|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN THÀNH PHỐ CẦN THƠ Bản án số: 36/2024/HS-ST Ngày: 20/11/2024. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà.
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Tạ Quang Trung.
- Ông Nguyễn Hùng Phước.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Cum Anh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ tham gia phiên toà: Ông Trần Khánh Hỷ – Kiểm sát viên.
Trong ngày 20 tháng 11 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 34/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trương Văn T, sinh ngày 14/6/1985. Đăng ký thường trú: Ấp T, xã G, huyện P, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: Nguyên là cán bộ Công an huyện P; chức vụ trong Đảng: Đảng viên (đã đình chỉ sinh hoạt Đảng ngày 08/5/2024); trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn N, sinh năm 1958 (sống) và bà Nguyễn Thị Cẩm M, sinh năm 1958 (sống); anh chị em ruột có 06 người; vợ Nguyễn M1, sinh năm 1993.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/5/2024, hiện nay đang tạm giam tại Nhà Tạm giữ Công an huyện P, thành phố Cần Thơ.
* Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Thái T1 – Văn phòng L5 – Đoàn Luật sư thành phố C.
Địa chỉ: B đường số D, khu dân cư H, khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Thái Ngọc D, sinh năm 1988.
- Ông Hồ Ngọc L, sinh năm 1980.
- Bà Huỳnh Thị N1, sinh năm 1964.
- Ông Ngô Thanh V, sinh năm 1987.
- Ông Cao Lê B, sinh năm 1990.
- Ông Trần Hoàng N2, sinh năm 1979.
- Ông Lê Minh T2, sinh năm 1986.
- Ông Trần Kim Đ, sinh năm 1978.
- Ông Dương Hoàng M2, sinh năm 1987.
- Ông Phạm Linh T3, sinh năm 1988.
- Ông Lê Quốc C, sinh năm 1989.
- Bà Nguyễn Thị Trang N3, sinh năm 2003.
- Ông Võ Thanh L1, sinh năm 2001.
- Ông Huỳnh Văn G, sinh năm 1983.
Địa chỉ: Số A X, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ.
Hiện đang chấp hành án tại Trại giam K1.
Địa chỉ: K Đ, phường C, quận T, thành phố Đà Nẵng.
Địa chỉ: Số A X, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ.
Địa chỉ: Ấp T, xã G, huyện P, thành phố Cần Thơ.
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ.
Địa chỉ: Ấp N, xã N, huyện P, thành phố Cần Thơ.
Địa chỉ: Ấp T, xã G, huyện P, thành phố Cần Thơ.
Địa chỉ: B, KDC I, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
Nơi ở: 225/3, đường C, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ.
Địa chỉ: 70/50/19, CMT8, phường Cái Khế, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
Nơi ở: 300C, đường Nguyễn Văn Cừ, phường An Khánh, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
Địa chỉ: Tổ 9, ấp Thanh Trung, xã Thanh Lương, thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước.
Nơi ở: Tổ 12, khóm 1, thị trấn Chi Lăng, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang.
Địa chỉ: A, ấp T, xã N, huyện P, thành phố Cần Thơ.
Địa chỉ: Ấp T, xã N, huyện P, thành phố Cần Thơ.
Nơi ở: 45/6, Huỳnh Thúc K, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
Địa chỉ: Khu V, phường P, quận Ô, thành phố Cần Thơ.
Nơi ở: 45/6, Huỳnh Thúc K, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
Địa chỉ: 515/NC, tổ 20, KV Bình Thường A, phường Long Tuyền, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.
Nơi ở: Số 140/38D, Lý Tự Trọng, phường An Cư, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông D, ông V, ông B, ông T3 và ông G có mặt; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông L, ông N2, ông T2, ông Đ, ông M2 vắng mặt tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà N1, bà N3, ông C có đơn xin giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trương Văn T là cán bộ Đội Cảnh sát giao thông, trật tự, cơ động thuộc Công an huyện P, thành phố Cần Thơ theo Quyết định bố trí cán bộ số 460/QĐ-CAH ngày 17/9/2018 do Trưởng Công an huyện P ký.
Trong quá trình công tác, Trương Văn T được Ban chỉ huy Đội Cảnh sát giao thông, trật tự, cơ động thuộc Công an huyện P phân công tiếp nhận hồ sơ, đăng ký mới và đăng ký lại đối với phương tiện xe mô tô. Trong khoảng thời gian từ năm 2020, Trương Văn T quen biết với Thái Ngọc D do D thường mang xe mô tô đến Đội Cảnh sát giao thông Công an huyện P làm thủ tục đăng ký, đồng thời cũng từ năm 2020 Tươi quen biết với Hồ Ngọc L. Từ năm 2020 – 2021, lợi dụng nhiệm vụ công tác, bị cáo T đã câu kết với Thái Ngọc D, Hồ Ngọc L thực hiện hiệu chỉnh số loại phương tiện đối với 09 (chín) xe mô tô đăng ký lại bằng cách thực hiện lập các thủ tục đăng ký và đăng nhập vào hệ thống dữ liệu phần mềm đăng ký biển số (do Bộ C1 trang cấp) không đúng với hồ sơ gốc, không đúng với phiếu xuất xưởng, cố ý bỏ qua quy trình kiểm tra thực tế xe nhằm hưởng lợi số tiền 3.600.000 đồng. Theo đó, sau khi nhận hồ sơ đăng ký xe từ D và L, sau khi kiểm tra hồ sơ, T phát hiện thông tin số loại trong “giấy khai đăng ký xe” không giống với số loại trên “giấy chứng nhận thu hồi đăng ký, biển số xe”, “Phiếu xuất xưởng” hoặc giấy tờ nguồn gốc xe khác nhưng không yêu cầu D và L chỉnh sửa mà vẫn tiếp nhận hồ sơ, tiếp đó Tươi đăng nhập vào hệ thống dữ liệu phần mềm đăng ký biển số (do Bộ C1 trang cấp) bằng tài khoản của mình là “Văn Tươi 18521”. Khi nhập thông tin trên hệ thống thì hệ thống hiển thị số loại đúng của phương tiện trước đó nhưng T vẫn hiệu chỉnh số loại của phương tiện giống với thông tin mà D và L đã ghi trong “giấy khai đăng ký xe” và cho D, L bấm biển số và ra giấy hẹn nhận giấy chứng nhận đăng ký xe. Trong đó, Trương Văn T giúp Hồ Ngọc L hiệu chỉnh số loại của 03 (ba) xe mô tô, giúp Thái Ngọc D hiệu chỉnh 06 (sáu) xe mô tô. Cụ thể:
- Trương Văn T giúp Hồ Ngọc L hiệu chỉnh số loại 03 (ba) xe mô tô:
- - Xe mô tô thứ 1: Biển kiểm soát (BKS) 65G1-376.71.
- - Xe mô tô thứ 2: BKS 65G1-377.40.
- - Xe mô tô thứ 3: BKS 65G1-378.17.
Công an quận H, thành phố Đà Nẵng cấp giấy chứng nhận đăng ký lần đầu cho xe mô tô hiệu Yamaha, số loại CYGNUS, số máy ZY151QM1207100873, số khung LYMTJAA427A100805, BKS: 43S8-9379 cho ông Nguyễn Hữu H, sinh năm 1979, địa chỉ thường trú: 145, H, quận H, thành phố Đà Nẵng đứng tên.
Ngày 29/9/2020, Ủy ban nhân dân phường H, quận H chứng thực ông Nguyễn Hữu H ký giấy bán, cho, tặng xe mô tô BKS 43S8-9379 cho ông Ngô Thanh V, sinh năm 1987, địa chỉ thường trú: ấp T, xã G, huyện P, thành phố Cần Thơ với giá 3.000.000đồng.
Ngày 04/10/2020, Công an quận H nhận được đơn của ông Ngô Thanh V đề nghị thu hồi đăng ký, biển số xe và sang tên cho chủ sở hữu mới là ông V.
Ngày 02/11/2020, Đ, trật tự, cơ động thuộc Công an huyện P tiếp nhận hồ sơ của Ngô Thanh V xin đăng ký lại đối với xe mô tô hiệu Yamaha, số loại: CYGNUS, số máy: ZY151QM1207100873, số khung: LYMTJAA427A100805. Hồ sơ đăng ký lại do Hồ Ngọc L đưa cho Trương Văn T tiếp nhận.
Sau khi tiếp nhận hồ sơ, Trương Văn T thực hiện lập các thủ tục đăng ký và đăng nhập vào hệ thống dữ liệu phần mềm đăng ký biển số (do Bộ C1 trang cấp) thực hiện hiệu chỉnh số loại từ CYGNUS sang số loại ZY125 và nhập thông tin cá nhân của Ngô Thanh V, biển kiểm soát đăng ký mới là 65G1-376.71 rồi in ra mẫu giấy chứng nhận đăng ký trình ông Huỳnh Văn G là Phó đội trưởng ký nháy vào giấy chứng nhận đăng ký. Ngày 03/11/2020, hồ sơ được trình Phó Trưởng Công an huyện phụ trách là ông Trương Tương L2 ký cấp giấy chứng nhận đăng ký xe. Sau đó, T giao giấy chứng nhận đăng ký xe cho L.
Công an quận T, thành phố Đà Nẵng cấp giấy chứng nhận đăng ký lần đầu cho xe mô tô hiệu Yamaha, số loại: CYGNUS, số máy: ZY151QMI207320898, số khung: LYMTJAA417A321232 có BKS: 43X5-7235 cho bà Lê Thúy H1, địa chỉ thường trú: Tổ I, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng đứng tên.
Ngày 02/10/2020, UBND phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng chứng thực bà Lê Thúy H1 ký giấy bán, cho, tặng xe mô tô BKS: 43X5-7235 cho ông Ngô Thanh V, sinh năm: 1987, địa chỉ thường trú: ấp T, xã G, huyện P, thành phố Cần Thơ với giá 2.000.000 đồng.
Ngày 06/10/2020, Công an quận T tiếp nhận văn bản của ông Ngô Thanh V đề nghị thu hồi đăng ký, biển số xe và sang tên cho chủ sở hữu mới là ông V.
Ngày 31/10/2020, Đ, trật tự, cơ động thuộc Công an huyện P tiếp nhận hồ sơ của ông Ngô Thanh V xin đăng ký lại đối với xe mô tô hiệu Yamaha, số loại: CYGNUS, số máy: ZY151QM1207320898, số khung: LYMTJAA417A321232. Hồ sơ đăng ký lại do Hồ Ngọc L đưa cho Trương Văn T tiếp nhận. Sau khi tiếp nhận hồ sơ, Trương Văn T thực hiện lập các thủ tục đăng ký và đăng nhập vào hệ thống dữ liệu phần mềm đăng ký biển số thực hiện hiệu chỉnh số loại từ CYGNUS sang số loại Z125 và nhập thông tin cá nhân của Ngô Thanh V, biển kiểm soát đăng ký mới là 65G1-377.40 rồi in ra mẫu giấy chứng nhận đăng ký trình Huỳnh Văn G là Phó đội trưởng ký nháy vào giấy chứng nhận. Ngày 01/11/2020, trình Phó Trưởng Công an huyện phụ trách là ông Trương Tương L2 ký cấp giấy chứng nhận đăng ký xe. Sau đó, T giao giấy chứng nhận đăng ký xe cho L.
Công an huyện P, tỉnh Quảng Nam cấp giấy chứng nhận đăng ký lần đầu cho xe mô tô hiệu CYGNUS, số loại: ZY125T4, số máy: ZY151QMI207320549, số khung: JAA407A320878 có BKS: 92L8-1881 cho bà Phan Thị H2, địa chỉ thường trú: Cơ quan Quân sự P1 đứng tên.
Ngày 29/9/2020, UBND xã Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam chứng thực bà Phan Thị H2 ký giấy bán, cho, tặng xe mô tô BKS: 92L8-1881 cho ông Ngô Thanh V, sinh năm: 1987, địa chỉ thường trú: ấp T, xã G, huyện P với giá 2.000.000 đồng.
Ngày 07/10/2020, Công an huyện P nhận được đơn của ông Ngô Thanh V đề nghị thu hồi đăng ký, biển số xe và sang tên cho chủ sở hữu mới là ông V.
Ngày 03/11/2020, Đ, trật tự, cơ động thuộc Công an huyện P tiếp nhận hồ sơ của ông Ngô Thanh V để xin đăng ký lại xe mô tô hiệu Yamaha, số loại: ZY125, số máy: ZY151QM1207320549, số khung: JAA407A320878. Hồ sơ đăng ký lại do Hồ Ngọc L đưa cho Trương Văn T tiếp nhận.
Sau khi tiếp nhận hồ sơ, Trương Văn T thực hiện lập các thủ tục đăng ký và đăng nhập vào hệ thống dữ liệu phần mềm đăng ký biển số thực hiệu hiệu chỉnh số loại từ CYGNUS sang số loại Z125 và nhập thông tin cá nhân của Ngô Thanh V, biển kiểm soát đăng ký mới là 65G1-378.17 rồi in ra mẫu giấy chứng nhận đăng ký trình Huỳnh Văn G là Phó đội trưởng ký nháy vào giấy chứng nhận. Ngày 03/11/2020, trình Phó Trưởng Công an huyện phụ trách là ông Trương Tương L2 ký cấp giấy chứng nhận đăng ký xe. Sau đó, T giao giấy chứng nhận đăng ký xe cho L.
Qua xác minh tại địa phương cung cấp hiện tại Hồ Ngọc L không có sinh sống tại địa phương nên không mời làm việc được. Do đó ba xe mô tô trên không xác định ai đang quản lý, sử dụng. Cơ quan Cảnh sát điều tra có quyết định truy tìm vật chứng nhưng đến nay chưa tìm được.
- Trương Văn T giúp Thái Ngọc D hiệu chỉnh 06 (sáu) xe mô tô:
- - Xe mô tô thứ 1: BKS 65G1-390.01.
- - Xe mô tô thứ 2: BKS 65G1-358.67.
- - Xe mô tô thứ 3: BKS 65G1-363.44.
- - Xe mô tô thứ 4: BKS 65G1-362.60.
- - Xe mô tô thứ 5: BKS 65G1-358.81.
- - Xe mô tô thứ 6: BKS 65G1-357.83.
Ngày 17/01/2008, Phòng C2 Công an tỉnh N cấp giấy chứng nhận đăng ký lần đầu cho xe mô tô hiệu Yamaha, số loại: CYGNUS, số máy: ZY151QMI207319181, số khung: LYMTJAA437A319658 có BKS 37N4-9417 cho bà Bùi Thị H3, sinh năm 1981, địa chỉ thường trú: Xóm A, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An đứng tên.
Ngày 02/11/2020, Văn phòng C3 do Công chứng viên Lê Văn L3 ký chứng thực hợp đồng mua bán xe mô tô BKS: 37N4-9417 từ bà Bùi Thị H3 bán cho ông Lê Duy T4, sinh năm 1952, địa chỉ thường trú: Khối Q, phường V, thành phố V, tỉnh Nghệ An với giá 2.000.000 đồng.
Ngày 20/11/2020, Văn phòng C3 do Công chứng viên Lê Văn L3 ký chứng thực hợp đồng mua bán xe mô tô BKS: 37N4-9417 từ ông Lê Duy T4 bán cho ông Nguyễn Phước T5, sinh năm 1988, địa chỉ thường trú: ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Vĩnh Long với giá 2.000.000 đồng.
Ngày 24/11/2020, Phòng C2 Công an tỉnh N nhận đơn của bà Bùi Thị H3 đề nghị thu hồi đăng ký, biển số xe và sang tên cho chủ sở hữu mới là ông Nguyễn Phước T5.
Ngày 20/01/2021, Đ, trật tự, cơ động thuộc Công an huyện P nhận được hồ sơ của bà Huỳnh Thị N1, sinh năm 1964, địa chỉ: ấp N, thị trấn P, huyện P, thành phố Cần Thơ đề nghị xin đăng ký lại đối với xe mô tô hiệu Yamaha, ghi số loại: CYGNUS, số máy: 207319181, số khung: 437A319658. Hồ sơ đăng ký lại do Thái Ngọc D đưa cho Trương Văn T tiếp nhận.
Sau khi tiếp nhận hồ sơ, Trương Văn T thực hiện lập các thủ tục đăng ký và đăng nhập vào hệ thống dữ liệu phần mềm đăng ký biển số (do Bộ C1 trang cấp) thực hiện hiệu chỉnh số loại từ CYGNUS sang số loại ZR125 và nhập thông tin cá nhân của bà Huỳnh Thị N1 và biển kiểm soát đăng ký mới là 65G1-390.01 rồi in ra mẫu giấy chứng nhận đăng ký trình Huỳnh Văn G là Phó đội trưởng ký nháy vào giấy chứng nhận đăng ký. Ngày 02/02/2021, trình Phó trưởng Công an huyện phụ trách là ông Trương Tương L2 ký cấp giấy chứng nhận đăng ký xe. Sau đó, T giao giấy chứng nhận đăng ký xe cho D, sau đó D đã bán lại xe mô tô và giao giấy chứng nhận đăng ký xe cho người khác nhưng không nhớ bán cho ai và ở đâu.
Hiện nay, xe mô tô BKS: 65G1-390.01, Cơ quan điều tra chưa xác định ai đang sử dụng nên không thu hồi được.
Ngày 29/8/2007, Phòng Cảnh sát giao thông Công an thành phố C2 cấp giấy chứng nhận đăng ký lần đầu cho xe mô tô hiệu Yamaha, số loại: CYGNUSZ, số máy ZY151QM1207305254, số khung: LYMTJAA427A305251 có BKS: 43X1-2548 cho ông Nguyễn Hoài A, sinh năm 1970, địa chỉ thường trú: 2A Q, quận H, thành phố Đà Nẵng đứng tên.
Ngày 30/3/2020, Công an quận H tiếp nhận đề nghị của Nguyễn Hoài A sang tên, di chuyển do bán xe cho Thái Ngọc D.
Ngày 11/5/2020, Ủy ban nhân dân phường C, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long chứng thực ông Thái Ngọc D bán xe mô tô 43X1-2548 cho ông Lê Quốc C, sinh năm 1989, địa chỉ thường trú: ấp T, xã N, huyện P, thành phố Cần Thơ với giá 2.000.000 đồng.
Ngày 13/5/2020, Đ, trật tự, cơ động thuộc Công an huyện P tiếp nhận hồ sơ tên ông Lê Quốc C nộp xin đăng ký lại đối với xe mô tô hiệu Yamaha, số loại: CYGNUS, số máy: ZY151QM1207305254, số khung: PLYMTJAA427A305251. Hồ sơ đăng ký lại do Thái Ngọc D đưa cho Trương Văn T tiếp nhận.
Sau khi tiếp nhận hồ sơ, Trương Văn T thực hiện lập các thủ tục đăng ký và đăng nhập vào hệ thống dữ liệu phần mềm đăng ký biển số (do Bộ C1 trang cấp) thực hiện hiệu chỉnh số loại từ CYGNUS sang số loại Z125 và nhập thông tin cá nhân của Lê Quốc C, biển kiểm soát đăng ký mới là 65G1-358.67 rồi in ra mẫu giấy chứng nhận đăng ký trình Huỳnh Văn G là Phó đội trưởng ký nháy vào giấy chứng nhận. Ngày 14/5/2020, trình Lãnh đạo Công an huyện là ông Nguyễn Quốc A1 ký cấp giấy chứng nhận đăng ký xe. Sau đó, T giao giấy chứng nhận đăng ký xe cho D.
Ngày 25/6/2021, Văn phòng C4 chứng thực Lê Quốc C ký hợp đồng bản xe mô tô 65G1-358.67 cho Nguyễn Thị Trang N3 số tiền 3.000.000 đồng.
Ngày 25/6/2021, bà Nguyễn Thị Trang N3 nộp hồ sơ đến Đội Cảnh sát giaothông, trật tự, cơ động thuộc Công an huyện P để xin đăng ký sang tên đổi với xe mô tô trên. Ngày 02/7/2021, trình Lãnh đạo Công an huyện là ông Trương Tương L2 ký cấp giấy chứng nhận đăng ký xe.
Ngày 05/01/2024, Lê Quốc C đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P giao nộp xe mô tô 65G1-358.67 trên. Sau khi, C nộp xe cho Cơ quan Cảnh sát điều tra, C trả lại tiền bán xe cho N3 xong.
Ngày 08/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P trưng cầu Phòng K2 Công an thành phố C giám định số máy, số khung có bị đục sửa, tẩy xóa, hàn ghép hay không. Ngày 19/01/2024, Phòng K2 có kết luận giám định: “Tại vị trí số khung, số máy phát hiện dấu vết tẩy xóa; phát hiện dấu vết hàn ghép kim loại và đóng lại”.
Quá trình làm việc với Cơ quan Cảnh sát điều tra, Lê Quốc C khai nhận: C mua xe mô tô hiệu Yamaha, số loại: CYGNUS, BKS 65G1-358.67 của Thái Ngọc D với số tiền 15.000.000 đồng kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe với mục đích là nhằm lấy biển kiểm soát và giấy chứng nhận đăng ký xe. Sau đó, C đặt mua trên trang mạng xã hội một xe mô tô khác hiệu Yamaha Z125 không rõ nguồn gốc số tiền 50.000.000 đồng rồi đặt người bán làm số khung, số máy đúng như thông tin trong giấy chứng nhận của xe mô tô 65G1-358.67 hiệu Yamaha CYGNUS để hợp thức hóa xe hiệu Yamaha Z125 thành xe có giấy tờ để sử dụng làm phương tiện đi lại. Trong quá trình sử dụng, do kẹt tiền nên C bán lại xe cho chị Nguyễn Thị Trang N3 xe Yamaha Z125, BKS: 65G1-358.67 với số tiền 85.000.000 đồng. Sau đó, C biết xe vi phạm pháp luật nên C liên hệ với chị N3 thỏa thuận mua lại 70.000.000 đồng thì chị N3 đồng ý. Mua xe từ chị N3 thì C mang 02 (hai) xe là: 01 (một) xe Yamaha Z125, BKS: 65G1-358.67 và 01 (một) xe Yamaha, số loại: CYGNUS (không biển kiểm soát) giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P.
Ngày 09/11/2007, Công an thị xã H cấp giấy chứng nhận đăng ký lần đầu cho xe mô tô hiệu Yamaha, số loại: CYGNUS Z, số máy: 07306620, số khung: A306354 có BKS: 38L1-0125 cho bà Hoàng Thị Thanh T6, địa chỉ thường trú: khối I, phường B, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh đứng tên.
Ngày 12/6/2020, Văn phòng C3 do công chứng viên Lê Văn L3 chứng thực bà Hoàng Thị Thanh T6 ký hợp đồng mua, bán xe mô tô trên cho Thái Ngọc D với số tiền 3.000.000 đồng.
Ngày 19/6/2020, Công an thị xã H tiếp nhận đơn của bà Hoàng Thị Thanh T6 đề nghị sang tên, di chuyển do bán xe cho Thái Ngọc D.
Ngày 26/6/2020, Ủy ban nhân dân phường C, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long chứng thực ông Thái Ngọc D ký giấy mua bán xe mô tô 38L1-0125, số loại CYGNUS Z cho ông Cao Lê B, sinh năm 1990, địa chỉ thường trú: ấp T, xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ với giá 2.000.000 đồng.
Ngày 29/6/2020, Đ, trật tự, cơ động thuộc Công an huyện P tiếp nhận hồ sơ của ông Cao Lê B xin đăng ký lại đối với xe mô tô hiệu Yamaha,số loại CYGNUS, số máy: ZY151QMI207306620, số khung: LYMTJAA467A306354. Hồ sơ đăng ký lại do Thái Ngọc D đưa cho Trương Văn T tiếp nhận.
Sau khi tiếp nhận hồ sơ, Trương Văn T thực hiện lập các thủ tục đăng ký và đăng nhập vào hệ thống dữ liệu phần mềm đăng ký biển số (do Bộ C1 trang cấp) thực hiện hiệu chỉnh số loại từ CYGNUS sang số loại Z125 và nhập thông tin cá nhân của Cao Lê B, biển kiểm soát đăng ký mới là 65G1-363.44 rồi in ra mẫu giấy chứng nhận đăng ký trình Huỳnh Văn G là Phó đội trưởng ký nháy vào giấy chứng nhận. Ngày 02/7/2020, trình Phó trưởng Công an huyện là ông Nguyễn Thanh H4 ký cấp giấy chứng nhận đăng ký xe. Sau đó, T giao giấy chứng nhận đăng ký xe cho D rồi D bán xe 65G1-363.44 kèm giấy chứng nhận đăng ký cho cha con ông Phan Văn T7, anh Phan Hữu T8 với số tiến 14.000.000đồng. Do không có nhu cầu sử dụng nên ông T7 bán lại xe trên cho D với số tiền 12.000.000 đồng rồi D bán cho người khác không rõ tên và không rõ địa chỉ.
Hiện nay, xe mô tô BKS: 65G1-363.44 không rõ ai đang sử dụng nên Cơ quan điều tra không thu hồi được.
Ngày 05/3/2007, Phòng Cảnh sát giao thông Công an thành phố C2 cấp giấy chứng nhận đăng ký lần đầu xe mô tô hiệu Yamaha, số loại: CYGNUS, số máy: 07300864, số khung: 300291 có BKS: 43S8-5063 cho bà Nguyễn Thị Kim H5, sinh năm 1978, địa chỉ thường trú: F N, quận S, thành phố Đà Nẵng đứng tên.
Ngày 27/4/2020, Công an quận S nhận đơn của bà Nguyễn Thị Kim H5 đề nghị sang tên, di chuyển do bán xe trên cho Thái Ngọc D.
Ngày 15/6/2020, Ủy ban nhân dân phường C, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long chứng thực Thái Ngọc D bán xe mô tô 43S8-5063, số loại CYGNUS cho ông Cao Lê B, sinh năm 1990, địa chỉ thường trú: ấp T, xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ với giá 2.000.000 đồng.
Ngày 18/6/2020, Đ, trật tự, cơ động thuộc Công an huyện P tiếp nhận hồ sơ của ông Cao Lê B xin đăng ký lại đối với xe mô tô hiệu Yamaha, số loại: CYGNUS, số máy: 07300864, số khung: 300291. Hồ sơ đăng ký lại do Thái Ngọc D đưa cho Trương Văn T tiếp nhận.
Sau khi tiếp nhận hồ sơ, Trương Văn T thực hiện lập các thủ tục đăng ký và đăng nhập vào hệ thống dữ liệu phần mềm đăng ký biển số (do Bộ C1 trang cấp) thực hiện hiệu chỉnh số loại từ CYGNUS sang số loại Z125 và nhập thông tin cá nhân của Cao Lê B, biển kiểm soát đăng ký mới là 65G1-362.60 rồi in ra mẫu giấy chứng nhận đăng ký trình Huỳnh Văn G là Phó đội trưởng ký nháy vào giấy chứng nhận. Ngày 25/6/2020, trình Lãnh đạo Công an huyện là ông Nguyễn Thanh H4 ký cấp giấy chứng nhận đăng ký xe. Sau đó, T giao giấy chứng nhận đăng ký xe cho D rồi D bán cho người ở tỉnh Hậu Giang nhưng không rõ tên và không rõ địa chỉ.
Hiện nay, xe mô tô BKS: 65G1-362.60 không rõ ai đang sử dụng nên không thu hồi được.
Ngày 01/02/2008, Phòng Cảnh sát giao thông Công an thành phố C2 cấp giấy chứng nhận đăng ký lần đầu cho xe mô tô hiệu Yamaha, số loại: CYGNUS, số máy: 07318733, số khung: 318658 có BKS 43X3-3392 cho bà Trần Thị L4, sinh năm 1977, địa chỉ thường trú: tổ A, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng đứng tên.
Ngày 30/3/2020, Công an quận L nhận đơn của bà Trần Thị L4 đề nghị sang tên, di chuyển do bán xe trên cho Thái Ngọc D.
Ngày 11/5/2020, Ủy ban nhân dân phường C, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long chứng thực ông Thái Ngọc D ký giấy bán xe mô tô 43X3-3392, loại xe CYGNUS cho Lê Quốc C, sinh năm 1989, địa chỉ thường trú: ấp T, xã N, huyện P, thành phố Cần Thơ với giá 2.000.000 đồng.
Ngày 13/5/2020, Đ, trật tự, cơ động thuộc Công an huyện P tiếp nhận hồ sơ của ông Lê Quốc C nộp xin đăng ký lại đối với xe mô tô hiệu Yamaha, số loại: CYGNUS, số máy: ZY151QMI207318733, số khung: LYMTJAA497A318658. Hồ sơ đăng ký lại do Thái Ngọc D đưa cho Trương Văn T tiếp nhận.
Sau khi tiếp nhận hồ sơ, Trương Văn T thực hiện lập các thủ tục đăng ký và đăng nhập vào hệ thống dữ liệu phần mềm đăng ký biển số (do Bộ C1 trang cấp) thực hiện hiệu chỉnh số loại từ CYGNUS sang số loại Z125 và nhập thông tin cá nhân của Lê Quốc C, biển kiểm soát đăng ký mới là 65G1-358.81 rồi in ra mẫu giấy chứng nhận đăng ký trình Huỳnh Văn G là Phó đội trưởng ký nháy vào giấy chứng nhận đăng ký. Ngày 14/5/2020, trình Lãnh đạo Công an huyện là ông Nguyễn Quốc A1 ký cấp giấy chứng nhận đăng ký xe cho Lê Quốc C. Sau đó, T giao giấy chứng nhận đăng ký xe cho D rồi D bán lại cho người mua không rõ thông tin trên “Chợ tốt” (là trang web mua bán, rao vặt trực tuyến).
Sau đó, ông Trần Kim Đ mua xe mô tô trên từ Võ Trường D1 tại cửa hàng bán xe tại chợ A2, quận N, thành phố Cần Thơ với số tiền 75.000.000 đồng. Ông Đ bán lại cho anh Phạm Linh T3 số tiền 100.000.000 đồng và T3 nhờ anh Trần Hoàng N2 đứng tên giấy chứng nhận. Quá trình sử dụng, anh T3 biết xe vi phạm pháp luật nên mang xe đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P giao nộp.
Ngày 08/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P trưng cầu Phòng K2 Công an thành phố C giám định số máy, số khung có bị đục sửa, tẩy xóa, hàn ghép hay không. Ngày 19/01/2024, Phòng K2 có kết luận giám định: “Tại vị trí số khung, số máy phát hiện dấu vết tẩy xóa; phát hiện dấu vết hàn ghép kim loại và đóng lại”.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C xác minh Võ Trường D1, hiện D1 không còn sinh sống tại địa phương nên không làm rõ được nguồn gốc xe mô tô trên. Hiện, anh T3 yêu cầu ông Đ trả tiền mua xe lại cho anh T3, còn ông Đ yêu cầu Võ Trường D1 trả tiền lại cho ông Đ để ông Đ trả tiền lại cho anh T3.
Ngày 13/6/2007, Phòng Cảnh sát giao thông Công an thành phố C2 cấp giấy chứng nhận đăng ký lần đầu cho xe mô tô hiệu Yamaha, số loại: CYGNUS, số máy: 07100249, số khung: 417A100407 có BKS: 43S9-4491 cho bà Nguyễn Thị Bích P, sinh năm 1972, địa chỉ thường trú: tổ C phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng đứng tên.
Ngày 24/4/2020, Công an quận T nhận được đơn của bà Nguyễn Thị Bích P đề nghị sang tên, di chuyển do bán xe trên cho Thái Ngọc D.
Ngày 24/4/2020, Phòng Tư pháp huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam chứng thực bà Nguyễn Thị Bích P ký giấy mua bán xe mô tô 43S9-4491 cho Thái Ngọc D với giá 2.000.000 đồng.
Ngày 11/5/2020, Thái Ngọc D ký giấy mua bán xe mô tô 43S9-4491 cho Lê Quốc C với giá 2.000.000 đồng.
Ngày 13/5/2020, Đ, trật tự, cơ động thuộc Công an huyện P nhận được hồ sơ của ông Lê Quốc C xin đăng ký lại đối với xe mô tô hiệu Yamaha, số loại: CYGNUS, số máy: 07100249, số khung: 417A100407. Sau đó, Công an huyện P cấp giấy chứng nhận đăng ký là mô tô hiệu Yamaha, số loại: CYGNUS, BKS: 65G1-357.83.
Ngày 06/6/2020, Đ, trật tự, cơ động thuộc Công an huyện P nhận được đơn của ông Lê Quốc C xin cấp đổi giấy đăng ký lại đối với xe mô tô hiệu Yamaha, số loại: CYGNUS, BKS: 65G1-357.83 với lý do bị cháy. Hồ sơ đăng ký lại do Thái Ngọc D đưa cho Trương Văn T tiếp nhận. Sau khi tiếp nhận hồ sơ, Trương Văn T thực hiện lập các thủ tục đăng ký và đăng nhập vào hệ thống dữ liệu phần mềm đăng ký biển số (do Bộ C1 trang cấp) thực hiện hiệu chỉnh số loại từ CYGNUS sang số loại Z125 và nhập thông tin cá nhân của Lê Quốc C rồi in ra mẫu giấy chứng nhận đăng trình Huỳnh Văn G là Phó đội trưởng ký nháy vào giấy chứng nhận. Ngày 08/6/2020, trình Lãnh đạo Công an huyện là ông Nguyễn Thanh H4 ký cấp giấy chứng nhận đăng ký xe cho Lê Quốc C. Sau đó, T giao giấy chứng nhận đăng ký xe cho D.
Sau đó, anh Dương Hoàng M2 nhận cầm xe trên của người đàn ông tên L (không rõ họ tên và nơi ở của L) số tiền 70.000.000 đồng. Do đến hạn mà L không chuộc lại xe nên M2 bán thanh lý xe trên cho Nguyễn Thế H6 số tiền 120.000.000 đồng. Anh H6 sử dụng xe được vài tháng thì anh H6 nhờ M2 bán lại cho người khác quen biết qua mạng xã hội được số tiền 63.000.000 đồng. Hiện nay, xe mô tô BKS: 65G1-357.83 không rõ ai đang sử dụng nên Cơ quan điều tra không thu hồi được.
Sau khi Trương Văn T hiệu chỉnh số loại xe mô tô giúp Thái Ngọc D và Hồ Ngọc L thì D và L trả tiền mỗi xe là 400.000 đồng. Tổng số tiền mà T đã hưởng lợi là 3.600.000 đồng. D và L đưa tiền mặt trực tiếp cho Trương Văn T
Ngày 10/4/2023, Trương Văn T được điều động từ Đội Cảnh sát giao thông, trật tự, cơ động đến nhận công tác tại Đội Xây dựng phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc thuộc Công an huyện P, thành phố Cần Thơ theo Quyết định điều động cán bộ số 26/QĐ-CAH do Trưởng Công an huyện ký. Ngày 15/4/2024, Giám đốc Công an thành phố C có Quyết định số 3927 về việc kỷ luật cán bộ đối với Đại úy Trương Văn T bằng hình thức: Tước danh hiệu Công an nhân dân do quá trình công tác tại Đ, trật tự, cơ động thuộc Công an huyện P đã vi phạm quy định của pháp luật.
* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:
- - 09 (chín) bộ hồ sơ xe.
- - 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha ZR125, màu xanh, BKS: 65G1-358.81, số khung: *LYMTJAA497A318658*, số máy: QMI207318733, do Trần Hoàng N2 đứng tên giấy chứng nhận đăng ký chủ sở hữu. Xe do anh Phạm Linh T3 giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện P.
- - 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số: 001662 do Trần Hoàng N2 đứng tên giấy chứng nhận đăng. Giấy xe do anh Phạm Linh T3 giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện P.
- - 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha ZR125, màu vàng, BKS: 65G1-358.67, số khung: PMYKEAA427A305251, số máy: QMI207305254 do Nguyễn Thị Trang N3 đứng tên giấy chứng nhận đăng ký chủ sở hữu. Xe do anh Lê Quốc C giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện P.
- - 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số: 002854. Giấy xe do anh Lê Quốc C giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện P.
- - 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha CYGNUS Z, tay ga, màu đen, số khung: LYMTJAA427A305251, số máy: ZY151QMI-2*07305254*, không biển kiểm soát. Xe do anh Lê Quốc C giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện P.
- - Tiền Việt Nam: 3.600.000₫ (Ba triệu sáu trăm nghìn đồng) do bị cáo Trương Văn T nộp tiền thu lợi bất chính.
* Phần dân sự:
- - Phạm Linh T3 yêu cầu Trần Kim Đ trả tiền mua xe lại cho anh T3 là 100.000.000 đồng, còn ông Đ yêu cầu Võ Trường D1 trả tiền lại cho ông Đ để ông Đ trả tiền lại cho anh T3, đối với phần yêu cầu này sẽ được giải quyết trong vụ kiện dân sự khác.
- - Nguyễn Thế H6 yêu cầu Dương Hoàng M2 trả lại số tiền 70.000.000 đồng, đối với phần yêu cầu này sẽ được giải quyết trong vụ kiện dân sự khác.
- - Đối với bà Nguyễn Thị Trang N3 đã bán lại cho Lê Quốc C xe mô tô biển số 65G1-358.67, đã nhận đủ số tiền 60.000.000 đồng và không có yêu cầu gì thêm.
Tại Cáo trạng số 27/CT-VKSPĐ ngày 19/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ đã truy tố bị cáo Trương Văn T về tội “Giả mạo trong công tác” theo điểm a khoản 3 Điều 359 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà sơ thẩm hôm nay:
Bị cáo Trương Văn T khai nhận, do quen biết nên T đã nhận hiệu chỉnh các số loại xe cho D1 và L, bị cáo có hưởng lợi là số tiền 3.600.000 đồng. Bị cáo nhận biết hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật. Bị cáo mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông D1, ông V, ông B không có yêu cầu về trách nhiệm dân sự.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Phạm Linh T3 yêu cầu nhận lại giá trị xe là 100.000.000 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ vẫn giữ nguyên nội dung cáo trạng truy tố về tội danh và điều khoản áp dụng. Hành vi của bị cáo tự ý hiệu chỉnh không đúng số loại phương tiện là xe mô tô trên hệ thống dữ liệu phần mềm đăng ký biển số (do Bộ C1 trang cấp) không đúng với hồ sơ gốc, không đúng với phiếu xuất xưởng, cố ý bỏ qua quy trình kiểm tra thực tế xe nhằm hưởng lợi số tiền 3.600.000 đồng là hành vi vi phạm pháp luật. Bản thân bị cáo vì vụ lợi, hưởng lợi ích vật chất nên đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao để hiệu chỉnh số loại đăng ký xe mô tô là hành vi đáng lên án. Hành vi bị cáo Trương Văn T đã thực hiện là rất nghiêm trọng, với lỗi cố ý, đã trực tiếp xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức, gây mất uy tín của ngành Công an và ảnh hưởng đến công tác quản lý Nhà nước đối với phương tiện giao thông đường bộ trên địa bàn nên cần phải xử lý nghiêm nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo T có thái độ khai báo rõ ràng, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, cho thấy bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải. Bị cáo được tặng Huân chương chiến sĩ vẻ vang và có nhiều thành tích trong công tác, gia đình bị cáo có công với cách mạng, bị cáo đã nộp tiền thu lợi bất chính. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 3 Điều 359, Điều 38, điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 BLHS tuyên bị cáo Trương Văn T từ 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng đến 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù giam.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS.
- - Tịch thu sung quỹ nhà nước đối với: 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha ZR125, màu xanh, số khung: *LYMTJAA497A318658*, số máy: QMI207318733; 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha ZR125, màu vàng, số khung: PMYKEAA427A305251, số máy: QMI207305254.
- + Tiền Việt Nam 3.600.000 đồng (Ba triệu sáu trăm nghìn đồng).
- - Trả lại cho Lê Quốc C 01 xe mô tô hiệu Yamaha CYGNUS Z, tay ga, màu đen, số khung: LYMTJAA427A305251, số máy: ZY151QMI-2*07305254*.
- - Tịch thu tiêu hủy đối với: BKS: 65G1-358.81; BKS: 65G1-358.67;
- - Lưu hồ sơ vụ án: 09 (chín) bộ hồ sơ xe; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số: 002854; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số: 001662 do Trần Hoàng N2 đứng tên giấy chứng nhận đăng ký.
Về trách nhiệm dân sự:
- - Phạm Linh T3 yêu cầu Trần Kim Đ trả tiền mua xe lại cho anh T3 là 100.000.000 đồng, còn ông Đ yêu cầu Võ Trường D1 trả tiền lại cho ông Đ để ông Đ trả tiền lại cho anh T3, đối với phần yêu cầu này sẽ được giải quyết trong vụ kiện dân sự khác khi các bên có yêu cầu.
- - Nguyễn Thế H6 yêu cầu Dương Hoàng M2 trả lại số tiền 70.000.000 đồng, đối với phần yêu cầu này sẽ được giải quyết trong vụ kiện dân sự khác khi các bên có yêu cầu.
- - Đối với bà Nguyễn Thị Trang N3 đã bán lại cho Lê Quốc C xe mô tô biển số 65G1-358.67, đã nhận đủ số tiền 60.000.000 đồng và không có yêu cầu gì thêm nên không đặt ra xem xét.
Luật sư Thanh phát B1 bào chữa cho bị cáo T: Thống nhất với quan điểm truy tố của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền đối với bị cáo T về tội “Giả mạo trong công tác” là có căn cứ. Tuy nhiên, mức hình phạt đối với bị cáo T từ 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng đến 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù là nghiêm khắc. Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có thành tích xuất sắc trong công tác được thưởng huân chương, thiệt hại đã được khắc phục, bị cáo đã nộp lại tiền thu lợi bất chính nên đề nghị áp dụng thêm điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử chuyển khung hình phạt cho bị cáo xuống khung hình phạt liền kề theo quy định tại khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo T 03 năm tù.
Đại diện Viện kiểm sát tranh luận: Theo Công văn 212/TANDTC-PC ngày 13/9/2019 thì việc bị cáo giao nộp tiền thu lợi bất chính không được xác định là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Bị cáo T có 02 tình tiết giảm nhẹ nên được áp dụng điểm s, v khoản 1, và các tình tiết giảm nhẹ khác nên được áp dụng khoản 2 Điều 51 và khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự nên đại diện Viện kiểm sát đề nghị mức án đối với bị cáo từ 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng đến 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù là đã chuyển khung hình phạt sang khung hình phạt liền kề nhẹ hơn cho bị cáo. Mức hình phạt này tương xứng với hành vi phạm tội bị cáo gây ra. Luật sư bào chữa cho rằng bị cáo đã khắc phục hậu quả nhưng thực chất hậu quả chưa khắc phục hết, một số xe và giấy tờ xe không thu hồi được và vẫn đang tham gia giao thông. Do đó, không có cơ sở để Viện kiểm sát đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo.
Luật sư Thanh phát B1 tranh luận: Luật sư vẫn giữ ý kiến về mức đề nghị hình phạt cho bị cáo T.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, căn cứ vào kết quả thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận trên cơ sở xem xét toàn diện chứng cứ, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo T không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo T tại phiên toà sơ thẩm hôm nay phù hợp với các biên bản ghi lời khai và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Có đủ căn cứ xác định Trương Văn T là cán bộ Đội Cảnh sát giao thông, trật tự, cơ động thuộc Công an huyện P, thành phố Cần Thơ theo Quyết định bố trí cán bộ số 460/QĐ-CAH ngày 17/9/2018 do Trưởng Công an huyện P ký. Trong quá trình công tác, Trương Văn T được Ban chỉ huy Đội Cảnh sát giao thông, trật tự, cơ động thuộc Công an huyện P phân công tiếp nhận hồ sơ, đăng ký mới và đăng ký lại đối với phương tiện xe mô tô. Trong khoảng thời gian từ năm 2020, Trương Văn T quen biết với Thái Ngọc D do D thường mang xe mô tô đến Đội Cảnh sát giao thông Công an huyện P làm thủ tục đăng ký, đồng thời cũng từ năm 2020 Tươi quen biết với Hồ Ngọc L. Từ năm 2020 – 2021, lợi dụng nhiệm vụ công tác, bị cáo T đã câu kết với Thái Ngọc D, Hồ Ngọc L thực hiện hiệu chỉnh số loại phương tiện đối với 09 (chín) xe mô tô đăng ký lại bằng cách thực hiện lập các thủ tục đăng ký và đăng nhập vào hệ thống dữ liệu phần mềm đăng ký biển số (do Bộ C1 trang cấp) không đúng với hồ sơ gốc, không đúng với phiếu xuất xưởng, cố ý bỏ qua quy trình kiểm tra thực tế xe nhằm hưởng lợi số tiền 3.600.000 đồng. Theo đó, sau khi nhận hồ sơ đăng ký xe từ D và L, sau khi kiểm tra hồ sơ, T phát hiện thông tin số loại trong “giấy khai đăng ký xe” không giống với số loại trên “giấy chứng nhận thu hồi đăng ký, biển số xe”, “Phiếu xuất xưởng” hoặc giấy tờ nguồn gốc xe khác nhưng không yêu cầu D và L chỉnh sửa mà vẫn tiếp nhận hồ sơ, tiếp đó Tươi đăng nhập vào hệ thống dữ liệu phần mềm đăng ký biển số (do Bộ C1 trang cấp) bằng tài khoản của mình là “Văn Tươi 18521”. Khi nhập thông tin trên hệ thống thì hệ thống hiển thị số loại đúng của phương tiện trước đó nhưng T vẫn hiệu chỉnh số loại của phương tiện giống với thông tin mà D và L đã ghi trong “giấy khai đăng ký xe” và cho D, L bấm biển số và ra giấy hẹn nhận giấy chứng nhận đăng ký xe. Trong đó, Trương Văn T giúp Hồ Ngọc L hiệu chỉnh số loại của 03 (ba) xe mô tô, giúp Thái Ngọc D hiệu chỉnh 06 (sáu) xe mô tô. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền truy tố các bị cáo T về tội “Giả mạo trong công tác” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 359 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
[3] Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo Trương Văn T là người đã trưởng thành, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức rõ việc hiệu chỉnh số loại không đúng với hồ sơ gốc, không đúng với phiếu xuất xưởng, cố ý bỏ qua quy trình kiểm tra thực tế xe là vi phạm pháp luật nhưng vì quen biết và vụ lợi nên bị cáo đã hiệu chỉnh số loại từ CYGNUS sang số loại Z125 hoặc ZY125. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội và xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức, gây mất uy tín của Công an huyện P và ảnh hưởng đến công tác quản lý Nhà nước đối với phương tiện giao thông đường bộ nên cần phải xử lý nghiêm. Do đó, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo T có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự nên không có tình tiết tăng nặng.
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo T có thái độ khai báo rõ ràng, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, cho thấy bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải. Trong quá trình công tác bị cáo được tặng thưởng Huân chương chiến sĩ vẻ vang, có nhiều thành tích, gia đình bị cáo có công với cách mạng, bị cáo đã nộp lại tiền thu lợi bất chính nên được xem là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 54 Bộ luật Hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử cũng xem xét tình tiết giảm nhẹ của bị cáo T khi lượng hình.
Đối với đề nghị của Luật sư đề nghị hình phạt của bị cáo ở mức thấp nhất của khung hình phạt liền kề là không có cơ sở xem xét.
[5] Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu sung công các xe vi phạm. Trả lại xe không liên quan đến vụ án.
Tịch thu tiêu hủy các biển kiểm soát và lưu hồ sơ 09 hồ sơ xe, giấy chứng nhận đăng ký xe.
Trách nhiệm dân sự tách ra giải quyết thành vụ kiện dân sự khác khi đương sự có yêu cầu.
[6] Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
*Áp dụng: Điểm a Khoản 3 Điều 359, Điều 38, điểm v, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tuyên bố: Bị cáo Trương Văn T phạm tội “Giả mạo trong công tác”.
Xử phạt: Trương Văn T 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/5/2024.
Về xử lý vật chứng:
*Áp dụng: Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021.
- - Tịch thu sung quỹ nhà nước:
- 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha ZR125, màu xanh, số khung: *LYMTJAA497A318658*, số máy: QMI207318733.
- 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha ZR125, màu vàng, số khung: PMYKEAA427A305251, số máy: QMI207305254.
- + Tiền Việt Nam 3.600.000 đồng (Ba triệu sáu trăm nghìn đồng).
- - Trả lại cho Lê Quốc C 01 xe mô tô hiệu Yamaha CYGNUS Z, tay ga, màu đen, số khung: LYMTJAA427A305251, số máy: ZY151QMI-2*07305254*.
- - Tịch thu tiêu hủy đối với: BKS: 65G1-358.81; BKS: 65G1-358.67;
- - Lưu hồ sơ vụ án: 09 (chín) bộ hồ sơ xe; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số: 002854; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số: 001662 do Trần Hoàng N2 đứng tên giấy chứng nhận đăng ký.
Về trách nhiệm dân sự: Tách yêu cầu trả tiền mua xe của ông Phạm Linh T3, ông Trần Kim Đ, ông Võ Trường D1, ông Nguyễn Thế H6, ông Dương Hoàng M2 thành vụ kiện dân sự khác khi các đương sự có yêu cầu.
Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Trương Văn T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo; kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo để xin Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014.
|
* Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Hà |
Bản án số 36/2024/HS-ST ngày 20/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về giả mạo trong công tác
- Số bản án: 36/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Giả mạo trong công tác
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trương Văn T phạm tội giả mạo trong công tác
