|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 36/2024/HS-PT Ngày: 03/7/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Hùng;
Các Thẩm phán: Ông Trần Huy Đức và bà Lê Thị Thái Lan;
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Linh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Hồng – Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 03 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 38/2024/TLPT-HS ngày 30 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Quốc T và đồng phạm do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 35/2024/HS-ST ngày 25/3/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hoà, tỉnh Phú Yên.
- Bị cáo có kháng cáo:
1. Nguyễn Quốc T; Sinh năm 1996 tại Phú Yên; Nơi cư trú: thôn P, xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Văn H, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị Thanh B, sinh năm 1973; Có vợ: Huỳnh Thị Nhật T1, sinh năm 1997 và 01 con sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/02/2022 đến ngày 06/01/2023. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.
2. Trần Duy L; Sinh năm 1998 tại Phú Yên; Nơi cư trú: thôn P, xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Trần Văn L1, sinh năm 1973 và bà Lê Thị T2, sinh năm 1973; Có vợ: Trần Thị L2, sinh năm 1999 và 01 con: sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/02/2022 đến ngày 06/01/2023. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.
Ngoài ra, vụ án còn có bị cáo Nguyễn Hữu T3, Nguyễn Tấn K nhưng không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Công ty Trách nhiệm hữu hạn (TNHH ), địa chỉ ở B đường C, Khu phố A, phường P, thành phố T do Nguyễn Hữu T3 làm Giám đốc, ngành nghề đăng ký kinh doanh các lĩnh vực karaoke, nhà hàng dịch vụ ăn uống, phục vụ đồ uống, dịch vụ lưu trú ngắn ngày. Mọi hoạt động của Công ty đều do T3 quản lý, điều hành. Tại địa điểm này, T3 trang bị các đồ vật, dụng cụ, phương tiện gồm: Loa điện tử, đèn nháy, đĩa sứ, nước uống C tại các phòng. Ngày 25/02/2022, Đặng Thị Hoàng T4 được một người có tài khoản Facebook tên “Phạm Ú" giới thiệu đến cơ sở Thiên Đảng 78 của T3 ở và phục vụ “dìu bay” nghĩa là dùng tay vỗ vào cơ thể của người sử dụng ma túy cho khách đến sử dụng ma túy khi họ có nhu cầu.
Tối ngày 26/02/2022, Nguyễn Quốc T, Nguyễn Tấn K và Trần Duy L cùng nhậu tại nhà T ở thôn P, xã H, thị xã Đ thì T đề cập việc cơ sở T5 có cho thuê phòng để sử dụng ma túy nên T rủ K và L nhậu xong đến đó để sử dụng ma túy, K và L đồng ý. T, K và L cùng thống nhất khi sử dụng ma túy, thì T đứng ra trả tiền thuê phòng và tiền mua ma túy trước, sau đó chia đều 03 phần, K và L góp tiền trả lại cho T. Khi đến cơ sở T5, T, K, L cùng đi vào bên trong gặp Nguyễn Hữu T3, thì T trực tiếp hỏi T3 thuê một phòng để sử dụng ma túy, T3 nói giá thuê phòng 3.000.000 đồng, T đồng ý. T tiếp tục hỏi T3 đặt vấn đề mua ma tuý, T3 nói mua bao nhiêu, T nói mua 02 con kẹo và nửa hộp 5 ma túy khay, T3 nói giá 350.000 đồng/viên, ma túy khay 3.500.000 đồng, tổng cộng tiền mua ma tuý là 4.200.000 đồng. T bảo T3 “Chơi xong tính tiền rồi chuyển khoản”, T3 đồng ý dẫn T, K, L lên trước và nói “rồi từ từ đem đồ lên sau”. Tiếp đó, T3 dẫn T, K, L lên căn phòng ở cuối dãy phía Bắc tầng 2 đã được T3 chuẩn bị sẵn loa, đèn nháy, đĩa sứ, nước uống Cocacola rồi T3 đi xuống. Khi vào phòng, K lấy điện thoại kết nối với loa điện tử mở nhạc, bật đèn nháy để tạo hưng phấn cho cả nhóm khi sử dụng ma túy. Khoảng 05 phút sau, T3 cầm 02 viên thuốc lắc và 01 bì ma túy khay lên bỏ trên đĩa sứ trong phòng của T, K và L rồi bỏ đi. T lấy bì ma túy khay đổ một phần ra đĩa sứ rồi dùng bật lửa hơ nóng phần đáy đĩa và dùng thẻ nhựa xào, kẻ thành nhiều đường ma túy; L lấy tờ tiền polyme mệnh giá 20.000 đồng cuộn tròn lại thành ống để làm dụng cụ hít ma túy và L bẻ thuốc lắc ra thành nhiều mảnh nhỏ để L, T, K sử dụng; K lấy một lon nước Cocacola khui ra để T, K, L uống chung với thuốc lắc. Sau khi chuẩn bị xong, T, K, L mỗi người lấy một mảnh viên thuốc lắc uống chung với nước Cocacola và dùng ống hút do L làm để hít ma túy khay. Trong lúc T, K, L đang sử dụng ma túy thì Đặng Thị Hoàng T4 đi vào phòng ngồi cạnh T để phục vụ dìu bay. T bảo T4 cùng tham gia sử dụng ma túy nhưng T4 không sử dụng mà chỉ ngồi cạnh dùng tay vỗ vào người T.
Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 27/02/2022, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố T phối hợp với Công an phường P tiến hành kiểm tra hành chính tại Công ty TNHH T. Tại phòng T, K và L chưa kịp sử dụng hết số ma túy còn lại gồm 03 mảnh viên thuốc lắc, bì nylon có tinh thể màu trắng là ma túy khay và chất bột màu trắng là ma túy trên đĩa sứ, nên K cầm đĩa sứ đựng số ma túy này và thẻ nhựa, ống hít chạy vào phòng vệ sinh mục đích nhằm tẩu tán, tiêu huỷ nhưng bị Công an phát hiện, ngăn chặn, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ số ma tuý trên cùng đồ vật có liên quan.
Qua kiểm tra, Công an còn phát hiện trên mặt bàn gỗ ở khu vực lễ tân thuộc tầng trệt Công ty TNHH T có 01 bì nylon trong suốt được vuốt kín chứa chất bột màu trắng là ma túy nhưng không rõ của ai, tại phòng cuối dãy phía Bắc của tầng 01 và tại phòng chính giữa của tầng 02 có một số người đến thuê phòng với mục đích sử dụng trái phép chất ma tuý nhưng chưa thực hiện.
Tại bản kết luận giám định số 88/KL-KTHS ngày 03/3/2022 của Phòng K1 Công an tỉnh P kết luận: 03 mảnh viên nén màu cam là ma tuý có khối lượng 0,182 gam, loại MDMA; tinh thể màu trắng trong bì nylon là ma túy có khối lượng 0,968 gam, loại Ketamine; chất bột màu trắng thu trên labo nhà vệ sinh trong phòng của T thuê là ma túy có khối lượng 0,244 gam, loại Ketamine; chất bột màu trắng trong bì nylon ở khu vực lễ tân là ma tuý có khối lượng 0,586 gam, loại Ketamine.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 35/2024/HS-ST ngày 25/3/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hoà, tỉnh Phú Yên đã tuyên các bị cáo Nguyễn Quốc T, Trần Duy L phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS đối với các bị cáo Nguyễn Quốc T, Trần Duy L; Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quốc T 07 (Bảy) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, nhưng được trừ thời gian tạm giam từ ngày 27/02/2022 đến ngày 06/01/2023; Bị cáo Trần Duy L 07 (B1) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, nhưng được trừ thời gian tạm giam từ ngày 27/02/2022 đến ngày 06/01/2023.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên phạt đối với bị cáo Nguyễn Hữu T3, Nguyễn Tấn K; phần xử lý vật chứng; án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 03/4/2024, bị cáo Nguyễn Quốc T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 08/4/2024, bị cáo Trần Duy L kháng cáo có đơn xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa, các bị cáo T, L vẫn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ đã tuyên và giữ nguyên kháng cáo.
Kiểm sát viên phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị hội đồng xét xử căn cứ Điều 356 BLTTHS, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo – Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Lời khai nhận tội của các bị cáo Nguyễn Quốc T, Trần Duy L tại Cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm đều phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo khác trong cùng vụ án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 27/02/2022, tại phường P, thành phố T, Nguyễn Quốc T, Nguyễn Tấn K và Trần Duy L đã có hành vi thống nhất góp tiền thuê địa điểm, mua ma tuý và chuẩn bị các công cụ, phương tiện khác rồi cùng nhau tổ chức cho T, K và L sử dụng trái phép chất ma tuý thì bị phát hiện bắt quả tang, thu giữ tại hiện trường các chất ma tuý gồm 0,182 gam MDMA và 1,212 gam Ketamine nên cấp sơ thẩm đã truy tố, xét xử các bị cáo Nguyễn Quốc T, Trần Duy L về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng tội.
[2] Xét kháng cáo của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Hành vi phạm tội của các bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma tuý, gây mất trật tự an toàn xã hội ở địa phương, là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội khác nên đối với loại tội phạm này cần được phát hiện, ngăn chặn và xử phạt nghiêm khắc. Khi lượng hình, án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo, áp dụng đúng và đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà các bị cáo được hưởng để xử phạt Nguyễn Quốc T 07 năm 06 tháng tù; Trần Duy L 07 năm tù là có căn cứ. Bị cáo L kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không phát sinh tình tiết giảm nhẹ mới tại cấp phúc thẩm. Bị cáo T cung cấp tài liệu chứng minh có ông ngoại được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhất, huy hiệu 60 năm tuổi Đảng, kỷ niệm chương chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù đày, nhưng xét thấy mức hình phạt cấp sơ thẩm áp dụng đối với các bị cáo là phù hợp, không nặng. Do đó, không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, mà chấp nhận ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên – Giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt đối với các bị cáo.
[3] Các bị cáo kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo hoặc kháng nghị nên cấp phúc thẩm không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo – Giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quốc T, Trần Duy L phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”;
- Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS đối với cả hai bị cáo; áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 BLHS đối với bị cáo T; Xử phạt:
- - Bị cáo Nguyễn Quốc T - 07 (Bảy) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giam trước từ ngày 27/02/2022 đến ngày 06/01/2023;
- - Bị cáo Trần Duy L - 07 (B1) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giam trước từ ngày 27/02/2022 đến ngày 06/01/2023.
- Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Nguyễn Quốc T, Trần Duy L mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Việt Hùng |
Bản án số 36/2024/HS-PT ngày 03/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về hình sự phúc thẩm (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 36/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 03/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Quốc T
