|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC HÀ TỈNH HÀ TĨNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 36/2024/HS- ST Ngày: 05/12/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC HÀ-TỈNH HÀ TĨNH:
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Khắc Hoàn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Tùng Long và bà Hoàng Nữ Ngọc Oanh.
Thư ký phiên toà: Ông Lê Danh Dũng, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lộc Hà.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Hà tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Hải, Kiểm sát viên.
Hôm nay, vào hồi 07 giờ 40 phút, ngày 05 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 36/2024/TLST-HS, ngày 14 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2024/QĐXXST-HS, ngày 21 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên Lê Văn L, sinh ngày: 25/9/1997, tại xã Thạch Mỹ, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: thôn Phú M, xã Thạch M, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Lê Văn Nhân, sinh năm 1958 và bà Lê Thị Tiến, sinh năm 1965; Anh, chị em ruột: Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Vợ, con: Chưa có.
*Tiền án, tiền sự: Không.
*Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 22/10/2024 đến nay. Hiện trú tại thôn Phú Mỹ, xã Thạch Mỹ, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh. (Có mặt tại phiên toà)
*Người bị hại:
Chị Phạm Thị T, sinh năm 1984; nghề nghiệp: Lao động tự do.
Nơi cư trú: Thôn Hữu N, xã Thạch M, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
(Chị Thương có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt)
*Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
-
Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1986; nghề nghiệp: Lao động tự do.
Nơi cư trú: Tổ dân phố Phú N, thị trấn Lộc H, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
-
Bà Lê Thị T, sinh năm 1965; nghề nghiệp: Lao động tự do.
Nơi cư trú: Thôn Phú M, xã Thạch M, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
(Bà Lê Thị Tiến có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, chị Nguyễn Thị Hoa vắng mặt không có lý do)
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 23 giờ ngày 17/9/2024, sau khi đi chơi về Lê Văn L đã đi đến nhà chị Phạm Thị T ở thôn Hữu N, xã Thạch M, huyện huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh để trộm cắp tài sản. Khi đi Lộc mặc chiếc áo dài tay màu xanh và đội mũ lưỡi trai màu đen, lấy ghế sắt mang theo rồi đi bộ sang nhà chị Thương. Khi tới nhà chị Thương, Lộc đi đến khu vực cửa thông gió phía sau nhà bếp, đặt ghế xuống, đứng lên ghế để trèo vào nhà chị Thương qua cửa thông gió, nhưng do cửa thông gió cao quá Lộc không trèo vào được nên đã quay về nhà và lấy 01 cái thang tre đến dựng vào tường rồi trèo vào bên trong nhà qua cửa thông gió. Khi vào bên trong, Lộc sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Nokia bật đèn Flash để tìm kiếm tài sản. Lộc đi lại vị trí lắp đặt Camera rút ổ cắm nguồn của camera tại tầng 1 nhà chị Thương. Sau đó, Lộc đi lại vị trí để tiền hàng ngày của nhà chị Thương rồi mở ngăn kéo phía trên thì thấy bên trong có tiền gồm nhiều mệnh giá khác nhau nhưng Lộc không lấy mà tiếp tục lục tìm ở tủ phía dưới ngăn kéo nhưng ngăn kéo đã bị khoá. Lộc lục soát thì thấy chùm chìa khóa để cạnh một bên nên đã lấy để mở thử thì mở được ổ khóa. Sau đó, Lộc mở tủ thì thấy có 01 con lợn làm bằng nhựa, một số loại sổ sách và 01 cọc tiền được buộc bằng dây chun màu vàng. Lộc lấy cọc tiền bỏ vào túi quần của mình rồi đóng cửa tủ lại rồi đi lại vị trí camera đấu lại nguồn điện của hệ thống camera rồi đi ra khỏi nhà chị Thương theo lối cũ để về nhà. Sau khi về nhà Lộc đưa số tiền đã lấy trộm được ra đếm thì được 15.600.000 đồng gồm các mệnh giá tiền là 100.000 đồng và 500.000 đồng tiền Việt Nam đồng. Sau khi lấy trộm được số tiền này Lộc đã cho chị Nguyễn Thị Hoa, số tiền 5.000.000 đồng số tiền còn lại 10.300.000 đồng Lộc tiêu xài cá nhân còn 300.000 đồng.
Qua điều tra xác minh, xác định Lê Văn L là đối tượng đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nói trên. Tại Cơ quan điều tra, Lê Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Vật chứng đã thu giữ trong quá trình điều tra: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen đã qua sử dụng; 01 ghế sắt dạng ghế dùng để đứng thắp hương; 01 quần vải màu đen; 01 áo dài tay màu xanh; 01 mũ lưỡi trai màu đen; 01 thang tre; số tiền 15.600.000 đồng do bị cáo Lê Văn L đã tự nguyện nộp lại.
Xét thấy không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lộc Hà đã trả lại cho chị Phạm Thị T số tiền 15.600.000 đồng; trả lại cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Tiến 01 ghế sắt; 01 thang tre.
Các vật chứng còn lại được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Lộc Hà để xử lý theo quy định của pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại tài sản bị chiếm đoạt người bị hại Phạm Thị T không có yêu cầu gì thêm về bồi thường dân sự và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
3
Bản cáo trạng số 37/CT-VKS-LH, ngày 14/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Hà đã truy tố bị cáo Lê Văn L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự (BLHS).
Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Hà giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố, đồng thời phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i và s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 BLHS xử phạt bị cáo Lê Văn L mức án từ 09 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng. Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân xã Thạch Mỹ, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh quản lý giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy: 01 quần vải màu đen, 01 áo dài tay màu xanh, 01 mũ lưỡi trai màu đen. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại chị Phạm Thị T không yêu cầu gì thêm nên miễn xét.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 BLTTHS; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH, ngày 30/12/2016 quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Lê Văn L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn L không có ý kiến gì tranh luận với quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên và thừa nhận quyết định truy tố của Viện kiểm sát là đúng.
Bị cáo Lê Văn L nói lời nói sau cùng: Bị cáo đã nhận thức được hành vi mà mình thực hiện là sai trái, vi phạm pháp luật xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Lộc Hà, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị H vắng mặt, bà Lê Thị T người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và người bị hại chị Phạm Thị T có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt. Quá trình điều tra chị Hoa đã có lời khai, nội dung vụ án đã được làm rõ, hơn bà T và chị
4
T đã có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị T, chị H và bà T theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự là phù hợp.
[3]. Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay bị cáo Lê Văn L khai nhận: Vào khoảng 01 giờ ngày 18/9/2024, Lê Văn L đã đột nhập và nhà chị Phạm Thị T ở thôn Hữu N, xã Thạch M, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh để lây trộm số tiền 15.600.000 đồng. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, vật chứng thu giữ được và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án.
Bị cáo Lê Văn L là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Hành vi mà bị cáo đã thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS. Điều đó, khẳng định quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Hà đối với bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định pháp luật, không oan sai.
[4]. Xem xét tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử xét thấy rằng hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật hình sự ghi nhận và bảo vệ. Hành vi của bị cáo không những làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương mà còn gây tâm lý bức xúc trong quần chúng nhân dân. Chính vì vậy hành vi phạm tội của bị cáo cần xử phạt thật nghiêm nhằm giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung cho xã hội.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cũng cần phải xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy rằng bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ là phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, đã bồi thường khắc phục hậu quả, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bản thân bị cáo từ trước đến nay chưa có tiền án tiền sự, có nơi cư trú ổn định rõ ràng. Xét thấy chưa cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được cải tạo giáo dục tại địa phương cũng đủ nghiêm.
[5]. Về xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã bồi thường khắc phục hậu quả, người bị hại có đơn xin xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i và s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6].Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Lê Văn L không có nghề nghiệp ổn định và cũng không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7]. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại chị Phạm Thị T đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm về dân sự; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Hoa và bà Lê Thị Tiến cũng không có yêu cầu gì thêm về dân sự nên miễn xét.
5
[8].Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra cơ quan điều tra đã trả lại cho các chủ sở hữu hợp pháp các tài sản cụ thể như sau: Trả lại cho bà Lê Thị T 01 ghế sắt, 01 thang tre; trả lại cho chị Phạm Thị T số tiền 15.600.000 đồng. Xét thấy việc trả lại các vật chứng này của cơ quan điều tra cho chủ sở hữu hợp pháp là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Nay bà Lê Thị T và chị Phạm Thị T không có yêu cầu gì thêm nên miễn xét.
Đối với điện thoại di động nhãn hiệu Nokia là công cụ mà bị cáo sử dụng phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
Đối với 01 quần vải màu đen, 01 áo dài tay màu xanh, 01 mũ lưỡi trai màu đen thu giữ từ bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng bị cáo không có nhu cầu nhận lại nên tịch thu tiêu huỷ theo quy định.
[9]. Về án phí: Bị cáo Lê Văn L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10]. Về những tình tiết liên quan đến vụ án:
Trong vụ án này, chị Nguyễn Thị H là người được bị cáo Lê Văn L cho số tiền 5.000.000 đồng nhưng chị H không biết được đây là số tiền do Lê Văn L phạm tội mà có. Do đó, hành vi của chị Nguyễn Thị Hoa không cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại Điều 323 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lộc Hà không xem xét xử lý trách nhiệm hình sự đối với chị Nguyễn Thị H.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
[2]. Về điều luật áp dụng và mức hình phạt:
*Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, i và s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 BLHS xử phạt bị cáo Lê Văn L 09 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách 18 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Lê Văn L cho Uỷ ban nhân dân xã Thạch Mỹ, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh quản lý, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự năm 2019. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
[3.] Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) quần vải màu đen, 01(Một) áo dài tay màu xanh, 01 (Một) mũ lưỡi trai màu đen.
6
*Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia.
(Đặc điểm, tình trạng tang vật có tại biên bản giao, nhận vật chứng ngày 14/11/2024 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện Lộc Hà và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh)
[3]. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 BLTTHS; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử buộc bị cáo Lê Văn L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[4]. Về quyền kháng cáo bản án: Căn cứ các Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Đối với bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Khắc Hoàn |
Bản án số 36/2024/HS- ST ngày 05/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC HÀ, TỈNH HÀ TĨNH về hình sự (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 36/2024/HS- ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC HÀ, TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án hình sự Lê Văn Lộc phạm tội "Trộm cắp tài sản" quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS
