|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH TỈNH NAM ĐỊNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 36/2024/HSST Ngày 21 - 06 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH – TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Thu.
Các Hội thẩm nhân dân :
Ông Nguyễn Văn Thành; Ông Vũ Văn Phong
Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Ngát – Thư ký TAND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định.
- Đại diện VKSND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà:
Bà Nguyễn Thị T - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 06 năm 2024, tại trụ sở TAND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 37/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 05 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xử số 37/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 06 năm 2024 đối với bị cáo:
Ninh Văn L, sinh năm: 1977; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Thôn V, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 05/12; Con ông: Ninh Hồng L1, sinh năm 1951; con bà: Trần Thị P, sinh năm 1946 (đã chết); Gia đình có 03 anh em, L là thứ nhất; Vợ: Phạm Thị H, sinh năm 1979; con: có 02 con: lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 19/12/2017, Toà án nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định tuyên phạt 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, tháng 3/2018 chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm, ngày 20/01/2020 chấp hành xong hình phạt tù.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/04/2024, bị tạm giam từ ngày 09/04/2024, hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện T, đến nay bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 00 ngày 03/04/2024 do có nhu cầu sử dụng ma túy nên L mang theo 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) rồi một mình điều khiển xe máy nhãn hiệu VVTO@ sơn màu đỏ đen, biển số 18P1-3001 đi đến khu vực chân cầu C thuộc thôn L, xã L, huyện T tìm mua ma tuý để sử dụng. Đến nơi, L gặp một người đàn ông không quen biết đang đứng một mình, nghĩ người này có bán ma túy L lại gần hỏi và mua của người đàn ông này 200.000 đồng H1, người đàn ông nhận tiền rồi đưa cho L 02 gói (gồm 01 gói giấy bạc màu trắng bên ngoài bọc ni lông màu đen và 01 gói giấy bạc màu trắng). Luyến kiểm tra thấy đúng là ma túy cần mua liền cầm lấy rồi điều khiển xe máy đi về tìm nơi để sử dụng. Khi đi về đến khu vực đường liên thôn thuộc xóm B, xã T, huyện T thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang.
Vật chứng thu giữ: Luyến tự giác giao nộp 02 gói (gồm 01 gói giấy bạc màu trắng bên ngoài bọc ni lông màu đen và 01 gói giấy bạc màu trắng), mở kiểm tra bên trong đều có chứa chất bột dạng cục màu trắng và khai nhận đây là gói Heroine của L vừa đi mua, cất giấu mục đích để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác tiến hành niêm phong vật chứng vừa thu giữ của L, ký hiệu M.
Ngoài ra còn tạm giữ của L 01 (một) xe máy nhãn hiệu VVTO@ sơn màu đỏ đen, biển số 18P1-3001.
Bản kết luận giám định số 682/KL-KTHS ngày 05/4/2024 của phòng K1 Công an tỉnh N xác định: Mẫu chất bột dạng cục màu trắng trong 02 (hai) gói gồm 01 (một) gói giấy bạc màu trắng bên ngoài bọc ni lông màu đen và 01 (một) gói giấy bạc màu trắng được niêm phong trong phong bì thư, ký hiệu M gửi giám định đều là ma túy. Loại ma túy: Heroine. Tổng khối lượng mẫu M: 0,202 gam.
Xử lý vật chứng:
Đối với số ma túy hoàn lại sau giám định cùng toàn bộ vỏ bao gói niêm phong: chuyển Chi cục thi hành án dân sự huyện chờ xử lý.
Đối với 01 (một) xe máy nhãn hiệu VVTO@ sơn màu đỏ đen, biển số 18P1-3001 là phương tiện L sử dụng đi mua ma túy. Qua xác minh là tài sản của ông Nguyễn Bỉnh K, sinh năm 1972, trú tại thôn A, xã T, huyện T. Ông K không biết việc L mượn xe đi mua ma túy nên Cơ quan điều tra trả lại cho ông K quản lý, sử dụng.
Tại Cơ quan điều tra, Ninh Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Cáo trạng số 32/QĐ-KSĐT ngày 20 tháng 05 năm 2024 của VKSND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định đã truy tố bị cáo Ninh Văn L về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Tại phiên toà: Bị cáo Ninh Văn L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện VKSND huyện Trực Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn tại bản cáo trạng nêu trên, sau khi luận tội đã đề nghị HĐXX; tuyên bố bị cáo Ninh Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS. Xử phạt Ninh Văn L từ 18 tháng đến 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tuyên tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma túy, loại ma túy Heroine thu của Ninh Văn L.
Bị cáo Ninh Văn L đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về đoàn tụ gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT, VKSND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thuộc Cơ quan CSĐT, VKSND huyện Trực Ninh đã thực hiện trong quá trình điều tra, truy tố đều hợp pháp.
[2] Hành vi phạm tội của bị cáo đã được chứng minh bằng lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay; lời khai của người làm chứng; biên bản về việc bắt giữ người phạm tội quả tang; kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận: Ngày 03/04/2024 Ninh Văn L có hành vi cất giấu chất ma túy có trọng lượng 0,202 gam ma túy Heroine để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
[3] Bị cáo là người có đủ năng lực, trách nhiệm hình sự, nhận thức được hậu quả nguy hiểm về hành vi phạm tội của mình đối với đời sống xã hội. Hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo, cũng như việc phòng chống tội phạm nói chung. Xét nhân thân, các tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về tình tiết tăng nặng TNHS: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa hôm nay cũng như trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, xét thấy nên giảm nhẹ 1 phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Căn cứ vào tính chất, mức độ cuả hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và đề nghị của Viện kiểm sát. HĐXX xét thấy; cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo, cũng như việc phòng chống tội phạm nói chung.
[4] Hình phạt bổ sung: HĐXX thấy; không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tuyên tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số Heroine đã thu của Ninh Văn L.
[6] Án phí: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Tuyên bố bị cáo Ninh Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Xử phạt bị cáo Ninh Văn L 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/04/2024.
- Vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tuyên tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma túy Heroine đã thu của Ninh Văn L có trong bì thư số 682/GĐKTHS của phòng K1 Công an tỉnh N (có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng số 46/THA ngày 29 tháng 05 năm 2024 giữa CQCSĐT Công an huyện T, tỉnh Nam Định và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định).
- Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điều 23 Nghị quyết 326/2016 UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Ninh Văn L phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo Ninh Văn L có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kim Thu |
Bản án số 36/2024/HSST ngày 21/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH – TỈNH NAM ĐỊNH về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 36/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH – TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý"
