Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÙ ĐĂNG

TỈNH BÌNH PHƯỚC

Bản án số: 36 /2024/HS-ST

Ngày 26/04/2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ toà phiên toà: Ông Trần Văn Xuyến.

- Các Hội thẩm nhân dân:

[1] Ông Phạm Thành Đô ; Nghề nghiệp: Giáo viên .

[2] Bà Trần Thị Chín; Nghề nghiệp: CBCC

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: bà Mai Thị Chang – Cán bộ Toà án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước: ông Nguyễn Văn Khánh - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án Toà án nhân dân huyện Bù Đăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 19/TLST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2024/QĐXX- ST ngày 20 tháng 02 năm 2024 đối với các bị cáo:

Họ và tên:

1/ Lỳ B Cg, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 13/02/2006, tại Nghệ An. Căn cước công dân số: [...], nơi cấp: Cục cảnh sát. Nơi đăng ký thường trú: Bản T n, xã N, huyện K, Nghệ An. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mông; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 07/12; Họ và tên cha: Lỳ Bá L, sinh năm 1982; Họ và tên mẹ: Lầu Y X, sinh năm 1983; Gia đình có 03 anh em, Bị cáo là thứ 02 trong gia đình. Tiền án,Tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/11/2023 cho đến nay.( có mặt )

2/ Xồng B H, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 21/9/2006, tại Nghệ An; Căn cước công dân số: [...], nơi cấp: Cục cảnh sát. Nơi đăng ký thường trú: Bản H L, xã H T, huyện K S, Nghệ An. Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Mông, Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 03/12; Họ và tên cha: Xồng L P, sinh năm 1988; Họ và tên mẹ: Và Y C, sinh năm 1984. Gia đình có 05 anh em, Bị cáo là thứ 03 trong gia đình. Tiền án: Không .

( Nhân thân: Ngày 25/4/2023, Toà án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An xử phạt Xồng B H 06 tháng tù về "Tội trộm cắp tài sản" quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Đến ngày 19/9/2023 chấp hành xong hình phạt. )

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/11/2023 đến nay. ( có mặt )

Những người tham gia tố tụng:

Bị hại:

1/ Anh Lăng Văn C, sinh năm 1991 (vắng mặt )

Địa chỉ: Thôn 4, xã Thống Nhất, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.

2/ Ông Nguyễn Văn L; sinh năm 1957 (vắng mặt )

Địa chỉ: B11/2B, ấp 2, xã Q, huyện B, TP. Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo Xồng B H:

bà Và Y Chò; sinh năm 1984 ( văng mặt )

Địa chỉ : Bản Huồi L, xã H T, huyện K, Nghệ An.

Người bào chữa cho các bị cáo Lỳ B Cg, Xồng B H:

Bà Trương Thị B H. ( có mặt )

Trợ giúp viên pháp lý – Trung Tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau :

1/Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Cuối tháng 9/2023, Xồng B H và Lỳ B Cg từ tỉnh Nghệ An vào xã Nghĩa Trung, huyện Bù Đăng để tìm việc làm. Do không có việc làm ổn định nên Hải và Cồng đã bàn bạc với nhau đi lấy trộm tài sản của người khác để bán lấy tiền tiêu xài. Khoảng 07 giờ 00 phút ngày 15/11/2023, Hải và Cồng đi bộ đến địa phận thôn 8, xã Nghĩa Trung thì phát hiện trong rẫy của ông Nguyễn Văn L đang dựng 01 xe mô tô không có biển số, màu xanh, nhãn hiệu Honda, loại Future ở vườn điều gần đường có cắm sẵn chìa khoá trên xe. Hải và Cồng đi lại chỗ xe mô tô đang dựng, Cồng ngồi lên xe, bật khoá, rồi dùng chân đạp nổ máy xe, rồi điều khiển xe mô tô chở Hải đi về hướng khu tập thể Công ty An Lộc thuộc thôn 8, xã Nghĩa Trung. Khi đến cách khu tập thể Công ty An Lộc khoảng 700 mét thì Hải và Cồng nhìn thấy chòi rẫy của anh Lăng Văn C, nên dừng lại để xe ở đường rồi cả hai cùng đi bộ vào chòi rẫy thì nhìn thấy chòi khoá cửa bên ngoài và không có người trông coi, Hải đã dùng tay kéo bung cửa ra rồi cả hai đi vào phía trong, Hải phát hiện 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart, màu đen đang cắm sạc nên đã rút sạc rồi bỏ điện thoại vào túi quần, còn Cồng thì lấy 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart, màu xanh ở trên giường bỏ vào túi quần. Hải thấy có 01 cái ví màu đen để trong nón bảo hiểm treo trên cột nhà, mở ví ra xem thì thấy bên trong có 550.000 đồng nên Hải đã lấy tiền bỏ vào túi quần của mình rồi bỏ ví lại chỗ cũ. Sau khi lấy xong điện thoại và tiền, do điện thoại di động màu đen có cài mật khẩu nên Cồng đã điều khiển xe mô tô chở Hải đi ra cửa hàng điện thoại “Hùng Tráng” ở ấp 3, xã Đồng Tâm, huyện Đồng Phú do anh Trần Đức Vinh làm chủ, để mở khóa hết số tiền 250.000 đồng, số tiền còn lại Hải và Cồng đã tiêu xài cá nhân hết. Đến chiều ngày 18/11/2023, Hải và Cồng nhận thấy hành vi nêu trên là vi phạm pháp luật nên đã đến Công an xã Nghĩa Trung đầu thú và giao nộp 02 điện thoại cùng 01 xe mô tô.

Thấy có dấu hiệu tội phạm nên Công an xã Nghĩa Trung lập biên bản chuyển giao cho Cơ quan CSĐT - Công an huyện Bù Đăng để điều tra, xử lý theo thẩm quyền (BL: 06 – 07; 117 – 129; 135 – 145; 146 – 149; 153 – 156; 157 – 158).

Tại Kết luận định giá tài sản số: 83/KL-HĐĐGTS ngày 24/11/2023 (BL: 35), kết luận tại thời điểm xảy ra tội phạm:

  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart Live, màu xanh, ram 06Gb, bộ nhớ 64Gb, đã qua sử dụng, mua vào năm 2020 có giá 750.000 đồng.
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart Aris, màu đen, ram 08Gb, bộ nhớ 128Gb, được mua vào năm 2023 có giá 1.850.000 đồng.
  • 01 xe mô tô không biển kiểm soát, nhãn hiệu Honda, loại xe Future, màu sơn xanh, số máy: JC35E-0027462, số khung: RLHJC35075Y027789, đã qua sử dụng, đăng ký lần đầu năm 2005 có giá 2.400.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt tại thời điểm xảy ra tội phạm là 5.000.000đ.

Tại Kết luận giám định pháp y về độ tuổi số: 625/KLGĐĐT-C09B ngày 22/01/2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh (BL: 78 - 79), kết luận: Qua quá trình khám giám định, kết quả cận lâm sàng, xác định tại thời điểm giám định (tháng 01 năm 2024) Lỳ B Cg có độ tuổi từ 16 năm 09 tháng đến 17 năm 03 tháng”.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phạm tội 02 lần trở lên.

(Bị cáo Lỳ B Cg không coi là tái phạm vì bị cáo chưa thành niên).

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, người đồng bào dân tộc thiểu số, thời điểm phạm tội là người chưa thành niên, nhận thức còn hạn chế).

Về vật chứng vụ án, Cơ quan CSĐT – Công an huyện Bù Đăng đã xử lý:

Trả lại cho anh Lăng Văn C 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart Live, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart Aris.

Trả lại 01 xe mô tô không biển kiểm soát, nhãn hiệu Honda, loại xe Future cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Nguyễn Văn L.

Về trách nhiệm dân sự: anh Trần Đức Vinh không yêu cầu Cồng và Hải bồi thường lại số tiền 250.000 đồng.

2/ Các vấn đề khác của vụ án:

Tại Bản cáo trạng số: 26 /CT – VKS ngày 06/2/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố bị cáo Lỳ B Cg và Xồng B H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa ý kiến của Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng pháp luật đối với các bị cáo như sau:

Về tội danh và hình phạt : Đề nghị tuyên bố bị cáo Lỳ B Cg và Xồng B H phạm tội “ Trộm cắp tài sản” theo 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Đề nghị Áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điểm g Khoản 1, Điều 52; 17; 58; 38; 90, 91 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lỳ B Cg từ 6 đến 7 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/11/2023.

Đề nghị áp dung khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điểm g Khoản 1 Điều 52; 17; 58; 38; 90; 91 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Xồng B H từ 7 đến 8 tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/11/2023.

Về vật chứng vụ án: Đã trả lại chủ sở hữu nên không xem xét.

Ý kiến về Quyết định truy tố: Bị cáo đồng ý với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

1/ Về hành vi, quyết định tố tụng của: Cơ quan điều tra Công an huyện Bù Đăng tỉnh Bình Phước, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng tỉnh Bình Phước, Kiểm sát viên trong qua trình điều tra truy tố thực hiện đúng quy định Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không có người nào có ý kiến đề nghị hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

2/ Xác định tội danh: Cuối tháng 9/2023, Lỳ B Cg và Xồng B H từ tỉnh Nghệ An vào xã Nghĩa Trung, huyện Bù Đăng để tìm việc làm. Do không có việc làm ổn định nên Hải và Cồng đã bàn bạc với nhau đi lấy trộm tài sản của người khác để bán lấy tiền tiêu xài. Khoảng 07 giờ 00 phút ngày 15/11/2023, Lỳ B Cg và Xồng B H đi bộ đến địa phận thôn 8, xã Nghĩa Trung thì phát hiện trong rẫy của ông Nguyễn Văn L đang dựng 01 xe mô tô không có biển số, màu xanh, nhãn hiệu Honda, loại Future ở vườn điều gần đường có sẵn chìa khoá trên xe, Cồng ngồi lên xe, bật khoá, rồi dùng chân đạp nổ máy xe, rồi điều khiển xe mô tô chở Hải đi về hướng khu tập thể Công ty An Lộc thuộc thôn 8, xã Nghĩa Trung. Khi đến cách khu tập thể Công ty An Lộc khoảng 700 mét thì Hải và Cồng nhìn thấy chòi rẫy của anh Lăng Văn C, nên dừng lại để xe ở đường rồi cả hai cùng đi bộ vào chòi rẫy thì nhìn thấy chòi khoá cửa bên ngoài và không có người trông coi, Hải đã dùng tay kéo bung cửa ra rồi cả hai đi vào phía trong, Hải lấy 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart, màu đen đang cắm sạc, còn Cồng thì lấy 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart, màu xanh ở trên giường . Hải lấy số tiền 550.000 có ở 01 cái ví màu đen để trong nón bảo hiểm treo trên cột nhà.

Theo Kết luận của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Bù Đăng, Kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart Live, màu xanh có giá 750.000 đồng. 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart Aris, màu đen có giá 1.850.000 đồng. 01 xe mô tô không biển kiểm soát, nhãn hiệu Honda, loại xe Future, màu sơn xanh, số máy: JC35E-0027462, số khung: RLHJC35075Y027789 có giá 2.400.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt tại thời điểm xảy ra tội phạm là 5.000.000₫.

Lời khai của bị cáo và bị hại hoàn toàn phù hợp với nhau nên có đủ cơ sở xác định: Các bị cáo có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác, thực hiện với lỗi cố ý, tham gia vai trò đồng phạm và có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến tài sản của người khác, đây là quyền về tài sản được pháp luật bảo vệ, hành vi của các bị cáo làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

Hậu quả bị cáo đã chiếm đoạt tài sản của các bị hại tổng trị gái 5.000.000₫

Vì vậy hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bị cáo Lỳ B Cg và Xồng B H đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

3/ Các tình tiết tặng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các tình tiết tặng nặng: Các bị cáo phạm tội nhiều lần.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, ngoài ra thời điểm phạm tội các bị cáo là người chưa thành niên, đồng bào dân tộc thiểu số nhận thức còn hạn chế

Sau khi xem xét hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử lý phù hợp hành vi phạm tội để giáo dục bị cáo và răn đe giáo dục phòng ngừa chung.

Tại phiên toà Người bào chữa cho các bị cáo Lỳ B Cg, Xồng B H cho rằng về tội danh, các tình tiết tằng nặng giảm nhẹ mà Viện kiểm sát đề nghị cho các bị cáo là đúng và phù hợp, tuy nhiên người bào chữa cần giảm nhẹ hình phạt và trả tự do cho các bị cáo tại phiên toà.

Xét thấy thời điểm phạm tội các bị cáo là người chưa thành niên, việc giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo là đúng, tuy nhiên các bị cáo sống lang thang, không có việc làm và chỗ ở ổn định. Ngoài ra bị cáo Xồng B H trước đây phạm tội trộm cắp tài sản, mới chấp hành xong hình phạt tù nhưng lại tiếp tục phạm tội, mặc dù không coi là tái phạm vì bị cáo là người chưa thành niên, nên cần phải cách ly các bị cáo một thời gian để bảo đảm việc răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.

4/ Về trách nhiệm dân sự: Anh Trần Đức Vinh không yêu cầu Cồng và Hải bồi thường lại số tiền 250.000 đồng nên không xem xét.

5/ Về vật chứng: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì nên không xem xét.

6/ Về án phí: Buộc bị cáo nộp án phí theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Về tội danh và hình phạt : Tuyên bố bị cáo bị cáo Lỳ B Cg và Xồng B H phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; Điểm s, Khoản 1, 2 Điều 51; Điểm g Khoản 1, Điều 52; 17; 58 ; 38, 90, 91 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lỳ B Cg 7 ( bảy ) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/11/2023.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điểm g, Khoản 1 Điều 52; 17; 58 ; 38 ; 90; 91 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Xồng B H 7 ( bảy ) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/11/2023.

2/ Về trách nhiệm dân sự: Anh Trần Đức Vinh không yêu cầu Cồng và Hải bồi thường lại số tiền 250.000 đồng nên không xem xét.

3/ Về vật chứng: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì nên không xem xét.

4/ Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/NQ - UBTVQH Ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí của Toà án, buộc bị cáo Lỳ B Cg và Xồng B H, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí HSST.

5/.Quyền kháng cáo: Bị cáo, Người bào chữa cho bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án hình sự sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người giám hộ bị cáo, Bị hại vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được trích lục bản án hoặc bản sao bản án được niêm yết tại chính quyền địa phương nơi cư trú.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Phước;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bình Phước;
  • - Công an tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND tỉnh Bình Phước.
  • - VKSND huyện Bù Đăng;
  • - CCTHADS huyện Bù Đăng;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trần Văn Xuyến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 36/2024/HS-ST ngày 26/04/2024 của Toà án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước về hình sự (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 36/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Toà án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xét xử
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger