trending_up Gợi ý tra cứu
  • history Thuế thu nhập cá nhân khi bán nhà đất
  • search Luật nhà ở 2023 và hướng dẫn mới
  • search Thời hạn nộp thuế doanh nghiệp năm 2026
  • search Nghị định 100 phạt nồng độ cồn đường bộ
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 36/2024/HS-ST
Ngày: 23/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đinh Văn Tư

- Các hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Thu Lâm và bà Hoàng Thị Khiêm.

- Thư ký phiên toà: Bà Võ Thị Lệ Thuỷ - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh tham gia phiên toà: Ông Lê Văn Minh - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 05 năm 2024 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh, Hà Tĩnh; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 34/2024/HSST ngày 08 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2024/QĐXXST - HS ngày 04 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

- Họ và tên: Trần Q; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 26 tháng 10 năm 1981; Quê quán: Phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Lái xe; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Quần chúng; Họ tên cha: Trần Trọng Đ, sinh năm 1955; Họ tên mẹ: Lê Thị L, sinh năm 1958; Cả bố và mẹ đều làm ruộng và trú quán tại tổ dân phố L, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh; Anh chị em ruột: Có 04 người, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Võ Thị T, sinh năm: 1989; Con: 02 đứa, đứa lớn sinh năm 2009, đứa nhỏ sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 15/9/2004, bị Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 09 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản, theo Khoản 1, Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999, tại Bản án số 16/HSST; đã chấp hành xong bản án và đã được xóa án tích.

Bị cáo bị tạm giữ kể từ ngày 02/02/2024 đến ngày 05/02/2024, bị khởi tố bị can và áp dụng dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, tại phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh cho đến nay,(có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Võ Thị T, sinh năm 1989; nghề nghiệp: Làm Spa; địa chỉ: Tổ dân phố L, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh,(vắng mặt).

- Người chứng kiến: Ông Lê Anh Đ1, sinh năm 1987; địa chỉ: Tổ dân phố H, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh,(vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 18 giờ 45 phút, ngày 02/02/2024, tại Đường tránh Quốc lộ A, gần quán cơm “Đức Lăm”, ở tổ dân phố L, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh, Tổ công tác Công an thị xã K phát hiện Trần Q vừa lấy ra khỏi đống rác bên đường hai bao tải và một túi ni lông đựng pháo. Tổ công tác Công an thị xã K lập biên bản phạm tội quả tang, thu giữ hai bao tải và một túi ni lông đựng pháo (trong bao tải và túi ni lông có: 10 khối pháo loại 09 quả; 03 khối pháo loại 36 quả và 02 bịch pháo bi) và đưa Trần Q về trụ sở Công an thị xã K để điều tra làm rõ. Tiến hành khám xét khẩn cấp nhà ở của Trần Q ở tổ dân phố L, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh, Cơ quan điều tra Công an thị xã K không phát hiện và thu giữ được tài liệu vật chứng gì liên quan đến hành vi tàng trữ pháo nổ của Trần Quyết.

Quá trình điều tra Trần Q khai nhận: Trong quá trình lái xe tải vận chuyển hàng hóa từ Lào về Việt Nam, Trần Q làm quen với một người đàn ông lái xe tải người nước Lào (không rõ họ tên, địa chỉ) và kết bạn Zalo trên điện thoại di động. Ngày 01/02/2024, Trần Q nhắn tin qua Z cho người đàn ông nước Lào đặt mua 13 khối pháo hoa nổ (gồm 10 khối pháo loại 09 quả, 03 khối pháo loại 36 quả) và 02 túi pháo bị thì người này đồng ý. Khoảng 07 giờ ngày 02/02/2024, người đàn ông nước Lào nói trên lái xe tải đến đường tránh Quốc lộ A, gần quán C, thuộc tổ dân phố L, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh thì gọi điện thoại bảo Trần Q đến nhận pháo. Sau khi nhận cuộc gọi điện thoại (điện thoại mượn của vợ là chị Võ Thị T trước đó và lắp sim của Trần Q), Trần Q đi đến trước quán C", ở tổ dân phố L, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh thì người đàn ông nước Lào đưa cho Trần Q một bao tải màu trắng đựng 10 khối pháo (loại 09 quả); một bao tải màu xanh đựng 03 khối pháo (loại 36 quả) và một túi ni lông màu đen đựng 02 túi pháo bi. Sau khi mở ra kiểm tra thấy số lượng pháo đúng như mình đã đặt mua nên Trần Q trả cho người đàn ông đó 5.850.000đ (tiền VNĐ). Sau khi mua được pháo, vì ban ngày sợ lộ nên Trần Q đưa hai bao tải và túi ni lông đựng pháo cất dấu trong đống rác bên đường tránh Quốc lộ A, ở gần quán C và dùng rác phủ lên để che dấu, rồi đi về nhà. Đến khoảng 18 giờ 45 phút cùng ngày, khi trời đã tối, Trần Q đi bộ đến nơi đã cất dấu pháo lấy bao tải và túi đựng pháo ra khỏi đống rác để đưa về nhà thì bị Tổ tuần tra Công an thị xã K bắt quả tang, lập biên bản thu giữ hai bao tải và một túi đựng pháo và đưa Trần Q cùng tang vật về trụ sở Công an thị xã K để điều tra làm rõ.

Cơ quan điều tra Công an thị xã K đã trưng cầu giám định 13 khối pháo và 02 túi pháo bị thu giữ của Trần Quyết. Tại bản kết luận giám định số 353/KL-KTHS, ngày 05/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận: 13 khối pháo và 02 túi pháo bị thu giữ của Trần Q gửi đến giám định đều là P, có đầy đủ đặc tính của P nổ (có chứa thuốc Pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ), với tổng khối lượng là 23,54kg.

Vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra Công an thị xã K đã thu giữ: 10 khối hộp hình chữ nhật có kích thước (13x13x25)cm, trên bề mặt có hoa văn nhiều màu sắc, chữ nước ngoài, được đựng trong bao tải màu trắng; 03 khối hộp hình chữ nhật có kích thước (14x14x10)cm trên bề mặt có hoa văn nhiều màu sắc, chữ nước ngoài, được đựng trong bao tải màu xanh; 02 túi ni lông màu trắng, bên trong mỗi túi ni lông có chứa nhiều khối hình tròn nhiều màu sắc khác nhau, trên mỗi khối có dây màu xanh dài 03cm, được đựng trong túi ni lông màu đen (đã lấy mẫu giám định không hoàn lại có khối lượng 0,72kg, còn lại 22,82 kg đã đóng gói niêm phong); 01 điện thoại di động hiệu S A24, số Imei 1: 350226697823604, số Imei 2: 354376247823608 có thẻ sim số thuê bao 088.899.7xxx. Chiếc điện thoại S đã trả lại cho chị Võ Thị T là chủ sở hữu do chị T không có lỗi trong việc để cho Trần Q sử dụng điện thoại để liên lạc mua pháo, còn thẻ sim điện thoại và các vật chứng khác chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Kỳ Anh chờ xử lý.

Cáo trạng số 36/CT-VKS-TXKA ngày 04/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh đã truy tố Trần Q về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh giữ nguyên Quyết định truy tố bị cáo Trần Q về tội “ Tàng trữ hàng cấm” và đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51,Điều 38, Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt: Trần Quyết từ 15 đến 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 đến 36 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm..

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Đề nghị HĐXX Áp dụng điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 10 khối hộp hình chữ nhật có kích thước (13x13x25)cm, trên bề mặt có hoa văn nhiều màu sắc, chữ nước ngoài, được đựng trong bao tải màu trắng; 03 khối hộp hình chữ nhật có kích thước (14x14x10)cm trên bề mặt có hoa văn nhiều màu sắc, chữ nước ngoài, được đựng trong bao tải màu xanh; 02 túi ni lông màu trắng, bên trong mỗi túi ni lông có chứa nhiều khối hình tròn nhiều màu sắc khác nhau, trên mỗi khối có dây màu xanh dài 03cm, được đựng trong túi ni lông màu đen (đã lấy mẫu giám định không hoàn lại có khối lượng 0,72kg, còn lại 22,82 kg đã đóng gói niêm phong); Tịch thu tiêu huỷ 01 thẻ sim số thuê bao 088.899.7xxx.

Bị cáo nói lời sau cùng thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không có tranh luận gì với luận tội của đại diện Viện kiểm sát và xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức án thấp nhất để bị cáo cải tạo tốt, sửa chữa lỗi lầm sớm trở thành người có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1].Về hành vi và quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã K, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

[2].Về tội danh: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định số 353/KL-KTHS, ngày 05/02/2024, của phòng K Công an tỉnh H, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Ngày 02/02/2024, Trần Q mua của một người đàn ông có quốc tịch Lào (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) 13 khối pháo hoa nổ và 02 túi pháo bị (đều là pháo nổ), có tổng khối lượng 23,54 kilôgam, với giá 5.850.000₫ để về sử dụng trong dịp tết Nguyên Đán. Sau khi mua được pháo nổ, Trần Q cất dấu pháo tại đống rác bên vệ đường gần quán C, ở tổ dân phố L, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Đến khoảng 18 giờ 45 phút cùng ngày, Trần Q đi bộ đến nơi đã cất dấu pháo để lấy pháo đưa về nhà. Khi Trần Q vừa lấy toàn bộ số pháo nổ từ trong đống rác bên vệ đường ra và chuẩn bị đưa về nhà thì bị Tổ tuần tra Công an thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh phát hiện bắt quả tang.

Hành vi của Trần Q đã phạm vào tội “Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 191 Bộ luật hình sự.

Điểm c, khoản 1, Điều 191 Bộ luật hình sự quy định:

1. Người nào tàng trữ hàng cấm thuộc một trong các trường hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 232, 234, 239, 244, 246, 249, 250, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

c) Pháo nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam .......;

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với pháo nổ. Đây là loại hàng hoá mà Nhà nước cấm, không cho phép lưu thông, sản xuất, tàng trữ, vận chuyển và buôn bán, nhưng vì mục đích thoả mãn ý muốn của bản thân bị cáo đã bất chấp các quy định cấm của Nhà nước đối với pháo nổ, xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần xét xử và dành cho bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, để cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và làm bài học răn đe phòng ngừa tội phạm chung.

Đối với người đàn ông người Lào đã bán pháo nổ cho Trần Q, do không quen biết, không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể nên không có cơ sở xác định.

Đối với chị Võ Thị T, đã cho Trần Q mượn chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A24 và Trần Q sử dụng để liên lạc với người đàn ông bán pháo, nhưng khi cho mượn điện thoại Võ Thị T không biết Trần Q sử dụng làm phương tiện phạm tội nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.

[3].Về tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Trần Q không có tình tiết tăng nặng nào.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình, ngoài ra bị cáo có ông ngoại Lê Xuân H tham gia kháng chiến chống mỹ cứu nước được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất và nhiều bằng khen của Q1 nên cần xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4]. Xét tính chất, mức độ hành vi, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Trần Q không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, tuy bị cáo có nhân thân năm 2004 bị xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, đã chấp hành xong bản án và đã được xóa án tích, từ đó đến nay bị cáo luôn chấp hành mọi chủ trương đường lối của đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước cũng như các quy định tại nơi cư trú. Xét thấy tính chất, mức độ phạm tội mới được thực hiện thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và có đủ điều kiện được hưởng án treo theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP, ngày 15/4/2022, nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, cho bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh tại phiên tòa cũng đủ nghiêm.

[5]. Đối với loại tội phạm này, ngoài hình phạt chính lẽ ra bị cáo còn phải chịu hình phạt bổ sung bằng tiền được quy định tại khoản 4 Điều 191 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên xét bị cáo làm nghề lái xe thuê để nuôi sống gia đình, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

[6]. Về xử lý vật chứng:

- 10(mười) khối hộp hình chữ nhật có kích thước (13x13x25)cm, có hoa văn nhiều màu sắc, chữ nước ngoài. Có khối lượng 18,4kg(mười tám phẩy bốn kilogam), sau khi đã trừ mẫu giám định; 03(ba) khối hộp hình chữ nhật có kích thước (14x14x10)cm trên bề mặt có hoa văn nhiều màu sắc, chữ nước ngoài. Có khối lượng 3,54kg(ba phẩy năm tư kilogam), sau khi đã trừ mẫu giám định; 02(hai) túi ni lông màu trắng, bên trong mỗi túi ni lông có chứa nhiều khối hình tròn nhiều màu sắc khác nhau, trên mỗi khối có dây màu xanh dài 03cm. Có khối lượng 0,88kg(không phẩy tám mươi tám kilogam), sau khi đã trừ mẫu giám định. Là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấp lưu hành nên cần áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 thẻ sim số thuê bao 088.899.7xxx là vật chứng liên quan đến vụ án không có giá trị sử dụng, cần áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy.

[7]. Về án phí và quyền kháng cáo bản án: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm; Bị cáo, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51,Điều 38, Điều 65; điểm a,c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a,c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 299; Điều 326; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án và danh mục kèm theo của Ủy Ban T1 khóa 14.

1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Q phạm tội “ Tàng trữ hàng cấm”.

2. Xử phạt: Trần Quyết 15(mười lăm) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Trần Q cho Ủy ban nhân dân phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát giáo dục trong thời gian thử thách được thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án Hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự.

3. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy: 10(mười) khối hộp hình chữ nhật có kích thước (13x13x25)cm, có hoa văn nhiều màu sắc, chữ nước ngoài. Có khối lượng 18,4kg(mười tám phẩy bốn kilogam), sau khi đã trừ mẫu giám định; 03(ba) khối hộp hình chữ nhật có kích thước (14x14x10)cm trên bề mặt có hoa văn nhiều màu sắc, chữ nước ngoài. Có khối lượng 3,54kg(ba phẩy năm tư kilogam), sau khi đã trừ mẫu giám định; 02(hai) túi ni lông màu trắng, bên trong mỗi túi ni lông có chứa nhiều khối hình tròn nhiều màu sắc khác nhau, trên mỗi khối có dây màu xanh dài 03cm. Có khối lượng 0,88kg(không phẩy tám mươi tám kilogam), sau khi đã trừ mẫu giám định).

Tất cả tang vật trên được bỏ vào 01(một) thùng giấy cát tông, trên thân thùng cát tông có chữ “SENKO”, kích thước (38x48x52) cm, dán kín bằng băng dính có giải giấy niêm phong bên trên có chữ ký của các thành phần tham gia và dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh H.

- Tịch thu tiêu hủy 01(một) thẻ sim số thuê bao 088.899.7xxx được niêm phong vào 01(một) chiếc phong bì màu trắng, trên bề mặt phong bì có chữ “Người gửi/From; Người nhận/To”, tại mép dán có chữ ký của các thành phần tham gia và đóng dấu đỏ của Công an thị xã K.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/04/2024 giữa Chi cục thi hành án dân sự thị xã Kỳ Anh và Công an thị xã K)

4. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Q phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ/.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - VKSND thị xã Kỳ Anh;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Công an thị xã Kỳ Anh;
  • - Sở Tư pháp Hà Tĩnh;
  • - UBND phường Kỳ Liên, TX Kỳ Anh;
  • - Phòng PC81 Công an tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Bị cáo; Người có QLNVLQ;
  • - Lưu: HS; VP-TA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Văn Tư

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 36/2024/HS-ST ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH về tàng trữ hàng cấm

  • Số bản án: 36/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ hàng cấm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 36
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger