|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 36/2024/HSST
Ngày: 24-4-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Phương;
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Nguyễn Thanh Hoàng;
- 2. Ông Lữ Duy Minh;
Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Mai Thị Thanh - Thư ký Toà án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Ông Bùi Văn Đông - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại Điểm cầu trung tâm Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận và Điểm cầu thành phần tại Nhà Tạm giữ Công an thị xã L, xét xử sơ thẩm công khai (bằng hình thức trực tuyến) vụ án hình sự thụ lý số: 34/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2024/QĐST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:
LƯƠNG TRUNG NGHĨA (tên gọi khác: T), sinh năm: 1992; Nơi sinh: Bình Thuận; HKTT: Khu phố B, phường P, thị xã L, tỉnh Bình Thuận; Chỗ ở hiện nay: Khu phố B, phường P, thị xã L, tỉnh Bình Thuận; Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; Con ông: Lương Trung T1, sinh năm: 1968 và bà Phạm Thị Ngọc V, sinh năm: 1970; Vợ: Phạm Thị Diễm N, sinh năm: 1995; Con: có 03 con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2019.
Tiền sự: không;
Tiền án: Tại Bản án số 51/2021/HSST ngày 26/5/2021, Lương Trung N1 bị Toà án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận xử phạt 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, đến ngày 20/5/2023 thì chấp hành xong hình phạt tù, hiện chưa được xoá án tích.
Nhân thân: Ngày 07/3/20221, Công an thị xã L ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản. Ngày 15/3/2021, Lương Trung N1 đã thi hành xong việc nộp phạt số tiền 2.000.000 đồng.
Bị cáo bị bắt ngày 18/12/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã L. (Bị cáo có mặt tại Điểm cầu thành phần).
* Người tham gia tố tụng khác:
Đồng chí Bùi Minh V1 - Cán bộ, Đội Thi hành án hình sự và Hỗ trợ tư pháp Công an thị xã L, tỉnh Bình Thuận. (Có mặt tại Điểm cầu thành phần).
Đồng chí Lê Phú C - Chuyên viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã L, tỉnh Bình Thuận. (Có mặt tại Điểm cầu thành phần).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 18/12/2023, Lương Trung N1 điều khiển xe mô tô biển số 86N1-6885 (mượn của bà Phạm Thị Ngọc V) đến xóm S thuộc phường B, thị xã L gặp và mua của một nam thanh niên khoảng 30 tuổi (không rõ lai lịch) 2.000.000 đồng ma tuý thì người đàn ông này đưa cho N1 01 hộp bằng giấy bìa cứng hình chữ nhật, màu đỏ, bên trong có 01 bịch nilon màu trắng chứa ma tuý đá; 01 bịch nilon màu trắng bên trong chứa 08 tép ma tuý đá; 01 bịch nilon màu trắng bên trong chứa 02 viên thuốc lắc màu tím và 02 bịch ma tuý dạng khay.
Sau mua được ma tuý, N1 mở bịch nilon có chứa 08 tép ma tuý đá lấy 02 tép ma tuý giấu vào ống lai quần bên trái rồi gấp lại. Số ma tuý còn lại trong hộp giấy, N1 cất vào trong túi xách màu nâu rồi đeo vào người rồi điều khiển xe mô tô đi tìm nơi sử dụng.
Khoảng 16 giờ cùng ngày, N1 điều khiển xe mô tô chạy tới đường L (khu phố D, phường T, thị xã L) bị Công an phường T yêu cầu dừng xe để kiểm tra, phát hiện có ma tuý nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng, chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thị xã L xử lý theo thẩm quyền.
Tại Kết luận giám định số 1464 ngày 26/12/2023 của Phòng K, Công an tỉnh B kết luận:
- Mẫu M1 gửi giám định có khối lượng 0,2460 gam là Methamphetamine;
- Mẫu M2 gửi giám định có khối lượng 1,0398 gam là Methamphetamine;
- Mẫu M3 gửi giám định có khối lượng 0,9080 gam chứa Ketamine, Methamphetamine, Diazenpam, MDMA;
- Mẫu M4 gửi giám định có khối lượng 0,2430 gam là Ketamine;
- Mẫu M5 gửi giám định có khối lượng 0,4706 gam là Ketamine;
- Mẫu M6 gửi giám định có khối lượng 0,3265 gam là Methamphetamine.
Vật chứng thu giữ gồm: Xe mô tô biển số 86N1-6885, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã L đã trả lại cho bà Phạm Thị Ngọc V.
Số ma tuý còn lại sau giám định được niêm phong trong bì số 1464 của Phòng K, Công an tỉnh B; 01 túi xách da màu nâu kích thước (28x26)cm, có dòng chữ Jeep Boluo; 01 hộp hình chữ nhật, bằng giấy cứng màu đỏ, có kích thước khoảng (12 x 7,5 x 3)cm, hiện đang được Chi cục Thi hành án dân sự thị xã La Gi quản lý.
Tại Cáo trạng số: 40/CT-VKSLG-HS ngày 26/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi truy tố bị cáo Lương Trung N1, về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lương Trung N1 và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lương Trung N1, phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- Áp dụng: Điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Phạt bị cáo Lương Trung N1 mức án từ 03 năm đến 04 năm tù.
- Về biện pháp tư pháp: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì được niêm phong, còn nguyên vẹn số 1464 của Phòng K Công an tỉnh B; 01 túi xách da màu nâu kích thước (28x26)cm, có dòng chữ Jeep Boluo; 01 hộp hình chữ nhật, bằng giấy cứng màu đỏ, kích thước khoảng (12,5x7,5x3)cm.
Tại phiên tòa, bị cáo Lương Trung N1 nhận như đã khai tại cơ quan điều tra và thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi truy tố là hoàn toàn đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện.
Bị cáo Lương Trung N1 không có ý kiến cũng như tranh luận gì đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi.
Lời nói sau cùng của bị cáo Lương Trung N1: Bị cáo thấy được hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thị xã L, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo cũng như người tham gia tố tụng khác, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên toà, bị cáo Lương Trung N1 thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi đã truy tố. Xét, lời khai tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên toà, đủ căn cứ để kết luận:
Ngày 18/12/2023, Lương Trung N1 có hành vi tàng trữ trái phép 1,6123 gam Methamphetamine; 0,7136 gam Ketamine và 0,9080 gam hợp chất ma tuý gồm các chất ma tuý Ketamine, M, D, MDMA.
Lương T có hành vi tàng trữ trái phép nhiều chất ma tuý ở thể rắn được quy định ở các điểm khác nhau theo quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, có tổng khối lượng (Mẫu M1 + M2 + M3 + M4 + M5 + M6) là 3,2339 gam. Do các chất ma tuý được trộn lẫn vào nhau nên không giám định được hàm lượng để xác định khối lượng của từng chất ma tuý. Do đó, không xác định được tỷ lệ phần trăm khối lượng của từng chất ma tuý theo hướng dẫn tại Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ. Tuy nhiên, các chất ma tuý mà Lương Trung N1 tàng trữ đều ở thể rắn, trong đó có 1,6123 gam Methamphetamine thuộc điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự và 1,6216 gam thuộc điểm g khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, nên hành vi của Lương Trung N1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Với hành vi tàng trữ trái phép lượng 3,2339 gam ma túy của bị cáo Lương Trung N1 mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma tuý, đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng số 40/CT-VKSLG-HS ngày 26/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận truy tố bị cáo Lương Trung N1 về tội danh, điều luật áp dụng nêu trên là đúng người, đúng tội, phù hợp với hành vi thực tế mà bị cáo đã thực hiện.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Lương Trung N1, Hội đồng xét xử xét thấy:
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ ma tuý là chất gây nghiện, là hiểm họa của con người và xã hội, tệ nạn ma túy không những xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội mà còn là nguyên nhân sản sinh ra nhiều loại tội phạm khác, nhưng để thỏa mãn nhu cầu nghiện ngập của mình, bị cáo đã bất chấp tác hại của ma túy, vi phạm pháp luật hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo Lương Trung Nghĩa 1 nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự xem thường pháp luật, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, để đảm bảo yêu cầu phục vụ nhiệm vụ chính trị tại địa phương, cũng như lập lại trật tự công cộng, cần thiết phải xử lý nghiêm. Bản án xử bị cáo phải đảm bảo được tính giáo dục cao, để không những cải tạo, giáo dục chính bị cáo mà còn làm gương cho những người khác.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Lương T phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo khai báo thành khẩn. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[5] Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 phong bì được niêm phong, còn nguyên vẹn số 1464 của Phòng K, Công an tỉnh B; 01 túi xách da màu nâu kích thước (28x26)cm, có dòng chữ Jeep Boluo; 01 hộp hình chữ nhật, bằng giấy cứng màu đỏ, kích thước khoảng (12,5x7,5x3)cm, xét đây là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành; không còn giá trị sử dụng cân tịch thu tiêu huỷ.
[6] Về án phí:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Về quyền kháng cáo:
Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
- Điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[1] Tuyên bố: Bị cáo Lương Trung N1, phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
[2] Xử phạt: Bị cáo Lương Trung N1 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 18/12/2023.
[3] Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì được niêm phong, còn nguyên vẹn số 1464 của Phòng K, Công an tỉnh B; 01 túi xách da màu nâu kích thước (28x26)cm, có dòng chữ Jeep Boluo (đã qua sử dụng); 01 hộp hình chữ nhật, bằng giấy cứng màu đỏ, kích thước khoảng (12,5x7,5x3)cm (đã qua sử dụng).
Vật chứng hiện đang được Chi cục Thi hành án dân sự thị xã La Gi quản lý theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 27/3/2024 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã L với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã La Gi.
[4] Án phí: Bị cáo Lương Trung N1 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[5] Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự đã sửa đổi, bổ sung, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự đã sửa đổi, bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự đã sửa đổi, bổ sung.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thanh Phương |
Bản án số 36/2024/HSST ngày 24/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN về hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 36/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lương Trung Nghĩa
