê Minh Đ1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo Lê Minh Đ1 thống nhất với tội danh và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Tuy nhiên, trong vụ án này, bị cáo không phải là người chủ mưu, bị cáo là người giúp sức cho bị cáo T. Việc mua bán ma túy không vì mục đích mua bán để kiếm lời. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo phạm tội trong độ tuổi chưa thành niên nên nhận thức pháp luật có phần bị hạn chế. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ đối với người chưa thành niên phạm tội và trên nguyên tắc để giúp đỡ, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt. Với các phân tích nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định hình phạt đối với bị cáo Đ1 dưới mức đại diện Viện kiểm sát đề nghị và tuyên phạt bị cáo mức án cho cả hai tội dưới 10 năm tù.

Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Lê Minh Đ1, bà Lê Thị L1 trình bày: Việc bị cáo Đ1 thực hiện các hành vi phạm tội gia đình hoàn toàn không biết. Hiện nay hoàn cảnh gia đình rất khó khăn, bố Đ1 mất sớm và một mình mẹ chăm lo cho sáu người con. Ông ngoại của Đ1 là Lê Văn S đã lập được chiến công trong chiến đấu được Chủ tịch nước tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng 3. Do đó mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Đ1.

Các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Các bị cáo đều thừa nhận nội dung bản Cáo trạng đã truy tố các bị cáo là đúng, thể hiện đúng diễn biến hành vi các bị cáo đã thực hiện và không oan, sai.

[3] Hội đồng xét xử xác định: Bị cáo Đào Thị Thái T, Lê Minh Đ1 và Kpuih W là người nghiện ma túy nên vào ngày 20/3/2024, các bị cáo Đào Thị Thái T, bị cáo Lê Minh Đ1 và Kpuih W đã thực hiện hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại thôn P, xã I, huyện C. Cụ thể T sử dụng phòng khách nhà riêng của mình để làm địa điểm tổ chức sử dụng ma túy, T thống nhất ý chí cùng với Lê Minh Đ1 và Kpuih W góp tiền để Đ1 mua ma túy về cùng sử dụng, khi đã sử dụng hết T tiếp tục cung cấp gói ma túy khác để T, Đ1 và W cùng nhau sử dụng trái phép chất ma túy. Đào Thị Thái T biết việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là nguy hiểm cho xã hội và vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện hành vi tổ chức cho Lê Minh Đ1 và Kpuih W là người từ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi sử dụng trái phép chất ma túy. Do đó, hành vi của bị cáo Đào Thị Thái T đã có đủ yếu tố để cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung hình phạt “Đối với 02 người trở lên” và “Đối với người từ đủ 13 đến dưới 18 tuổi” quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

[4] Ngoài ra, bị cáo Đào Thị Thái T còn thực hiện hành vi Mua bán trái phép chất ma túy. Cụ thể trong thời gian từ tháng 01/2024 đến ngày 20/3/2024, T nhiều lần mua ma túy của một người tên T2 sau đó phân ra thành nhiều gói nhỏ để trực tiếp giao bán ma túy cho 05 (năm) người, tổng cộng 14 lần. Cũng trong thời gian này T còn đưa ma túy cho Lê Minh Đ1 để Đ1 giao bán tổng cộng 08 lần, mục đích T bán ma túy là để hưởng tiền lời; tại thời điểm bắt quả tang T đã giao nộp 06 gói ma túy, loại Methamphetamine, tổng khối lượng 1,0452gam, T khai cất giữ số ma túy này mục đích là để bán cho người khác để hưởng tiền lời. Đào Thị Thái T biết việc mua bán trái phép chất ma túy là nguy hiểm cho xã hội và vi phạm pháp luật nhưng do muốn có tiền tiêu xài phục vụ mục đích cá nhân nên vẫn thực hiện hành vi bán ma túy cho nhiều người, nhiều lần. Do đó, hành vi của bị cáo Đào Thị Thái T đã đủ yếu tố để cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy với tình tiết định khung hình phạt “Phạm tội 02 lần trẻ lên” và “Đối với 02 người trở lên” quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

[5] Đối với bị cáo Lê Minh Đ1 là người khởi xướng, rủ rê Đào Thị Thái T và Kpuih W góp tiền mua ma túy để sử dụng, Đ1 là người cung cấp ma túy (thực tế gói ma túy là do Đ1 lấy bớt được từ việc bán ma túy cho K giúp T). Đ1 là người trực tiếp cắt, đổ ma túy vào dụng cụ sử dụng, dùng bật lửa nấu chín ma túy để Đ1, T và W cùng nhau sử dụng. Lê Minh Đ1 biết việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là nguy hiểm cho xã hội và vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện hành vi tổ chức cho Đào Thị Thái T và Kpuih W (Kpuih Wlà người từ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi) sử dụng trái phép chất ma túy. Do đó, hành vi của bị cáo Lê Minh Đ1 đã có đủ yếu tố cấu thành tội: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy với tình tiết định khung hình phạt “Đối với 02 người trở lên” và “Đối với người từ đủ 13 đến dưới 18 tuổi” quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

[6] Ngoài ra, bị cáo Lê Minh Đ1 còn đồng phạm với Đào Thị Thái T về hành vi Mua bán trái phép chất ma túy với vai trò là người giúp sức. Cụ thể trong thời gian từ tháng 01/2024 đến ngày 20/3/2024, Đ1 đã giúp Đào Thị Thái T bán ma túy cho 04 người, tổng cộng 08 lần; loại ma túy Đ1 bán giúp cho T giống với loại ma túy trong 06 gói T đã giao nộp cho Cơ quan điều tra. Lê Minh Đ1 biết việc bán trái phép chất ma túy là nguy hiểm cho xã hội và vi phạm pháp luật nhưng do muốn có ma túy để sử dụng (lấy bớt được từ việc bán giúp ma túy) nên vẫn thực hiện hành vi bán ma túy cho nhiều người, nhiều lần. Do đó, hành vi của bị cáo Lê Minh Đ1 đã có đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy với tình tiết định khung hình phạt “Phạm tội 02 lần trẻ lên” và “Đối với 02 người trở lên” quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

[7] Hành vi phạm tội của các bị cáo Đào Thị Thái T và Lê Minh Đ1 là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm chính sách độc quyền về quản lý chất ma tuý của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an toàn xã hội tại địa phương và tiềm ẩn nguy cơ làm phát sinh các loại tội phạm khác. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo đều có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, các bị cáo ý thức được tác hại, hậu quả xấu của ma túy và việc mua bán, sử dụng trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm nhưng để thoả mãn nhu cầu bản thân nên vẫn cố ý thực hiện. Do đó các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với hành vi phạm tội của mình. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo và yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm về ma túy tại địa phương, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt nghiêm đối với các bị cáo, áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để đảm bảo hiệu quả giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[8] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Đối với bị cáo T quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải, bị cáo hiện đang một mình nuôi 03 con còn nhỏ, bị cáo có nhiều lần hiến máu nhân đạo nhằm mục đích cứu người. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đối với bị cáo Đ1, quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải, bị cáo có ông ngoại là người có công với nước được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người dưới 18 tuổi nên bị cáo còn được hưởng những quy định của pháp luật áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội được quy định tại Điều 90, Điều 91; Điều 98; khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự sẽ được áp dụng để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

[9] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (Một) chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO F5, màu đỏ, đã qua sử dụng; qua điều tra xác định đây là tài sản của Kpuih W, bản thân W không sử dụng chiếc điện thoại trên vào mục đích Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 20/3/2024. Do đó Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 29 ngày 14/8/2024 giao trả tài sản trên cho Kpuih W nhận là đúng quy định nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với 0,8801 gam chất màu trắng, dạng tinh thể (loại Methamphetamine) trong 06 (sáu) gói nilon cùng vỏ bao gói, đã được niêm phong theo quy định; 01 (Một) đoạn ống nhựa, một đầu hở và 02 (hai) đoạn ống thủy tinh, uốn cong, đã được niêm phong; 01 (Một) chiếc chiếu nhựa màu đỏ trắng, kích thước (2x1,4)m, đã qua sử dụng; 01 (Một) chai nhựa cao 21cm, nắp màu vàng, đã qua sử dụng; 01 (Một) mảnh vỡ bật lửa màu đỏ cùng một thiết bị đánh lửa bằng điện màu đen; 03 (Ba) cân tiểu ly, có cùng kích thước (3,5x6,5)cm, màu đen bạc, đã qua sử dụng lửa là công cụ, phương tiện sử dụng vào việc phạm tội và là vật cấm tàng trữ nên áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu huỷ.

Đối với 01 (Một) chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu VIVO loại 1916, màu đen, đã qua sử dụng; 01 (Một) chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu APPLE loại Iphone 6 (16GB), màu Gold, đã qua sử dụng, mà các bị cáo Đào Thị Thái T và Lê Minh Đ1 sử dụng để làm công cụ, phương tiện phạm tội. Xét, đây là công cụ, phương tiện các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên áp dụng điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự tịch thu sung Công quỹ Nhà nước.

[10] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, bị cáo Đ1 không có tài sản riêng nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[11] Đối với Kpuih W đã thực hiện hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, cụ thể W thống nhất góp tiền cùng với Đào Thị Thái T và Lê Minh Đ1 để Đ1 mua ma túy để sử dụng, W là người lấy công cụ để phục vụ vào việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Do đó, hành vi của Kpuih W đã phạm vào khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, tại thời điểm thực hiện hành vi vi phạm thì Kpuih W chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự (dưới 16 tuổi). Căn cứ khoản 2 Điều 12 Bộ luật Hình sự, hành vi của Kpuih W không cấu thành tội: Tổ chức sử dụng trái pháp chất ma túy theo quy định tại Điều 255 Bộ luật hình sự. Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã chuyển một phần hồ sơ liên quan đến Công an huyện C để lập hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân huyện Chư Pưh áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Đưa vào trường giáo dưỡng đối với Kpuih W là đúng quy định pháp luật. Vì vậy, HĐXX không xem xét.

[12] Đối với Nguyễn Đình T2: Theo lời khai của Đào Thị Thái T thì T đã mua ma túy của người tên T2, liên lạc với T2 qua số thuê bao “0868547286” để thống nhất số lượng, số tiền mua ma túy, T2 trực tiếp giao ma túy cho T, rồi T chia nhỏ ra để bán kiếm lời. Qua công tác điều tra, xác minh, Cơ quan điều tra đã xác định Nguyễn Đình T2, sinh năm 1988, trú tại Làng V, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai là người có thông tin, đặc điểm giống với người tên T2 mà T khai. Qua đấu tranh T2 khai nhận: T2 có quen biết với T, vào tối ngày 20/3/2024, T2 có đến nhà T để mượn xe máy chứ không phải để giao dịch mua bán ma túy với T và trước đó vào tháng 01/2024, T2 đã mua một gói ma túy của T với số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) để về sử dụng, bản thân T2 cũng không sử dụng số thuê bao “0868547286”, bên cạnh đó qua xác minh chủ đăng ký số thuê bao “0868547286” mang tên Trần Thị Thu H2, sinh năm 1995, trú tại thôn H, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai. Cơ quan điều tra đã tiến hành nhận dạng, đối chất nhưng vẫn chưa làm rõ được mâu thuẫn trên, ngoài lời khai của bị cáo Đào Thị Thái T, Cơ quan điều tra không có chứng cứ, tài liệu nào khác thể hiện Nguyễn Đình T2 là người đã cung cấp, bán ma túy cho Đào Thị Thái T. Do đó, không có đủ cơ sở vững chắc xác định Nguyễn Đình T2 phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy, quy định tại Điều 251 Bộ luật hình sự. Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh, làm rõ và đề nghị xử lý khi có đủ căn cứ. Đối với việc Nguyễn Đình T2 khai nhận có sử dụng chất ma túy, qua làm việc Cơ quan điều tra đã tiến hành test nhanh chất ma túy qua nước tiểu thì T2 có kết quả dương tính. Do đó, Cơ quan điều tra đã chuyển một phần hồ sơ, tài liệu liên quan đề nghị Công an huyện C xử phạt vi phạm hành chính theo quy định là đúng quy định pháp luật.

[13] Đối với Trần Thị Thu H2, sinh năm 1995, trú tại thôn H, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai là chủ đăng ký số thuê bao “0868547286”. Qua làm việc, chị H2 khai nhận: Vào tháng 01/2023, chị H2 đã đăng ký và sử dụng số thuê bao “0868547286”. Tuy nhiên, đến tháng 6/2023, chị H2 đã làm mất thẻ sim thuê bao số “0868547286”, từ đó chị H2 không còn sử dụng số thuê bào này và cũng không biết hiện tại ai đang quản lý, sử dụng số thuê bào này. Do đó, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là đúng quy định pháp luật.

[14] Đối với Rmah T1, K, Siu D1, K, Rmah M2 là các đối tượng đã mua ma túy của Đào Thị Thái T và Lê Minh Đ1 với mục đích sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân; các đối tượng sử dụng ma túy một mình tại nhà. Do đó, Cơ quan điều tra đã chuyển một phần hồ sơ, tài liệu liên quan đề nghị Công an huyện C xử phạt vi phạm hành chính theo quy định là đúng quy định pháp luật.

[15] Đối với Phạm Thanh D3: Vào ngày 20/3/2024, D3 đã góp tiền với người tên N1 (chưa rõ lai lịch) để mua ma túy về sử dụng, D3 là người trực tiếp liên lạc với Đào Thị Thái T để mua ma túy. Sau khi mua được ma túy thì D3 và N1 đã chia nhau, D3 mang ma túy về nhà để sử dụng một mình tại thị trấn C, huyện C, tỉnh Gia Lai. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã có Công văn phối hợp gửi Công an huyện C, tỉnh Gia Lai đề nghị xác minh, xử lý Phạm Thanh D3 theo thẩm quyền là đúng quy định pháp luật.

[16] Đối người tên N1 theo lời khai của Phạm Văn D2: Vào ngày 20/3/2024, N1 đã góp tiền với D2 để mua ma túy của Đào Thị Thái T, qua xác minh tại bàn huyện C có người tên Hồ Khắc N1, sinh năm 2000, trú tại thôn B, thị trấn C, huyện C, tỉnh Gia Lai. Tuy nhiên, hiện Như không có mặt tại địa phương, đi đâu, làm gì gia đình và chính quyền địa phương không rõ, Cơ quan điều chưa tiến hành làm việc được với Như để làm rõ nội dung sự việc. Do đó, Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh, làm rõ và đề nghị xử lý khi có đủ căn cứ là đúng quy định pháp luật. Vì vậy, HĐXX không xem xét.

[17] Đối với đối tượng K: Theo lời khai của Lê Minh Đ1 thì K là người đã mua mua túy của Đ1 02 lần và nghe nói nhà K ở xã H, huyện C, tỉnh Gia Lai; Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, truy tìm nhưng đến nay chưa xác định được nhân thân, lai lịch và địa chỉ cụ thể của K. Do đó, Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh, làm rõ và đề nghị xử lý khi có đủ căn cứ là đúng quy định pháp luật. Vì vậy, HĐXX không xem xét.

[18] Đối với người tên N và Q: Theo lời khai của Đào Thị Thái T thì N là người đã mua ma túy của T tổng cộng 02 lần; qua xác minh, Cơ quan điều tra đã xác định trên địa bàn thị trấn N, có người tên Kpă Si N, sinh năm 1997, trú P, TT N, huyện C, tỉnh Gia Lai. Theo lời khai của Lê Minh Đ1 thì Q là người đã mua ma túy của Đ1 tổng cộng 02 lần; qua xác minh, Cơ quan CSĐT xác định trên địa bàn xã I có người tên Rơ Mah Q, sinh năm 2002, trú tại thôn T, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai. Tuy nhiên, hiện N và Q không có mặt tại địa phương, đi đâu, làm gì gia đình và chính quyền địa không rõ, Cơ quan điều chưa tiến hành làm việc được với N và Q để làm rõ nội dung sự việc. Do đó, Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh, làm rõ và đề nghị xử lý khi có đủ căn cứ là đúng quy định pháp luật. Vì vậy, HĐXX không xem xét.

[19] Về án phí: Buộc bị cáo Đào Thị Thái T và Lê Minh Đ1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Đào Thị Thái T và Lê Minh Đ1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

2. Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 251; Điều 38; Điều 58; điểm s khoản 1, và 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đào Thị Thái T 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255; Điều 38 điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đào Thị Thái T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt chung buộc bị cáo Đào Thị Thái T phải chấp hành của hai tội là 15 (mười lăm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ là ngày 21/3/2024. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo việc thi hành án.

Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 251; Điều 38; Điều 58; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 90, Điều 91; Điều 98; khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Minh Đ1 05 (năm) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255; Điều 38 điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 90, Điều 91; Điều 98; khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Minh Đ1 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt chung buộc bị cáo Lê Minh Đ1 phải chấp hành của hai tội là 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ là ngày 30/3/2024. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo việc thi hành án.

3. Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 0,8801 gam chất màu trắng, dạng tinh thể (loại Methamphetamine) trong 06 (sáu) gói nilon cùng vỏ bao gói, đã được niêm phong theo quy định; 01 (Một) đoạn ống nhựa, một đầu hở và 02 (hai) đoạn ống thủy tinh, uốn cong, đã được niêm phong; 01 (Một) chiếc chiếu nhựa màu đỏ trắng, kích thước (2x1,4)m, đã qua sử dụng; 01 (Một) chai nhựa cao 21cm, nắp màu vàng, đã qua sử dụng; 01 (Một) mảnh vỡ bật lửa màu đỏ cùng một thiết bị đánh lửa bằng điện màu đen; 03 (Ba) cân tiểu ly, có cùng kích thước (3,5x6,5)cm, màu đen bạc, đã qua sử dụng.

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 (Một) chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu VIVO loại 1916, màu đen, đã qua sử dụng; 01 (Một) chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu APPLE loại Iphone 6 (16GB), màu Gold, đã qua sử dụng.

(Đặc điểm cụ thể của vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 30/8/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện C và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai).

5. Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án buộc bị cáo Đào Thị Thái T và Lê Minh Đ1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.

6. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, các bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo chưa thành niên, người bào chữa cho bị cáo chưa thành niên có quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Những người vắng mặt có quyền kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo, người bào chữa;
  • - VKSND huyện Chư Pưh;
  • - CQĐT Công an huyện Chư Pưh;
  • - CQTHAHS Công an huyện Chư Pưh;
  • - NTG Công an huyện Chư Pưh;
  • - CCTHADS huyện Chư Pưh;
  • - TAND tỉnh Gia Lai;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Gia Lai;
  • - Lưu hồ sơ;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Ngọc Trung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 36/2024/HSST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ PƯH, TỈNH GIA LAI về mua bán trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 36/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ PƯH, TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vào khoảng 20 giờ ngày 20/3/2024, trong lúc Lê Minh Đức và Kpuih Wun, (sinh ngày 29/4/2008, trú tại thôn Thong B, xã Ia Hrú, huyện Chư Pưh) đang chơi tại nhà Đào Thị Thái Thanh tại Plei Dư, xã Ia Hrú, huyện Chư Pưh thì có một người tên Khánh (chưa rõ lai lịch) liên lạc với Đức để hỏi mua ma túy với số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng) thì Đức hỏi Thanh có ma túy để bán không, Thanh trả lời “có” và lấy một gói ma túy đưa cho Đức nhờ Đức đi giao cho Khánh. Khi có được ma túy từ Thanh thì Đức đã cắt gói ma túy ra, rồi lấy ra khoảng 1/3 lượng ma tuý cất vào trong người, số lượng ma túy còn lại Đức mang giao bán cho Khánh và lấy 1.000.000 đồng đưa cho Thanh. Đến khoảng 22 giờ 00 phút cùng ngày, thì Đức rủ Wun và Thanh góp tiền mua ma tuý đá về sử dụng. Wun đồng ý nói Đức cho mượn 100.00 đồng để góp mua ma tuý, Thanh cũng đồng ý góp 150.000 đồng, số tiền này Đức nói trừ nợ tiền mà Đức đang nợ Thanh thì Thanh đồng ý. Sau đó, Đức đã lấy số ma túy mà Đức có được từ việc lấy bớt trong gói ma túy giao bán cho Khánh trước đó ra để Đức, Wun và Thanh cùng nhau sử dụng, rồi Wun lấy dụng cụ sử dụng ma tuý gồm:
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger