|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN ĐỒN TỈNH QUẢNG NINH
|
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 36/2024/HS-ST
Ngày 19/11/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN ĐỒN, TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: ông Đoàn Hồng Thắng.
- - Các Hội thẩm nhân dân: ông Phạm Văn Bé và bà Nguyễn Hải Yến
- - Thư ký phiên toà: ông Lê Đức Long - Thư ký, Tòa án nhân dân huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: ông Nguyễn Quang Lương - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 11 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 27/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Văn C; tên gọi khác: không; giới tính: nam; sinh ngày: 13/7/1986, tại huyện V, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: thôn Đ, xã B, huyện V, tỉnh Quảng Ninh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Sán Dìu; tôn giáo: không; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ học vấn: lớp 3/12; con ông Trần Văn D và bà Đỗ Thị T; vợ con; chưa có; tiền án, tiền sự: không.
Bị can đầu thú ngày 19/4/2024 và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/4/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q. Có mặt.
- Bị hại: anh Trần Văn S; sinh năm 1979, trú tại: thôn Đ, xã B, huyện V, tỉnh Quảng Ninh. (đã chết).
*Những người đại diện hợp pháp của bị hại
- Chị Trương Thị T1, sinh năm 1976 (vợ của bị hại); nơi cư trú: thôn Đ, xã B, huyện V, tỉnh Quảng Ninh.
- Anh Trần Văn T2, sinh năm 2002 (con đẻ của bị hại); nơi cư trú: thôn Đ, xã B, huyện V, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.
- Anh Trần Văn H, sinh năm 2004 (con đẻ của bị hại); nơi cư trú: thôn Đ, xã B, huyện V, tỉnh Quảng Ninh; Vắng mặt
Người được ủy quyền của những người đại diện hợp pháp của bị hại: chị Trương Thị T1, sinh năm 1976 (vợ của bị hại); nơi cư trú: thôn Đ, xã B, huyện V, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: anh Trần Văn C1, sinh năm: 1983; nơi cư trú: thôn Đ, xã B, huyện V, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.
- Người làm chứng: chị Trần Thị V, chị Trần Thị M, chị Phạm Thị L, có mặt; anh Trương Văn T3, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Văn C là em họ của anh Trần Văn S. Khoảng 08 giờ ngày 18/4/2024, C điều khiển xe mô tô qua đoạn đường liên thôn, thuộc thôn Đ, xã B, huyện V, thấy anh S cùng vợ là chị Trương Thị T1 và các chị Trần Thị V1, Trần Thị M, đang cuốc đất trồng keo tại khu vực đồi nhà anh S. Do thấy có một vài cây keo non mới trồng vào khu đất trước đó C đã trồng keo sát mép đồi nên C dừng xe lại hỏi anh S “sao lại trồng keo vào đất của em”, anh S trả lời “chỗ này là đất của tao”. Sau đó, C chỉ xuống cây keo non mà C đã trồng trước đó rồi nói “đây là đất của em, keo em trồng đây thây, anh còn trồng vào làm gì”, thì giữa C và anh S xảy ra cãi nhau. Can nói “anh trồng vào đất của em thì em nhổ đi đấy”, rồi dựng xe và đi đến nhổ 03 cây keo non mà anh S đã trồng. Thấy vậy, anh S cầm 01 chiếc cuốc chạy từ trên sườn đồi về phía Can. Khi anh S chạy gần đến chân đồi, thì C nghĩ anh S định cầm cuốc đánh mình nên C chạy về phía đống cây tre do gia đình anh S chặt thành từng đoạn, dựng bên lề đường, cách đó khoảng 03 mét, nhặt 01 đoạn cây tre dài 169 cm, đường kính đầu to 04 cm, đường kính đầu nhỏ 03 cm, trên bề mặt có 03 mấu lồi ra cầm trên tay để chống trả lại nếu bị anh S đánh. Lúc này, anh S cầm cuốc chạy qua chỗ C đang đứng, đến chỗ các cây keo non mà C trồng trước đó, rồi anh S cuốc các cây keo non của C lên. Thấy vậy, C cầm đoạn cây tre chạy đến, đứng chếch chéo phía sau bên trái anh S, cách anh S 1,5 mét, dùng hai tay cầm phần đầu to của đoạn cây tre, tay trái cách đầu gốc 20 cm, tay phải cách tay trái 25 cm, vụt theo hướng từ dưới lên trên, từ phải qua trái, nhắm vào khu vực tay trái, sau vai của anh S để ngăn không cho anh S cuốc cây keo của C nữa. Lúc này, anh S đang cầm cuốc, đứng quay mặt về phía đồi, người ở tư thế hơi khom để cuốc cây keo, cuốc xong anh S đứng thẳng. Khi C cầm đoạn cây tre vụt về phía tay trái, sau vai anh S thì anh S hơi cúi người xuống, mặt hơi chếch về phía bên trái nhìn C nên bị phần đầu nhỏ của đoạn cây tre đập vào vùng gáy, chẩm sát mang tai trái khiến anh S bị thương tích và ngã xuống đất. Thấy vậy, C vứt đoạn cây tre ở lề đất của đường liên thôn, rồi cùng chị T1, chị V và chị M đưa anh S đến Trung tâm y tế huyện V cấp cứu, sau đó chuyển lên Bệnh viện Đa khoa tỉnh Q và C ở lại chăm sóc anh S. Ngày 19/4/2024, C đến Công an huyện V đầu thú. Đến ngày 20/4/2024, anh S bị tử vong.
Tại phiên tòa bị cáo Trần Văn C khai: khoảng 08 giờ ngày 18/4/2024, bị cáo điều khiển xe mô tô qua đoạn đường liên thôn, thuộc thôn Đ, xã B, huyện V, giữa bị cáo với anh S có tranh cãi nhau về việc trồng keo ở khu đất lề đường giao thông. Khi thấy anh S cầm cuốc chạy từ trên đồi về phía bị cáo, bị cáo tưởng anh S đến đánh bị cáo, nên bị cáo có lấy một đoạn cây tre ở gần đó để phòng vệ. Tuy nhiên anh S không đánh bị cáo mà đến để cuốc số cây bị cáo đã trồng trước đó, thấy vậy bị cáo bực tức đã dùng hai tay cầm cây tre vừa nhặt được nhằm vào phía vai trái của anh S vụt một cái từ dưới lên. Lúc này anh S hơi hạ thấp người để cuốc cây và quay mặt về phía bị cáo, nên bị trúng vào phía sau đầu gần mang tai trái. Anh S bị trúng cây do bị cáo vụt và ngã xuống bất tỉnh, bị cáo liền ném cây tre ra bên cạnh và xem xét thương tích của anh S, sau đó cùng mọi người đưa anh S đi cấp cứu điều trị tại Trung tâm y tế huyện V và Bệnh viện Đa khoa tỉnh Q. Do phải lo cứu chữa cho anh S, nên đến ngày hôm sau (19/4/2024) bị cáo mới đến Công an huyện V trình báo. Giữa bị cáo với anh S không có mâu thuẫn thù hằn gì.
Chị Trương Thị T1, là người đại diện hợp pháp của bị hại khai tại phiên tòa thể hiện: chị là người có mặt và chứng kiến ngay từ đầu sự việc C và anh S tranh cãi với nhau về việc trồng cây tại khu vực lề đường liên thôn, thuộc thôn Đ xã B vào sáng ngày 18/4/2024. Chị T1 khẳng định lời khai của bị cáo tại phiên tòa là đúng diễn biến của sự việc xảy ra giữa anh S và bị cáo C. Chị T1 còn khai: khi chị từ trên đồi chạy xuống thì có nhìn thấy C cầm cây tre, còn khi C dùng cây tre đánh anh S thì chị không nhìn thấy, khi xuống đến nơi chị đã thấy anh S nằm ra đất và C đang đỡ anh S ngồi dậy. Lúc này anh S nói ú ớ vài câu và bất tỉnh. Trong lúc tranh cãi thì giữa C và anh S không có lời nói đe dọa, thách thức gì nhau. Khi thấy anh S bị ngã bất tỉnh tại chỗ, C đã chủ động cùng mọi người sơ cứu cho anh S, gọi xe và trực tiếp đưa anh S đi cấp cứu tại Trung tâm Y tế huyện V và chăm sóc anh S tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Q. Sau khi sự việc xảy ra, gia đình C đã bồi thường cho gia đình chị số tiền 135.000.000 đồng. Đoạn cây tre C dùng đánh anh S là của gia đình chị chặt để đó từ khoảng 3 đến 4 hôm trước.
Tại phiên tòa và trong quá trình điều tra, hai chị Trần Thị V và Trần Thị M là những người làm chứng đều có lời khai: vào sáng ngày 18/4/2024 khi hai chị cùng với vợ chồng anh S, chị T1 đang trồng rừng, thì thấy C đi xe máy đến, dừng lại tranh cãi với anh S về việc trồng cây tại khu vực lề đường. Sau đó anh S cầm cuốc chạy xuống chỗ C đang đứng. Anh S không đánh C mà chỉ dùng cuốc, cuốc cây mà C trồng trước đó. Khi anh S đang cuốc cây thì bị Can dùng cây tre đánh vào người anh S làm anh S ngã ra đất, bất tỉnh.
Anh Trần Văn C1 là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan khai tại phiên tòa: anh là anh trai của bị cáo Trần Văn C. Sau khi sự việc xảy ra, C đã nhờ anh và gia đình bồi thường cho gia đình anh S, anh đã trực tiếp bồi thường cho gia đình anh S tổng số tiền là 135.000.000 đồng. Số tiền này là tiền của anh, anh cho C số tiền này để bồi thường, anh không yêu cầu C phải hoàn trả lại cho anh.
Vật chứng của vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V thu giữ tại hiện trường vụ án 01 đoạn cây tre dài 169 cm, đường kính đầu to 04 cm, đường kính đầu nhỏ 03 cm, trên bề mặt có 03 mấu lồi ra.
Tại Biên bản khám nghiệm tử thi ngày 20/4/2024, Kết luận giám định mô bệnh học số 57/KLMBH-TTPY ngày 28/4/2024 của Trung tâm pháp y - Sở Y tế tỉnh Q và Kết luận giám định tử thi số 564/KLGĐTT-KTHS ngày 28/4/2024 của Phòng K - Công an tỉnh Q, thể hiện tử thi anh Trần Văn S: Sưng nề vùng chẩm trái trong diện (8x7)cm; bầm tím sau tai trái kích thước (4x2)cm; bầm tím, xước da cằm trái kích thước (3x1,5)cm, đã đóng vẩy mềm; bầm tím góc hàm phải kích thước (2x0,6)cm; mũi, miệng có nhiều dịch hồng chảy ra. Nghiêng người tử thi có nhiều dịch hồng chảy ra qua mũi, miệng. Tụ máu dưới da vùng chẩm trái. Tụ máu dưới màng mềm lan toả hai bán cầu đại não, thân não, tiểu não. Nứt xương cánh bướm sau hai bên, bên phải có 02 đường nứt kích thước (1x0,1)cm và (0,5x0,1)cm, bên trái có 01 đường nứt trong diện (2x0,5)cm. Không có tụt kẹt hạnh nhân tiểu não. Chảy máu khoang dưới nhện và dưới màng mềm, dập não, phù não. Tụ máu trong lớp xơ và lớp cơ vân vùng sau vành tai trái. Kết luận nguyên nhân chết: Chảy máu lan tỏa thân não, tiểu não, bán cầu đại não hai bên do chấn thương sọ não, không hồi phục. Kết luận khác: Thương tích vùng chẩm trái, sau tai trái hình thành do tác động tương hỗ với vật tày cứng, bề mặt nhẵn. Thương tích vùng cằm trái, góc hàm phải hình thành do tác động tương hỗ với vật tày cứng, diện rộng, bề mặt tương đối nhẵn.
Kết luận giám định số: 901/KL-KTHS ngày 18/6/2024 của Phòng K - Công an tỉnh Q: trên đoạn tre gửi giám định không phát hiện thấy dấu vết máu người, phát hiện thấy dấu vết tế bào người; kiểu gen phân tích được không đủ yếu tố truy nguyên cá thể. Hoàn lại sau giám định 01 đoạn cây tre và 02 bơm tiêm nhựa chứa máu tử thi Trần Văn S.
Tại bản Cáo trạng số:1002/CT-VKSVĐ ngày 30/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Trần Văn C về tội “Cố ý gây thương tích”, theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 134 của Bộ luật Hình sự;
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Đồn tại phiên tòa: Căn cứ vào lời khai của bị cáo, lời khai của những người làm chứng tại phiên tòa và các tài liệu chứng cứ đã được công khai làm rõ tại phiên tòa đủ cơ sở kết luận: Khoảng 08 giờ 10 phút ngày 18/4/2024, tại đoạn đường liên thôn, thuộc thôn Đ, xã B, huyện V, tỉnh Quảng Ninh, do mâu thuẫn trong việc Trần Văn C cho rằng anh Trần Văn S đã trồng các cây keo non vào khu vực đất do C trồng keo trước đó, nên C đã có hành vi dùng một đoạn cây tre dài 169 cm, đường kính đầu to 04 cm, đường kính đầu nhỏ 03 cm, là hung khí nguy hiểm, nhằm đánh vào vùng tay trái, sau vai của anh S, nhưng lại trúng vào vùng gáy, chẩm, sát mang tai trái, làm anh S bị thương, sau đó tử vong.
Đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm a khoản 4 Điều 134; các điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn C với mức hình phạt từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù.
Về phần dân sự: do đại diện của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu, nên không xem xét
Về vật chứng: căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 đoạn cây tre dài 169 cm và 02 chiếc bơm tiêm nhựa chứa máu.
- Ý kiến của bị cáo: do không làm chủ được bản thân bị cáo đã dùng cây đánh anh S, làm anh S tử vong, bị cáo rất ân hận, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Ý kiến của người đại diện của bị hại: đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; không yêu cầu bị cáo bồi thường tiếp; về đoạn cây tre cơ quan Công an thu giữ, gia đình không nhận lại.
- Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả lại số tiền đã bồi thường cho gia đình bị hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo, đại diện của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi bị truy tố của bị cáo Trần Văn C: tại phiên tòa bị cáo Trần Văn C đã khai nhận hành vi gây thương tích cho anh Trần Văn S như nội dung bản cáo trạng thể hiện. Lời khai của bị cáo C phù hợp với lời khai của chị Trương Thị T1, chị Trần Thị V và chị Trần Thị M là những người chứng kiến toàn bộ sự việc xảy ra. Lời khai của bị cáo còn phù hợp với vật chứng được thu giữ trong vụ án và thương tích của bị hại thể hiện tại bản kết luận giám định mô bệnh học của Trung tâm pháp y - Sở Y tế tỉnh Q và bản kết luận giám định của Phòng K Công an tỉnh Q, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong vụ án. Như vậy đủ cơ sở kết luận: vào sáng ngày 18/4/2024, khoảng 08 giờ, tại khu vực đường liên thôn, thuộc thôn Đ, xã B, huyện V, tỉnh Quảng Ninh giữa bị cáo Trần Văn C và anh Trần Văn S có xảy ra tranh cãi về việc trồng cây keo ở đất lề đường giao thông liên thôn. Bị cáo đã có hành vi nhổ cây keo của anh S và ngược lại anh S cũng có hành vi cuốc phá cây keo do bị cáo C trồng trước đó. Do bực tức bị cáo đã sử dụng 01 đoạn cây tre (dài 169 cm, đường kính đầu to 04 cm, đường kính đầu nhỏ 03 cm, trên bề mặt có 03 mấu lồi ra) nhằm vào phần trên của lưng anh S vụt một cái hướng từ dưới lên trên, nhưng lại trúng vào phía sau đầu anh S (do lúc này anh S hạ thấp người xuống và quay mặt về phía bị cáo) làm anh S ngã xuống bất tỉnh và đến 17 giờ 00 phút ngày 20/4/2024 thì tử vong tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Q. Hành vi sử dụng đoạn cây tre gây thương tích dẫn đến tử vong cho anh S của bị cáo Trần Văn C đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích”. Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Đồn truy tố bị cáo C về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: hành vi phạm tội của bị cáo mang tính bột phát. Do bực tức vì tài sản của mình bị xâm phạm, bị cáo đã có hành vi xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của người khác. Hậu quả do hành vi phạm tội gây ra cho bị hại là rất nghiêm trọng. Ngay sau khi gây án bị cáo đã chủ động và tích cực cứu chữa bị hại, nhưng do thương tích quá nặng, bị hại đã tử vong ngoài mong muốn chủ quan của bị cáo.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: chỉ vì mâu thuẫn nhỏ trong việc trồng cây, khi thấy ông S cuốc phá một vài cây của mình, bị cáo không có một lời nói nào yêu cầu ông S dừng lại, mà đã dùng ngay cây tre là hung khí nguy hiểm đánh mạnh vào người anh S, làm anh S bị thương tích nặng, dẫn đến tử vong. Như vậy hành vi phạm tội của bị cáo có tính chất côn đồ. Nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm d khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Trong thời gian bị tạm giữ, tạm giam, bị cáo đã tích cực tác động đến gia đình để gia đình bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại. Đến nay gia đình bị cáo đã bồi toàn bộ thiệt hại (135.000.000 đồng) theo yêu cầu của gia đình bị hại.
Sau khi phạm tội bị cáo đã chủ động, tích cực cấp cứu bị hại để nhằm khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra; ngay ngày hôm sau ngày xảy ra vụ án (sau khi có người thay bị cáo chăm sóc bị hại), bị cáo đã đến cơ quan Công an đầu thú; bố bị cáo là người có công với cách mạng, tham gia Q được Nhà nước tặng thưởng “Huân chương Chiến sỹ vẻ vang” hạng Ba vào năm 1994 và “Huy chương kháng chiến” hạng Nhì vào năm 1997; trong vụ án này bị hại cũng có một phần lỗi; bị cáo được người đại diện hợp pháp của bị hại và đại diện thôn xóm đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt.
Do vậy, xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân của bị cáo: bản thân bị cáo là người dân tộc thiểu số, từ nhỏ đến lớn sinh sống tại thôn Đ, xã B, huyện V là nơi có điều kiện kinh - tế xã hội khó khăn. Mẹ chết sớm khi bị cáo mới 14 tuổi, gia đình đông anh em và thuộc diện khó khăn. Bản thân được thôn xóm nhận xét là người luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà nước và quy định của thôn xóm, có quan hệ tốt với làng xóm. Bị cáo trình độ học vấn thấp mới học lớp 3/12, nhận thức pháp luật có phần hạn chế.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra cho bị hại là rất nghiêm trọng; xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của người khác và trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Mức hình phạt Đại diện viện kiểm sát đề nghị xử phạt đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo.
[5] Về phần dân sự: trong quá trình điều tra và chuẩn bị xét xử sơ thẩm anh Trần Văn C1 là anh trai của bị cáo trức tiếp bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 135.000.000 đồng. Tại phiên tòa người đại diện cho bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường tiếp. Anh Trần Văn C1 đồng ý cho bị cáo C số tiền anh đã bỏ ra bồi thường cho gia đình bị hại, không yêu cầu bị cáo hoàn trả. Do vậy Hội đồng xét xử không xét.
QUYẾT ĐỊNH:
[6] Về vật chứng của vụ án:
+ Đối với 01 đoạn cây tre dài 169 cm, đường kính đầu to 04 cm, đường kính đầu nhỏ 03 cm, trên bề mặt có 03 mấu lồi ra, do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V thu giữ tại hiện trường vụ án. Đoạn cây tre này là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội và cũng là tài sản của gia đình bị hại. Bà Trương Thị T1 đề nghị không nhận lại. Xét thấy đoạn cây tre này không có giá trị, nên tịch thu tiêu hủy theo điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Ngoài ra cơ quan Công an sử dụng 02 bơm tiêm nhựa để chứa máu tử thi Trần Văn S dùng cho việc giám định, được Cơ quan giám định hoàn trả lại. Hai chiếc bơm kim tiêm chứa máu này là vật không có giá trị, nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[7] Về án phí: bị cáo Trần Văn C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8] Về quyền kháng cáo: bị cáo, người đại diện hợp pháp bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm a khoản 4 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn C 07(B) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 20/4/2024).
- Về xử lý vật chứng và tài sản bị tạm giữ: căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 đoạn cây tre dài 169 cm (còn nguyên niêm phong bọc kín) và 02 chiếc bơm tiêm nhựa chứa máu (còn nguyên niêm phong bọc kín)
(Tình trạng vật chứng và tài sản bị tạm giữ trên theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số: 01/BB-CCTHADS ngày 01/10/2024 giữa Công an huyện V và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vân Đồn).
- Về án phí: căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Trần Văn C phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: căn cứ vào khoản 1, khoản 4 Điều 331 và khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo Trần Văn C; người đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Văn C1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (19/11/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đoàn Hồng Thắng |
Bản án số 36/2024/HS-ST ngày 19/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN ĐỒN, TỈNH QUẢNG NINH về hình sự sơ thẩm (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 36/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN ĐỒN, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: vào sáng ngày 18/4/2024, khoảng 08 giờ, tại khu vực đường liên thôn, thuộc thôn Đ xã B, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh giữa bị cáo Trần Văn C và anh Trần Văn S có xảy ra tranh cãi về việc trồng cây keo ở đất lề đường giao thông liên thôn. Bị cáo đã có hành vi nhổ cây keo của anh Soi và ngược lại anh S cũng có hành vi cuốc phá cây keo do bị cáo Can trồng trước đó. Do bực tức bị cáo đã sử dụng 01 đoạn cây tre (dài 169 cm, đường kính đầu to 04 cm, đường kính đầu nhỏ 03 cm, trên bề mặt có 03 mấu lồi ra) nhằm vào phần trên của lưng anh S vụt một cái hướng từ dưới lên trên, nhưng lại trúng vào phía sau đầu anh S (do lúc này anh S hạ thấp người xuống và quay mặt về phía bị cáo) làm anh S ngã xuống bất tỉnh và đến 17 giờ 00 phút ngày 20/4/2024 thì tử vong tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Ninh
