Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BẮC QUANG

TỈNH HÀ GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2024/HSST

Ngày 12 - 6 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Đàm Thị Tư
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Nguyễn Hồng Diện
Bà Nguyễn Thị Lam

Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị C - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 06 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 30/2024/HSST ngày 04 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 05 năm 2024 đối với bị cáo:

Lộc Ngọc Đ, sinh ngày 15 tháng 5 năm 1967 tại huyện B, tỉnh Hà Giang. Nơi cư trú: Thôn T, xã K, huyện B, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; Căn cước công dân số [...] do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 04/12/2021; trình độ học vấn: 7/10; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lộc Ngọc T (đã chết) và bà Ngọc Thị N; có vợ là Ma Thị Đ1, có 04 con, con lớn nhất sinh năm 1987, con nhỏ nhất sinh năm 1996; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không. Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 05/12/2023. Có mặt

- Bị hại:

  • + Ông Bế Văn T1, sinh năm 1974; Nơi cư trú: Thôn T, xã K, huyện B, tỉnh Hà Giang. Có mặt
  • + Bà Mai Thị T2, sinh năm 1976; Nơi cư trú: Thôn T, xã K, huyện B, tỉnh Hà Giang. Có mặt

- Người làm chứng:

  • + Bà Ma Thị Đ1, sinh năm 1968. Vắng mặt không có lý do
  • + Cháu Lộc Ngọc A, sinh ngày 12/4/2012. Người giám hộ ông Lộc Ngọc N1, sinh năm 1968. Vắng mặt có lý do
  • + Anh Lộc Ngọc N2, sinh năm 1991. Vắng mặt có lý do
  • + Anh Lộc Ngọc N1, sinh năm 1987. Vắng mặt có lý do
  • + Anh Bế Trung T3, sinh năm 1999. Vắng mặt có lý do
  • + Anh Hoàng Trung V, sinh năm 1979. Vắng mặt có lý do
  • + Anh Đàm Văn Q, sinh năm 1981. Vắng mặt có lý do
  • + Ông Bế Văn T4, sinh năm 1964. Vắng mặt có lý do
  • + Ông Nguyễn Trung L, sinh năm 1966. Vắng mặt có lý do

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Năm 2016, gia đình ông Bế Văn T1, sinh năm 1974, trú tại thôn T, xã K, huyện B, tỉnh Hà Giang phát cây cỏ trên diện tích đất 75.290,0m² tại thửa đất số 598; tờ bản đồ số 2; địa chỉ thửa đất thôn T, xã K, huyện B, tỉnh Hà Giang, được Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Hà Giang cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 041570 cấp ngày 01/6/2009, để trồng và chăm sóc 300 cây Cam sành. Đến năm 2018, Lộc Ngọc Đ, sinh năm 1967, trú tại thôn T, xã K, huyện B, tỉnh Hà Giang cho rằng diện tích đất mà ông T1 trồng 300 cây Cam sành thuộc diện tích đất vườn rừng của gia đình ông Đ quản lý và đã được Ủy ban nhân dân huyện B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên giữa ông T1 và Lộc Ngọc Đ đã xảy ra tranh chấp, do đó Lộc Ngọc Đ đã gửi đơn đề nghị Ủy ban nhân dân xã K, huyện B giải quyết nội dung trên. Quá trình giải quyết, Ủy ban nhân dân xã K đã mời các bên đến hòa giải, giải quyết nhiều lần nhưng không thành nên đã có các văn bản trả lời nội dung đơn đề nghị giải quyết của ông T1 và Lộc Ngọc Đ, trong đó yêu cầu các bên giữ nguyên hiện trạng đất đang tranh chấp như hiện tại, không bên nào được tự ý có các hành động phá hoại cây cối, hoa màu, tài sản hiện có trên đất; chỉ được tiếp tục chăm sóc số cây đã có trước khi xảy ra tranh chấp; không được tự ý trồng thêm các loại cây cối, hoa màu hoặc cơi nới làm các công trình trên vị trí đất tranh chấp trong thời gian chờ cơ quan chức năng giải quyết.

Tuy nhiên, do thời gian chờ lâu không có kết quả giải quyết nên năm 2020, ông T1 tiếp tục trồng thêm 500 cây Quế Chi trên diện tích đất tranh chấp. Biết việc ông T1 tiếp tục trồng cây, Lộc Ngọc Đ bức xúc nên từ ngày 04/02/2022 đến ngày 14/02/2022, Lộc Ngọc Đ đã dùng dao quắm và máy phát cỏ tự ý chặt hạ toàn bộ số cây Cam sành và cây Quế C1 do ông T1 trồng chăm sóc để lấy lại đất canh tác. Sau khi phát hiện sự việc, ông T1 đã gửi đơn đề nghị Công an xã K, huyện B giải quyết. Ngày 16/02/2022, Công an xã K đã phối hợp với các ban ngành của xã tiến hành lập biên bản đối với số cây Cam và cây Quế Chi của gia đình ông T1 bị thiệt hại, xác định số cây Cam sành được trồng từ năm 2016 đến năm 2018 không được chăm sóc nên cây kém phát triển không có quả là 100 cây và khoảng 400 cây Quế Chi được trồng từ năm 2020. Tổng giá trị thiệt hại ước tính khoảng 20.200.000 đồng (hai mươi triệu hai trăm nghìn đồng). Xét thấy vụ việc có dấu hiệu tội phạm nên Công an xã K, huyện B, tỉnh Hà Giang đã hoàn thiện hồ sơ và chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, tỉnh Hà Giang giải quyết theo thẩm quyền.

Ngày 09/3/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B ban hành yêu cầu định giá tài sản số 06/YC-CSĐT, đề nghị Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B tiến hành định giá: 100 cây Cam sành được trồng từ năm 2016 có chiều cao thân trung bình từ 200cm đến 250cm, đường kính gốc từ 02cm đến 3,5cm, tại thời điểm bị chặt, cây không được chăm sóc nên cây phát triển kém không có quả; 400 cây Quế Chi được trồng từ năm 2020 có chiều cao thân trung bình từ 30cm đến 150cm, đường kính gốc từ 1cm đến 1,5cm.

Tại biên bản họp và kết luận định giá tài sản số 09/KL-HĐĐGTS, ngày 10/5/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B đã kết luận:

- Giá trị 100 cây Cam sành, trong đó: 50 cây x 240.000 đồng/cây = 12.000.000 đồng; 50 cây x 54.000 đồng/cây = 2.700.000₫, thời điểm định giá tháng 02/2022. Tổng cộng giá tài sản là 14.700.000 đồng.

- 400 cây Quế Chi được trồng từ năm 2020 có chiều cao thân trung bình từ 30cm đến 150cm, đường kính gốc từ 1,0cm đến 1,5cm: 400 cây x 20.000 đồng/cây, thời điểm định giá tháng 02/2022 có giá tài sản là 8.000.000 đồng.

Tổng cộng giá trị tài sản bị thiệt hại là 22.700.000đ (hai mươi hai triệu bảy trăm nghìn đồng).

Ngày 28/7/2023, anh Bế Trung T3 là con trai của ông Bế Văn T1 đã giao nộp cho cơ quan điều tra 01 (một) đĩa DVD có lưu giữ 01 (một) đoạn video clip có tên 20220204_155359 với thời gian 06 phút 14 giây. Anh T3 xác nhận đoạn clip trên do anh trực tiếp sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG A52 của mình quay lại hình ảnh vào ngày 04/02/2022 khi anh về nhà bố đẻ là Bế Văn T1 và đi vào vườn trồng cây Cam sành và cây Quế Chi của gia đình tại thôn T, xã K, huyện B (tại khu vực đất tranh chấp giữa gia đình mình và gia đình ông Lộc Ngọc Đ) thì phát hiện ông Đ cùng N2 (con trai ông Đ) đang dùng máy cắt cỏ và dao chặt hạ số cây Quế Chi của gia đình.

Ngày 26/9/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B ban hành Quyết định trưng cầu giám định số 222/QĐ-CSĐT, trưng cầu Phòng K Công an tỉnh T giám định kỹ thuật số điện tử đối với đoạn clip nêu trên.

Tại bản kết luận giám định số 1303/KL-KTHS ngày 30/9/2023 của Phòng Phòng K Công an tỉnh T, kết luận:

1. Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong file video gửi giám định.

2. Đặc điểm về người, đồ vật; diễn biến, hành động của những người có liên quan được mô tả chi tiết trong bản ảnh giám định kèm theo.

Kèm theo kết luận giám định: 01 bản ảnh giám định gồm 09 trang A4.

H lại đối tượng giám định: toàn bộ mẫu vật đã gửi giám định.

Với hành vi trên, tại Cáo trạng số 32/CT-VKSBQ ngày 04/5/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang đã truy tố Lộc Ngọc Đ về tội “Hủy hoại tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, tại phiên toà đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang vẫn giữ nguyên quyết định truy tố.

- Về tội danh: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lộc Ngọc Đ phạm tội “Hủy hoại tài sản".

- Về điều luật và hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 178, điểm b, điểm i, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lộc Ngọc Đ từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Lộc Ngọc Đ cho Ủy ban nhân dân xã K, huyện B, tỉnh Hà Giang để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 2019. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Lộc Ngọc Đ.

- Về trách nhiệm dân sự: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường trách nhiệm dân sự là 22.700.000 đồng (hai mươi hai triệu bảy trăm nghìn đồng), ngày 03/5/2024 bị cáo đã bồi thường số tiền là 5.000.000 đồng (năm triệu đồng). Số tiền còn lại là 17.700.000 đồng, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự và các Điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật Dân sự, buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường cho bị hại.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 47 của Bộ luật Hình sự:

- Đề nghị xử tịch thu và tiêu hủy vật chứng có liên quan đến hành vi phạm tội không có giá trị và không sử dụng được gồm: 01 (một) con dao quắm làm bằng kim loại có nhiều chỗ han rỉ, con dao có chiều dài 42cm, chỗ rộng nhất 5cm, chỗ hẹp nhất 3,8cm, cũ đã qua sử dụng.

Về án phí: Đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định

Phần tranh luận tại phiên toà, bị cáo nhất trí với tội danh, điều luật áp dụng và mức hình phạt Viện kiểm sát đã đề nghị trong bản luận tội; về phần dân sự bị cáo nhất trí bồi thường, nhưng hiện tại bị cáo chưa thu xếp được số tiền bồi thường để trả cho bị hại được.

Về phía bị hại, phần tranh luận ông Bế Văn T1 và bà Mai Thị T2 cho rằng mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo là không phù hợp, bị hại đề nghị xử tù giam đối với bị cáo; về trách nhiệm dân sự, bị hại đề nghị bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường sớm nhất cho gia đình bị hại.

Đại diện Viện kiểm sát tranh luận và đối đáp: Về hình phạt, Viện kiểm sát căn cứ vào hành vi phạm tội của bị cáo, xét thấy bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, là người có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả một phần trách nhiệm dân sự cho gia đình bị hại và gia đình bị cáo có người thân có công với Nhà nước, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Hành vi “Hủy hoại tài sản” của bị cáo bị truy tố theo quy định tại khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ và phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Với mức án Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo là hoàn toàn phù hợp, đúng với quy định của pháp luật. Đối với phần dân sự, sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, nếu bị cáo không thực hiện nghĩa vụ bồi thường, bị hại có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền thi hành án theo Luật Thi hành án dân sự. Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm đã nêu trong bản luận tội.

Lời nói sau cùng: Bị cáo đề nghị hội đồng xét xử xem xét cho hưởng mức án thấp nhất để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm trở thành người công dân có ích cho xã hội và đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra huyện B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; tại phiên toà Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn khi hành thực hành quyền công tố. Quá trình điều tra; giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, vắng mặt người làm chứng Ma Thị Đ1 không có lý do, số còn lại vắng mặt nhưng đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy, sự vắng mặt của những người làm chứng không gây trở ngại cho việc giải quyết vụ án, bởi trước đó họ đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Lộc Ngọc Đ tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, phù hợp với các tài liệu chứng cứ như: các biên bản sự việc ngày 13/02/2022 và ngày 16/02/2022; Biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh khám nghiệm hiện trường ngày 16/02/2022; Biên bản xác định hiện trường, sơ đồ xác định hiện trường, bản ảnh xác định hiện trường ngày 27/9/2023; bản ảnh vật chứng ngày 06/12/2023; biên bản họp định giá tài sản và kết luận định giá tài sản số 09/KL-HĐĐGTS ngày 10/5/2022; Kết luận giám định số 1303/KL-KTHS ngày 30/9/2023 của Phòng K, Công an tỉnh T, cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định: Trong khoảng thời gian từ ngày 04/02/2022 đến ngày 14/02/2022, bị cáo Lộc Ngọc Đ có hành vi hủy hoại tài sản của gia đình ông Bế Văn T1 tại thôn T, xã K, huyện B, tỉnh Hà Giang, tài sản gồm 100 cây Cam sành được trồng từ năm 2016 và 400 cây Quế Chi được trồng từ năm 2020, tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 22.700.000 đồng (Hai mươi hai triệu bảy trăm nghìn đồng). Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang đã truy tố bị cáo Lộc Ngọc Đ về tội “Hủy hoại tài sản” theo quy định tại khoản 1 điều 178 của Bộ luật Hình sự là đúng người đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc loại tội phạm ít nghiêm trọng, có khung hình phạt là phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Hội đồng xét xử thấy rằng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã cố ý sử dụng dao quắm và máy phát cỏ tự ý chặt hạ toàn bộ số cây Cam sành và cây Quế Chi của gia đình bị hại làm mất hoàn toàn giá trị sử dụng, hành vi đó đã xâm phạm đến quyền sở hữu đối với tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và biết được hành vi hủy hoại tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng chỉ mâu thuẫn, bức xúc trong việc tranh chấp đất đai, bị cáo đã cố ý hủy hoại tài sản của gia đình ông Bế Văn T1, gây thiệt hại cho tài sản có giá trị là 22.700.000 đồng, do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự. Cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra nhằm giáo dục đối với bị cáo nói riêng và để phòng ngừa chung.

[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của người phạm tội thấy rằng: Trong vụ án này bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả một phần trách nhiệm dân sự cho gia đình bị hại; gia đình bị cáo có người thân có công với Nhà nước nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử, xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và ngoài lần phạm tội này ra bị cáo luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà nước, là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; quá trình sinh sống tại địa phương bị cáo luôn chấp hành và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú, có nơi cư trú rõ ràng. Vì vậy, căn cứ các điều kiện quy định tại Nghị quyết số 02/2018/HĐTP, ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/HĐTP, ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, xét thấy không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xét xử bị cáo mức hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định, giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã K, huyện B để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách, cũng đủ răn đe, giáo dục đối với bị cáo.

[6] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo làm nghề lao động tự do, thu nhập không ổn định, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 178 của Bộ luật Hình sự.

[7] Đối với Lộc Ngọc N2 (là con trai bị cáo), tại giai đoan điều tra anh Bế Trung T3 (con trai của bị hại) cho rằng Lộc Ngọc N2 là người có tham gia cùng bị cáo chặt phá tài sản của gia đình bị hại. Tuy nhiên, quá trình điều tra, Công an huyện B cũng đã tiến hành điều tra và cho tiến hành đối chất, Lộc Ngọc N2 khẳng định không được tham gia chặt phá cây trồng của gia đình bị hại. Đối với đoạn video anh B Trung Tuyền cung cấp, cơ quan điều tra đã gửi giám định, nhưng cũng không xác định được danh tính người đàn ông trong đoạn video. Do đó, cơ quan điều tra không đủ cơ sở để xử lý trách nhiệm hình sự đối với Lộc Ngọc N2 trong vụ án này, nên Hội đồng xét xử không có căn cứ để xem xét.

[8] Đối với Lộc Ngọc A, sinh ngày 12/4/2012 là cháu ruột của Lộc Ngọc Đ. Quá trình điều tra, Lộc Ngọc A khai nhận vào đầu tháng 02/2022 (không nhớ thời gian cụ thể) có được đi cùng Lộc Ngọc Đ lên đồi cây để chặt cây, phát cỏ. Tuy nhiên, Lộc Ngọc A là người chưa thành niên và cũng không biết được việc chặt cây, phát cỏ cùng với Lộc Ngọc Đ là vi phạm pháp luật. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B không xử lý trách nhiệm hình sự đối với Lộc Ngọc A trong vụ án này là có cơ sở, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[9] Đối với bà Ma Thị Đ1 (là vợ bị cáo), quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã xác định bà Ma Thị Đ1 không có hành vi tham gia cùng bị cáo hủy hoại tài sản của gia đình ông Bế Văn T5, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[10]Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa bị hại Bế Văn T1 vẫn giữ nguyên quan điểm yêu cầu bị cáo phải bồi thường đối với giá trị tài sản bị thiệt hại là 22.700.000 đồng (hai mươi hai triệu bảy trăm nghìn đồng). Ngày 03/5/2024, bị cáo Lộc Ngọc Đ đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả một phần trách nhiệm dân sự cho gia đình bị hại số tiền 5.000.000 đồng (theo biên bản nhận tiền - Bút lục số 340), nay bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền còn lại là 17.700.000 đồng. Tại phiên toà, bị cáo nhất trí bồi thường số tiền theo yêu cầu của gia đình bị hại, nhưng bị cáo và phía gia đình bị hại không thống nhất được phương thức và thời gian thanh toán. Do đó, cần buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường cho gia đình bị hại số tiền là 17.700.000₫ (Mười bảy triệu bảy trăm nghìn đồng) theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật Hình sự và các Điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật Dân sự;

[11] Về xử lý vật chứng: Trên cơ sở vật chứng đã thu giữ được chuyển theo hồ sơ vụ án và quá trình thẩm vấn tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử xét thấy vật chứng là 01 (một) con dao quắm làm bằng kim loại có nhiều chỗ han rỉ, con dao có chiều dài 42cm, chỗ rộng nhất 5cm, chỗ hẹp nhất 3,8cm, cũ đã qua sử dụng, là công cụ bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, xét thấy không có giá trị và không sử dụng được cần căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 47 của Bộ luật Hình sự, tuyên tịch thu, tiêu hủy.

[12] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật.

[13] Từ những phân tích nêu trên, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đề nghị về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt; đề nghị về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng và án phí đối với bị cáo, là hoàn toàn có cơ sở, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 178; điểm b, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 47; Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 và Điều 337 của Bộ luật Tố tụng hình sự; các Điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật Dân sự; Điều 3, Điều 21, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Tuyên bố bị cáo Lộc Ngọc Đ phạm tội “Hủy hoại tài sản”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lộc Ngọc Đ 01 năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã K, huyện B, tỉnh Hà Giang để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 2019. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  3. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Lộc Ngọc Đ, có trách nhiệm bồi thường cho bị hại Bế Văn T1Mai Thị T2 số tiền là 17.700.000đ (Mười bảy triệu bảy trăm nghìn đồng).

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  4. Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) con dao quắm làm bằng kim loại có nhiều chỗ han rỉ, con dao có chiều dài 42cm, chỗ rộng nhất 5cm, chỗ hẹp nhất 3,8cm, cũ đã qua sử dụng.

    (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 20 tháng 5 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Quang).

  5. Về án phí: Bị cáo Lộc Ngọc Đ phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 885.000đ án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch. Tổng số tiền án phí bị cáo phải chịu là 1.085.000đ (Một triệu, không trăm tám mươi lăm nghìn đồng)
  6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên toà, có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân dự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hà Giang;
  • - VKSND tỉnh Hà Giang;
  • - VKSND huyện Bắc Quang;
  • - Công an huyện Bắc Quang;
  • - Chi cục THADS huyện Bắc Quang;
  • - UBND xã Kim Ngọc;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Bộ phận THA hình sự;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Đàm Thị Tư

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 36/2024/HSST ngày 12/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG về hình sự về tội hủy hoại tài sản

  • Số bản án: 36/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Hủy hoại tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lộc Ngọc Đ phạm tội “Hủy hoại tài sản”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger