Hệ thống pháp luật

TAND HUYỆN TAM ĐƯỜNG

TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2024/HS-ST

Ngày 29/5/2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐƯỜNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hồ Thị Tuyết

Các hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Quang Vinh

Ông Hạng A Sính

- Thư ký phiên toà: Ông Sùng A Thắng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đường tham gia phiên toà:

Ông Đặng Văn Huấn - Kiểm sát viên

Ngày 29 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 37/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2024/QĐXXST-HS ngày 17/5/2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Hoàng Văn N; không có tên gọi khác; giới tính: Nam;

Sinh ngày: 01/8/1995; tại: T, Lai Châu;

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Bản C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu; quốc tịch: Việt Nam; dân Tộc: Giáy; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Tự do; con ông: Hoàng Văn T, sinh năm 1973; con bà Vùi Thị X, sinh năm 1975; gia đình bị cáo có 02 anh, em. Bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; vợ: Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1993 (đã ly hôn), con: 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ nhất sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 05/3/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Lù Văn Q; không có tên gọi khác; giới tính: Nam;

Sinh ngày 20/5/1996; tại: T, Lai Châu;

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Bản T, xã B, huyện T, tỉnh Lai Châu; quốc tịch: Việt Nam; dân Tộc: Giáy; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Tự do; con ông Lù Văn S, sinh năm 1964; con bà Lý Thị X1, sinh năm 1969; gia đình bị cáo có 03 chị, em. Bị cáo là con thứ ba trong gia đình; vợ, con: Chưa có; tiền án: Có 01 tiền án. Tại Bản án số 51/2021/HS-ST ngày 06/9/2021, Lù Văn Q bị Tòa án nhân dân thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1, Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Đến ngày 19/01/2023, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù. Tính đến thời điểm phạm tội ngày 04/03/2024, bị cáo Q chưa được xóa án tích theo quy định; Tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 05/3/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Vàng A T1, sinh năm: 1981. Địa chỉ: Bản C, xã S, huyện T, tỉnh Lai Châu. (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm: 1975. Địa chỉ: Bản M, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu. (Vắng mặt có lý do).

2. Chị Thùng Thị Thiên L, sinh năm: 1999. Địa chỉ: Bản C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu. (Vắng mặt có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Vào khoảng 13 giờ ngày 04/3/2024, Hoàng Văn N gọi điện cho Lù Văn Q hỏi Q đang ở đâu và rủ Q đi tìm mua ma túy để cùng nhau sử dụng. Q trả lời đang ở nhà và hỏi N có xe mô tô không đến đón Q, nhưng N trả lời là không có xe, N bảo đi mượn xe rồi đến đón Q. Sau đó N đi bộ đến nhà chị Thùng Thị Thiên L sinh năm 1999, ở bản C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu hỏi mượn xe mô tô BKS 25B1-399.69 và nói dối chị L là mượn xe để đi xin việc, nên chị L đồng ý. Sau khi mượn được xe N điều khiển xe mô tô đến đón Q. Sau khi đón Q xong, Q nói với N là không có tiền và rủ N đi dọc đường từ thị trấn T lên xã S, huyện T tìm tài sản để trộm cắp mang đi bán lấy tiền mua ma túy về cùng nhau sử dụng nên N đồng ý.

Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, khi N và Q đi đến Km 72+530 QL4D thuộc bản Chu Va 12, xã S, huyện T, tỉnh Lai Châu thì Q thấy có 01 xe môtô nhãn hiệu HONDA Wave alpha, màu trắng - bạc, không gắn biển kiểm soát của ông Vàng A T1 sinh năm 1981, trú tại bản Chu Va 12, xã S, huyện T, tỉnh Lai Châu, xe có chìa khóa đang cắm sẵn ở ổ khóa, dựng ở bãi đất trống không có người trông coi, nên Q rủ N trộm cắp và N đồng ý. N điều khiển xe mô tô đi qua một đoạn rồi quay lại dừng xe ở mép đường cách vị trí dựng xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave alpha, màu trắng - bạc 13 mét thì dừng xe lại để Q xuống xe. Q đến chỗ để chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave alpha, màu trắng - bạc không gắn biển kiểm soát bật chìa khóa rồi điều khiển xe mô tô đi về hướng thị trấn T còn N điều khiển xe mô tô BKS: 25B1-399.69 đi theo sau.

Khi đi qua ngã ba Liên ngành thuộc bản T, xã S, huyện T, Q dừng xe và đưa xe mô tô vừa trộm cắp được cho N điều khiển xuống thị trấn T để bán. Còn Q điều khiển xe mô tô BKS: 25B1-399.69 đi theo sau; N điều khiển xe mô tô đến cửa hàng thu mua sắt vụn của chị Nguyễn Thị H1 sinh năm 1975, trú tại bản Máy Đường, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu. Qua trao đổi, N đã bán chiếc xe mô tô vừa trộm cắp được cho chị H1 với giá 1.000.000 đồng. Sau khi bán xe mô tô xong, N đi bộ ra chỗ Q đang đợi rồi cùng Q điều khiển xe mô tô BKS: 25B1-399.69 về nhà N ở bản C, thị trấn T, đến nhà N nói với Q là bán xe mô tô trộm cắp được với giá 800.000 đồng, còn 200.000 đồng N cất dấu không nói cho Q biết. Sau đó, Q và N thống nhất lấy 800.000 đồng dùng để mua ma túy cùng nhau sử dụng và Q ở nhà N đợi. N trực tiếp cầm tiền 800.000 đồng đến nhà Hoàng Thị P ở bản C, thị trấn T, huyện T mua tám gói ma túy với giá 800.000 đồng. Sau khi mua được ma túy cả hai cùng nhau sử dụng hết. Sau khi sử dụng xong ma túy, N điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 25B1-399.69 về trả cho chị Thùng Thị Thiên L; số tiền còn lại 200.000 đồng N đã tiêu sài cá nhân hết. Căn cứ vào lời khai của bị cáo N ngày 19/3/2024 tiến hành khám xét nơi ở của Hoàng Thị P kết quả khám xét không thu giữ được gì.

Tại Kết luận định giá tài sản số: 04/KL-HĐĐGTS ngày 05/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản Tố tụng hình sự huyện T, kết luận: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave a màu trắng - bạc, Số khung: RLHJA3920NY468276; Số máy: JA39E-2903560 (xe mô tô không gắn biển kiểm soát) tại thời điểm bị trộm cắp vào ngày 04/3/2024 có trị giá 9.100.000 đồng (Chín triệu một trăm nghìn đồng).

Bản cáo trạng số 27/CT - VKSTĐ ngày 25/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đường đã truy tố Hoàng Văn N và Lù Văn Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, bị hại không có ý kiến hay khiếu nại về kết luận và bản cáo trạng nêu trên.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị hại anh Vàng A T1 trình bày: Chiếc xe môtô nhãn hiệu HONDA Wave alpha, màu trắng - bạc, không gắn biển kiểm soát là tài sản hợp pháp của anh Vàng A T1 đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho anh T1 chiếc xe trên, anh T1 không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường. Về hình phạt, anh T1 đề nghị hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật, ngoài ra anh T1 không có yêu cầu gì thêm.

Quá trình điều tra và trong đơn xin xét xử vắng mặt, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị H1 trình bày: Khi chị H1 mua chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave alpha, màu trắng - bạc với giá 1.000.000 đồng, chị H1 không biết đó là tài sản do trộm cắp mà có. Quá trình điều tra, chị H1 đã tự nguyện giao nộp lại chiếc xe trên cho cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện T, nay chị H1 không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì, ngoài ra chị H1 không có đề nghị gì thêm.

Quá trình điều tra và trong đơn xin xét xử vắng mặt, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Thùng Thị Thiên L trình bày: Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 25B1-399.69 là tài sản hợp pháp của chị L, khi bị cáo N mượn xe đi nói với chị L là đi có việc, chị L hoàn toàn không biết việc bị cáo N sử dụng xe để thực hiện hành vi phạm tội. Ngày 11/4/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện T ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe mô tô biển kiểm soát 25B1 - 399.69 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe cho chị L, do vậy chị L không có yêu cầu gì thêm.

Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn N và Lù Văn Q phạm tội "Trộm cắp tài sản". Về hình phạt, đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Hoàng văn N1: Xử phạt bị cáo Hoàng Văn N mức án từ 12 tháng đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/3/2024; đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lù Văn Q: xử phạt bị cáo Lù Văn Q từ 14 tháng đến 20 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 05/3/2024. Áp dụng khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Về trách nhiệm dân sự bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đặt vấn đề xem xét, giải quyết; Về vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a, b khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, b khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Truy thu số tiền 1.000.000 đồng do bị cáo Hoàng Văn N và bị cáo Lù Văn Q thu lợi bất chính từ việc phạm tội mà có (Trong đó truy thu bị cáo Hoàng văn N1 số tiền 600.000 đồng và bị cáo Lù Văn Q số tiền 400.000 đồng); Trả lại cho anh Vàng A T1: 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave a màu trắng - bạc, không gắn biển số; Trả lại cho Lù Văn Q: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu xanh đen kèm theo 01 thẻ sim, T2 lại cho Hoàng Văn N: 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia 105V30.04.11, màu đen kèm theo 01 thẻ sim; Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Bị cáo Hoàng Văn N và bị cáo Lù Văn Q không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đường.

Tại lời nói sau cùng bị cáo Hoàng Văn N và bị cáo Lù Văn Q thể hiện việc nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đường, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

Tại phiên tòa hôm nay cũng như quá trình điều tra bị cáo Hoàng Văn N và bị cáo Lù Văn Q đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ. Như vậy đã có đủ căn cứ khẳng định: Vào khoảng 14 giờ ngày 04 tháng 3 năm 2024 tại bản Chu Va 12, xã S, huyện T, tỉnh Lai Châu, Hoàng Văn N và Lù Văn Q đã thực hiện hành vi trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave a màu trắng - bạc xe không gắn kiểm soát trị giá 9.100.000 đồng của anh Vàng A T1 sinh năm 1981, trú tại bản Chu Va 12, xã S, huyện T, tỉnh Lai Châu sau đó đem đi bán lấy tiền tiêu xài hết.

Bị cáo Hoàng Văn N và bị cáo Lù Văn Q là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân, gây mất trật tự trị an trên địa bàn. Ý thức được điều đó nhưng vì mục đích tư lợi cá nhân các bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội.

Đây là vụ án đồng phạm giản đơn trong đó bị cáo Lù Văn Q là người khởi xướng và trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Q là người trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp chiếc xe sau đó cùng bị cáo N đưa tài sản trộm cắp đi bán và cùng nhau tiêu xài số tiền do thực hiện hành vi trộm cắp mà có, còn bị cáo Hoàng Văn N là người thực hành cùng Lù Văn Q thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo N trực tiếp mang tài sản trộm cắp được đi bán để lấy tiền cùng bị cáo Q tiêu xài. Do vậy, các bị cáo phải trách nhiệm hình sự tương xứng với hành vi phạm tội của mình.

Do đó, hành vi của bị cáo Hoàng Văn N và bị cáo Lù Văn Q đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Vì vậy, quan điểm xử lý trách nhiệm hình sự của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là hoàn toàn có cơ sở, không oan sai, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, có căn cứ chấp nhận.

[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:

Về nhân thân: Bị cáo Lù Văn Q có nhân thân xấu, bị cáo đã từng bị Tòa án xét xử về tội phạm liên quan đến hành vi trộm cắp tài sản (chưa xóa án tích), bị cáo phải đi chấp hành án, chịu sự giáo dục nghiêm khắc nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà vẫn tiếp tục phạm tội.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; các bị cáo là người dân tộc thiểu số. Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng cho các bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Riêng bị cáo Hoàng Văn N phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng do đó được được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Năm 2021 bị cáo Lù Văn Q bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích lại thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, bị cáo Lù Văn Q phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, đó là: “Tái phạm”. Bị cáo Hoàng Văn N không có tình tiết năng nặng trách nhiệm hình sự.

Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục các bị cáo, cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.

[4] Về hình phạt bổ sung:

Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự bị cáo Hoàng Văn N và bị cáo Lù Văn Q có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung. Tuy nhiên, theo các tài liệu chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy các bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét, giải quyết.

[6] Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a, b khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, b khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • - Đối với số tiền 1.000.000 đồng do bị cáo Hoàng Văn N và bị cáo Lù Văn Q bán chiếc xe trộm cắp được mà có và các bị cáo đã cùng nhau tiêu xài cá nhân hết 800.000 đồng, bị cáo Hoàng Văn N tự tiêu xài hết 200.000 đồng, xét thấy đây là khoản tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội mà có nên cần truy thu sung Ngân sách Nhà nước (Trong đó truy thu bị cáo Hoàng Văn N số tiền 600.000 đồng và bị cáo Lù Văn Q số tiền 400.000 đồng).
  • - Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave a màu trắng - bạc, không gắn biển số là tài sản hợp pháp của anh Vàng A T1 nên cần trả lại cho anh Vàng A T1.
  • - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu xanh đen kèm theo 01 thẻ sim điện thoại thu giữ của Lù Văn Q, 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia 105V30.04.11, màu đen kèm theo 01 thẻ sim thu giữ của Hoàng Văn N là tài sản hợp pháp của các bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho các bị cáo.

[7] Những vấn đề liên quan:

Quá trình điều tra, căn cứ vào đơn xin lại tài sản của chị Thùng Thị Thiên L. Ngày 11/4/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện T ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe mô tô biển kiểm soát 25B1 - 399.69 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe cho chị Thùng Thị Thiên L là chủ sở hữu hợp pháp. Việc xử lý vật chứng của Cơ quan điều tra là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

Đối với hành vi của Nguyễn Thị H1 đã mua chiếc xe mô tô. Quá trình điều tra xác định H1 không biết tài sản do N và Q bán là do trộm cắp mà có. Do vậy, H1 không phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Đối với Thùng Thị Thiên L là chủ sở hữu xe mô tô BKS: 25B1 - 399.69. Quá trình điều tra xác định L không biết việc N và Q sử dụng chiếc xe để đi trộm cắp tài sản. Vì vậy, cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với L là đúng quy định.

Theo lời khai của bị cáo N sau khi bán xe mô tô đã dùng số tiền 800.000 đồng đi mua ma túy của chị Hoàng Thị P. Cơ quan điều tra triệu tập lấy lời khai P, tiến hành đối chất giữa P và N nhưng P không thừa nhận bán ma túy cho N. Ngoài lời khai của N không có chứng cứ nào khác để chứng minh hành vi bán ma túy của P. Do vậy, cơ quan điều tra không có đủ căn cứ để xử lý Hoàng Thị P về hành vi mua bán trái phép chất ma túy.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của N và Q đây là hành vi vi phạm hành chính nên Công an huyện T đã xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo là đúng quy định; Đối với hành vi Lù Văn Q tự ý sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng ngủ của Hoàng Văn N tại bản C, thị trấn T, N hoàn toàn không biết nên không cấu thành tội Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy.

[8] Về án phí: Bị cáo Hoàng Văn N, bị cáo Lù Văn Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Hoàng Văn N;

Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lù Văn Q.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn N và Lù Văn Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”
  2. Về hình phạt:
    • Xử phạt bị cáo Hoàng Văn N 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 05/3/2024.
    • Xử phạt bị cáo Lù Văn Q 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/3/2024.
    • Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
  3. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, b khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, b khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
    • - Truy thu số tiền 1.000.000 đồng do bị cáo Hoàng Văn N và bị cáo Lù Văn Q thu lợi bất chính từ việc phạm tội mà có (Trong đó truy thu bị cáo Hoàng văn N1 số tiền 600.000 đồng và bị cáo Lù Văn Q số tiền 400.000 đồng)
    • - Trả lại cho anh Vàng A T1: 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave a màu trắng - bạc, không gắn biển số.
    • - Trả lại cho Lù Văn Q: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu xanh đen kèm theo 01 thẻ sim,
    • - Trả lại cho Hoàng Văn N: 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia 105V30.04.11, màu đen kèm theo 01 thẻ sim.
    • (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 14 giờ 30 phút ngày 26/4/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T với Chi Cục thi hành án dân sự huyện Tam Đường).
  4. Về án phí: Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Hoàng Văn N và Lù Văn Q mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Các bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình lên Tòa án nhân dân cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND tỉnh Lai Châu;
  • - Sở tư pháp tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND huyện Tam Đường;
  • - Chi Cục THADS huyện Tam Đường;
  • - Công an huyện Tam Đường; (CQĐT; Nhà tạm giữ; Cơ quan THAHS công an huyện);
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà

Hồ Thị Tuyết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 36/2024/HS-ST ngày 29/05/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 36/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: N-Q phạm tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger