Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐAKRÔNG

TỈNH QUẢNG TRỊ

Bản số: 36/2024/HS-ST

Ngày: 25/7/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAKRÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Thu Hà

Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Lê Thị Tây Nguyên

- Ông Nguyễn Đức Hoành Sơn

Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Văn Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đakrông.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đakrông tham gia phiên tòa: Ông Trần Nhật Tân - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2024, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị, Tòa án nhân dân huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 27/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2023/QĐXXST-HS, ngày 11 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo: Lê Thị Hồng T, sinh ngày 10 tháng 11 năm 1979, tại Quảng Trị; nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện H, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Cảnh Đ, sinh năm 1939 (đã chết) và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1938; chồng Nguyễn Tiến T1, sinh năm 1979( đã ly hôn năm 2015) và có 02 người con; lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/3/2024 đến ngày 16/4/2024 thì được thay đổi biện pháp ngăn chặn cho “ bảo lĩnh”. Hiện bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trương Thị Lệ T2, sinh năm: 1985; địa chỉ: Thôn T, thị trấn L, huyện H, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 09/3/2024, trong khi đang đang điều kiển xe ô tô BKS 74A- 071.86 đến cây xăng Đ1 ở thị trấn L để đổ xăng. Tại đây, Lê Thị Hồng T được một người tên thường gọi “Bé H” thuê vận chuyển pháo hoa nổ về khu vực ngã ba Cùa, huyện C, thì Lê Thị Hồng T đồng ý. Sau đó, Lê Thị Hồng T điều khiển ô tô BKS 74A- 071.86 đi theo người này đến khu vực nghĩa địa ở khóm V, thị trấn L. Tại đây, Lê Thị Hồng T và người phụ nữ này lần lượt đưa lên xe ô tô 80 hộp pháo hoa nổ và 20 bao pháo bị nổ được đựng trong thùng giấy và bao gai. Sau khi đưa toàn bộ số pháo lên xe ô tô người phụ nữ này nói với Lê Thị Hồng T vận chuyển số pháo hoa nổ nói trên đên khu vực ngã ba C, huyện C sẽ có người nhận với tiền công là 1.500.000 đồng. Đến khoảng 16 giờ 30 cùng ngày, khi Lê Thị Hồng T điều khiển xe ô tô BKS 74A- 071.86 vận chuyển số pháo nói trên đi đến K+ 400 Quốc lộ I thuộc địa phận khóm K, thị trấn K, huyện Đ, tỉnh Quảng trị, thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang, niêm phong toàn bộ tang vật

Tại bản kết luận giám định số 357/KL-KTHS ngày 15/3/2024 của Phòng K (PC09) Công an tỉnh Q kết luận: Mẫu vật đựng trong các thùng giấy được niêm phong theo thứ tự có ký hiệu P1 đến P5 gửi đến giám định là pháo hoa nổ và pháo nổ có tổng khối lượng 116,5 kilôgam (pháo hoa nổ 107,9 kilôgam; pháo nổ 8,6 kilôgam).

Bản cáo trạng số 29/CT-VKSÐKR ngày 13/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đakrông truy tố bị cáo Lê Thị Hồng T về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm g khoản 2 Điều 191 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đakrông giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Thị Hồng T phạm tội “Vận chuyển hàng cấm” .Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 191, khoản 1 Điều 38, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lê Thị Hồng T từ 33 tháng đến 36 tháng tù, cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật

- Về hình phạt bổ sung: Không

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự; tịch thu tiêu hủy:

  • + Mẫu vật hoàn trả sau giám định gồm 75 hộp pháo hoa nổ bên ngoài có ký hiệu C0834”; có tổng khối lượng 101,3kg; 8,5 kg pháo nổ, được niêm phong trong các thùng giấy, ký hiệu thứ tự từ P1-P5 có dấu niêm phong của Phòng K Công an tỉnh Q
  • + 01 hộp giấy có kích thước (55x30x23)cm, có dán băng keo trong suốt, trên bề mặt có dòng chữ “ORION”;
  • + 01 bao gai màu xanh có kích thước(50x40x20)cm;
  • + 01 bao gai màu trắng có kích thước(43x40x13)cm;
  • +01 hộp giấy có kích thước (34x32x28)cm trên bề mặt có dòng chữ “THĂNG LONG";
  • +01 hộp giấy có kích thước (77x47x25)cm trên bề mặt có dòng chữ “Hatari”;
  • +01 hộp giấy có kích thước (54x52x20)cm ;
  • + 01 bao nylon màu đen có kích thước (40x47)cm
  • +01 hộp giấy có kích thước (53x40x31)cm trên bề mặt có dòng chữ “VIÊN NGẬM AN PHÊ NAM DƯỢC”.

-Về khoản thu lợi bất chính: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; tịch thu, nộp ngân sách nhà nước tiền thu lợi bất chính do bị cáo Lê Thị Hồng T phạm tội mà có là 1.500.000 đồng; bị cáo đã nộp đủ số tiền1.500.000 đồng.

- Về án phí: Bị cáo Lê Thị Hồng T phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an, Viện kiểm sát nhân dân, Điều tra viên và Kiểm sát viên huyện Đ: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.

[2] Về tội danh: Ngày 09/3/2024, tại Km 39+400, Quốc lộ I thuộc địa phận khóm K, thị trấn K, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị; Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Đ quả tang Lê Thị Hồng T đang có hành vi vận chuyển 80 hộp pháo hoa nổ loại 36 ống và và 20 bao pháo bị nổ. Kết luận giám định số 357/KL-KTHS ngày 15/3/2024 của Phòng K (PC09) Công an tỉnh Q kết luận: Mẫu vật đựng trong các thùng giấy được niêm phong theo thứ tự có ký hiệu P1 đến P5 gửi đến giám định là pháo hoa nổ và pháo nổ có tổng khối lượng 116,5 kilôgam (pháo hoa nổ 107,9 kilôgam; pháo nổ 8,6 kilôgam).

Quá trình tại cơ quan Điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lê Thị Hồng T khai nhận toàn bộ 80 hộp pháo hoa nổ loại 36 ống và và 20 bao pháo bị nổ nói trên bị cáo đã nhận vận chuyển của một người phụ nữ không xác định được lai lịch từ khóm V, thị trấn L, huyện H, tỉnh Quảng Trị về khu vực ngã ba C, huyện C, tỉnh Quảng Trị với tiền công vận chuyển là 1.500.000 đồng. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với kết quả điều tra và các tài liệu, chứng cứ thu thập được, khẳng định hành vi của bị cáo Lê Thị Hồng T cấu thành tội “Vận chuyển hàng cấm”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 191của Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị truy tố bị cáo Lê Thị Hồng T theo điểm g khoản 2 Điều 191 của Bộ luật Hình sự là có cơ sở.

[3] Xét tính chất nguy hiểm, mức độ hậu quả của hành vi: Hành vi vận chuyển 107,9 kg pháo hoa nổ và 8,6 kg pháo nổ của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các loại hàng hóa mà Nhà nước cấm kinh doanh, lưu hành và sử dụng. Bị cáo Lê Thị Hồng T là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm nhưng do hám lợi mà bị cáo vẫn bất chấp các quy định của pháp luật. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo nhằm giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.

[4] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Lê Thị Hồng T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo Lê Thị Hồng T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ “ Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Sau khi phạm tội, bị cáo đã nộp lại số tiền thu lợi bất chính từ hành vi phạm tội (Án lệ số 48/2021/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 25/11/2021); nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ “ Nộp lại tiền thu lợi bất chính”( Căn cứ khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự). Xét bị cáo có nhân thân tốt; hoàn cảnh khó khăn, là lao động chính trong gia đình; một mình nuôi 02 con nhỏ đang trong độ tuổi đi học được chính quyền địa phương xác nhận; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội nên chỉ cần xử phạt tù, cho hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo và cũng tạo điều kiện cho bị cáo cải tạo trở thành người có ích cho xã hội (Căn cứ khoản 1,2,5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự).

Bị cáo hiện đang thực hiện biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Cần hủy bỏ biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối bị cáo (Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 của Bộ luật tố tụng hình sự).

[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng:

-Mẫu vật hoàn trả sau giám định gồm 75 hộp pháo hoa nổ bên ngoài có ký hiệu C0834”; có tổng khối lượng 101,3kg; 8,5 kg pháo nổ, được niêm phong trong các thùng giấy, ký hiệu thứ tự từ P1-P5 có dấu niêm phong của Phòng K Công an tỉnh Q; là vật cấm tàng trữ, lưu hành cần tịch thu tiêu hủy (Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự ).

-01 hộp giấy có kích thước (55x30x23)cm, có dán băng keo trong suốt, trên bề mặt có dòng chữ “ORION”; 01 bao gai màu xanh có kích thước(50x40x20)cm; 01 bao gai màu trắng có kích thước(43x40x13)cm; 01 hộp giấy có kích thước (34x32x28)cm trên bề mặt có dòng chữ “THĂNG LONG”; 01 hộp giấy có kích thước (77x47x25)cm trên bề mặt có dòng chữ “Hatari”; 01 hộp giấy có kích thước (54x52x20)cm; 01 bao nylon màu đen có kích thước (40x47)cm; 01 hộp giấy có kích thước (53x40x31)cm trên bề mặt có dòng chữ “VIÊN NGẬM AN PHÊ NAM DƯỢC” là vật chứng không có giá trị sử cần tịch thu tiêu hủy (Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự)

[7] Về khoản thu lợi bất chính: Số tiền thu lợi bất chính do bị cáo Lê Thị Hồng T phạm tội mà có là 1.500.000 đồng; cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước (Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự). Bị cáo đã nộp đủ số tiền1.500.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0000053 ngày 10/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đakrông.

[8] Về vấn đề khác: Đối với người phụ nữ thuê bị cáo Lê Thị Hồng T vận chuyển 116,5kg pháo nổ, Cơ quan điều tra đã áp dụng các biện pháp điều tra, xác minh nhưng không có kết quả, Hội đồng xét xử không xem xét.

Trương Thị Lệ T2 chủ sở hữu chiếc xe ô tô BKS 74A- 071.86, việc bị cáo Lê Thị Hồng T sử dụng xe ô tô nói trên để thực hiện hành vi phạm tội bà Trương Thị Lệ T2 hoàn toàn không biết. Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã trả lại xe ô tô nói trên cho bà Trương Thị Lệ T2.Tại phiên Tòa hôm nay bà Trương Thị Lệ T2 vắng mặt nhưng tài liệu trong hồ sơ thể hiện không có yêu cầu gì, Hội đồng xét xử không xem xét.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại cho chủ sở hữu ô tô BKS 74A- 071.86; 01 giấy chứng nhận kiểm định số DA 4893214 của phương tiện BKS 74A-071.86; 01 giấy biên nhận thế chấp đối với phương tiện BKS 74A- 071.86; 01 giấy phép lái xe mang tên Lê Thị Hồng T. 01 ĐTDĐ Iphonne X màu trắng, số IMEL 356718084945986, bên trong có gắn sim có số thuê bao 094131552 máy đã qua sử dụng. Hội đồng xét xử thấy, việc cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã xử lý trả lại cho chủ sở hữu các giấy tờ, đồ vật nói trên đúng quy định pháp luật nên không xem xét.

[9] Về án phí: Bị cáo Lê Thị Hồng T phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố Tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lê Thị Hồng T phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 191; khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1,2,5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lê Thị Hồng T 36 ( ba mươi sáu) tháng tù; cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 ( sáu mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án, ngày 25/7/2024.

Giao bị cáo Lê Thị Hồng T cho Ủy ban nhân dân xã Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Quảng Trị giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Quảng Trị trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ điểm a,c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Tịch thu tiêu hủy:

  • -75 hộp pháo hoa nổ bên ngoài có ký hiệu C0834”; có tổng khối lượng 101,3kg; 8,5 kg pháo nổ, được niêm phong trong các thùng giấy, ký hiệu thứ tự từ P1-P5 có dấu niêm phong của Phòng K Công an tỉnh Q( Vật chứng hiện Công an huyện Đ đang bảo quản)
  • -01 hộp giấy có kích thước (55x30x23)cm, có dán băng keo trong suốt, trên bề mặt có dòng chữ “ORION”; 01 bao gai màu xanh có kích thước(50x40x20)cm; 01 bao gai màu trắng có kích thước(43x40x13)cm; 01 hộp giấy có kích thước (34x32x28)cm trên bề mặt có dòng chữ “THĂNG LONG”; 01 hộp giấy có kích thước (77x47x25)cm trên bề mặt có dòng chữ “Hatari”; 01 hộp giấy có kích thước (54x52x20)cm; 01 bao nylon màu đen có kích thước (40x47)cm; 01 hộp giấy có kích thước (53x40x31)cm trên bề mặt có dòng chữ “VIÊN NGẬM AN PHÊ NAM DƯỢC”.

(Vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/6/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị.)

3.Về khoản thu lợi bất chính: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 1.500.000 đồng, tiền thu lợi bất chính do bị cáo Lê Thị Hồng T phạm tội mà có. Bị cáo đã nộp đủ số tiền1.500.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0000053 ngày 10/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đakrông.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lê Thị Hồng T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Trị;
  • - VKSND tỉnh Quảng Trị;
  • - VKSND huyện Đakrông;
  • - Công an huyện Đakrông;
  • - Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đakrông;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Mai thị Thu Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 36/2024/HS-ST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAKRÔNG TỈNH QUẢNG TRỊ về vận chuyển hàng cấm

  • Số bản án: 36/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vận chuyển hàng cấm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAKRÔNG TỈNH QUẢNG TRỊ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Hồng Th " Vận chuyển hàng cấm"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger