TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH BẮC KẠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 36/2024/HS-ST Ngày 13 - 11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH BẮC KẠN
-
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quang Hoà
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Văn Tuyên và ông Trần Văn Sinh.
-
Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Hoàn, Thư ký Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Bắc Kạn.
-
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Vĩnh Thụy - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 11 năm 2024, tại Hội trường xét xử 1, Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Bắc Kạn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 36/2024/TLST-HS, ngày 24 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Hoàng Văn C (Tên gọi khác: Không); sinh ngày 17 tháng 7 năm 19xx, tại xã H, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn N, xã H, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (Học vấn): Lớp 6/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn Đ (Đã chết) và bà Ngô Thị T; vợ là Hoàng Thị Q (Đã ly hôn) và 01 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/8/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 15 giờ 40 phút ngày 02/8/2024, tại khu vực bến xe khách huyện N thuộc tổ nhân dân B, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Bắc Kạn, tổ công tác Công an huyện N phối hợp với Công an thị trấn Y lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Hoàng Văn C về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ: 01 gói nilon trong suốt có khóa zíp, bên trong có 02 gói giấy có màu sắc, họa tiết, hình dạng khác nhau tại túi quần đằng trước bên phải đang mặc trên người C; bên trong 02 gói giấy này có chứa chất màu trắng dạng bột. Tổ công tác trích một lượng nhỏ chất màu trắng dạng bột của một trong hai gói bất kỳ để thử với thuốc thử ma túy do Bộ Công an cấp, kết quả xác định là ma túy (Heroine). Tổ công tác đã gói lại 02
gói trên như ban đầu và niêm phong trong phong bì kí hiệu A1; tạm giữ, niêm phong trong phong bì ký hiệu K1: 01 bơm kim tiêm đã qua sử dụng loại 3ml/cc thu giữ tại túi quần đằng trước bên trái đang mặc trên người C.
Tại biên bản xét nghiệm chất ma túy lập hồi 18 giờ 30 phút ngày 02/8/2024 đối với Hoàng Văn C có kết quả xét nghiệm: Dương tính (Có sử dụng ma túy Hêrôin).
Hồi 17 giờ 16 phút ngày 02/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã tiến hành mở niêm phong phong bì ký hiệu A1 và cân xác định khối lượng số chất màu trắng dạng bột thu được trên người Hoàng Văn C. Kết quả số chất màu trắng dạng bột trong phong bì kí hiệu A1 có khối lượng là 0,251g. Sau đó tiến hành niêm phong trong phong bì có kí hiệu là B1 để gửi giám định theo quyết định trưng cầu giám định số 274/QĐ-ĐCSHS-KTMT ngày 02/8/2024. Số vật chứng còn lại gồm 01 túi nilon có khóa zíp; 02 tờ giấy; 01 phong bì ký hiệu A1 đã mở niêm phong được cho vào 01 phong bì mới niêm phong ký hiệu B2.
Hồi 17 giờ 05 phút, ngày 02/8/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện N đã thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp số 98/LKX-ĐCSHS-KTMT ngày 02/8/2024 đối với chỗ ở và công trình phụ cận có liên quan của Hoàng Văn C tại thôn N, xã H, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Kết quả khám xét không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Tại Kết luận giám định số 266/KL-KTHS ngày 06/8/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng bột trong phong bì ký hiệu B1 gửi giám định là ma túy; loại Heroine (Heroin) có khối lượng là: 0,251g. Sau giám định, mẫu chất trong phong bì ký hiệu B1 còn lại: 0,190g cùng phong bì, bao gói cũ niêm phong vào phong bì mới ký hiệu T169 hoàn trả lại cho Cơ quan trưng cầu.
Quá trình điều tra, bị cáo Hoàng Văn C khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy đúng như các tài liệu, chứng cứ có hồ sơ vụ án. Cụ thể: Vào trưa ngày 02/8/2024, C mang theo 01 bơm kim tiêm đã qua sử dụng đi nhờ xe mô tô của một người không quen biết từ nhà ở thuộc thôn N, xã H, huyện B, tỉnh Lạng Sơn sang huyện N, tỉnh Bắc Kạn để tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Khi đến khu vực gần chợ Trung tâm thị trấn Y, huyện N thì C xuống xe đi bộ để tìm mua ma túy. Khi đi bộ đến khu vực cổng sau chợ thì C gặp một người nam giới không quen biết có biểu hiện là người nghiện ma túy nên C hỏi mua ma túy với người này với số tiền 170.000₫ thì được người này đồng ý bán và đưa cho C 01 gói nilon trong suốt có khóa zíp, bên trong có 02 gói giấy có chứa chất ma túy. C cất giấu số ma túy mua được vào túi quần bên phải đang mặc rồi di chuyển tìm chỗ sử dụng. Khi đang đi bộ trong khu vực bến xe khách huyện N thì bị Công an huyện N phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ tang vật. C không có tiền án, tiền sự. C có mẹ đẻ là Ngô Thị T từng tham gia kháng chiến chống Mỹ và được hưởng trợ cấp một lần theo Quyết định 142/2008/QĐ-TTg ngày 27/10/2008 của Thủ tướng Chính phủ.
Về vật chứng của vụ án, bao gồm:
- - 01 (Một) phong bì dán kín niêm phong ký hiệu B2, bên trong có 01 túi nilon trong suốt có khóa zíp; 02 mảnh giấy có màu sắc, họa tiết, hình dạng khác nhau; 01 phong bì ký hiệu A1 đã mở niêm phong.
- - 01( một) phong bì dán kín niêm phong ký hiệu T169, bên trong có 0,190g ma túy (Heroine) cùng phong bì, bao gói cũ.
- - 01 phong bì niêm phong ký hiệu K1, bên trong có 01 chiếc bơm kim tiêm loại 3ml/cc đã qua sử dụng.
(Các vật chứng hiện đang tạm giữ và được bảo quản theo quy định).
Tại bản cáo trạng số: 38/CT-VKSNx ngày 23/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Bắc Kạn, truy tố bị cáo Hoàng Văn Cương về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi, động cơ, mục đích phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng mà Viện Kiểm sát đã truy tố. Ngoài ra bị cáo còn khai nhận: Do nghiện ma túy nên đã tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân chứ không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển hay sản xuất ma túy. Ngoài số ma túy bị thu giữ, thì C bị cơ quan chức năng tạm giữ 01 bơm kim tiêm đã qua sử dụng. Ngoài ra không bị thu giữ tài liệu, đồ vật gì khác. C cho biết bản thân là người nghiện ma túy; nghề nghiệp tự do, thu nhập thấp và không ổn định, không có tài sản riêng; gia đình thuộc hộ nghèo, vợ chồng đã ly hôn nên xin được miễn hình phạt bổ sung và án phí hình sự sơ thẩm. Tại phiên tòa và lời nói sau cùng, C đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Bắc Kạn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo cáo trạng. Đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Hoàng Văn C phạm tội “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy". Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:
- - Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Hoàng Văn C từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 02/8/2024;
- - Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo;
- - Xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu huỷ 01 (Một) phong bì dán kín niêm phong ký hiệu B2; 01( một) phong bì dán kín niêm phong ký hiệu T169; 01 phong bì niêm phong ký hiệu K1.
- - Án phí: Miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an huyện Na Rì, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Na Rì, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra và tranh tụng tại phiên tòa. Như vậy có đủ cơ sở kết luận:
Bản thân bị cáo Hoàng Văn C là người nghiện ma túy nên đã tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho bản thân chứ không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo đã bị tổ công tác của Công an huyện N, phát hiện và lập biên bản phạm tội quả tang vào hồi 15 giờ 40 phút ngày 02/8/2024, tại khu vực bến xe khách huyện N, thuộc tổ nhân dân B, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Bắc Kạn. Khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ trái phép là 0,251g ma túy, loại heroine.
Do vậy, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo Hoàng Văn C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Điều luật có nội dung:
"1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
...c) Heroine, có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
...5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản;
[3] Về các tình tiết quyết định mức hình phạt:
[3.1] Về tính chất mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và thực hiện với lỗi cố ý. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an ở địa phương.
[3.2] Về nhân thân: Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Tiền án, tiền sự: Không.
[3.3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có mẹ đẻ là Ngô Thị T đã từng tham gia kháng chiến chống Mỹ và được
hưởng trợ cấp một lần đối với người tham gia kháng chiến chống mỹ cứu nước theo Quyết định số 142/2008/QĐ-TTg ngày 27/10/2008 của Thủ tướng Chính phủ nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; kết quả tranh tụng tại phiên tòa và quy định của Bộ luật hình sự, HĐXX xét thấy: Cần áp dụng biện pháp cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mới đảm bảo tính giáo dục, răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung; tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo thuộc hộ nghèo và không có tài sản riêng; không có quyền sử dụng đất theo biên bản xác minh lập ngày 30/9/2024 của Cơ quan CSĐT Công an huyện N với UBND xã H, huyện Ba, tỉnh Lạng Sơn. Ngoài ra, bản thân bị cáo là người nghiện ma túy, làm nghề tự do, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là có cơ sở.
[4] Về vấn đề khác:
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Hoàng Văn C, do không xác định lai lịch của người đàn ông này nên Cơ quan CSĐT Công an huyện N không đủ cơ sở để điều tra xử lý là đúng quy định của pháp luật.
[5] Về xử lý vật chứng:
- - 01( một) phong bì dán kín niêm phong ký hiệu T169 (Bên trong có 0,190g ma túy (Heroine) là vật Nhà nước cấm lưu hành và đã được giám định theo tố tụng hình sự cùng phong bì, bao gói cũ); 01 (Một) phong bì dán kín niêm phong ký hiệu B2 (Bên trong có 01 túi nilon trong suốt có khóa zíp + 02 mảnh giấy có màu sắc, họa tiết, hình dạng khác nhau + 01 phong bì ký hiệu A1 đã mở niêm phong); 01 phong bì niêm phong ký hiệu K1 (Bên trong có 01 chiếc bơm kim tiêm loại 3ml/cc đã qua sử dụng) là vật chứng của vụ án liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần tịch thu tiêu hủy.
(Số lượng, hiện trạng, đặc điểm vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 28/10/2024 giữa Công an huyện N với Chi cục thi hành án dân sự huyện N).
[6] Về án phí: Bị cáo thuộc đối tượng được miễn giảm tiền án phí và có đơn xin miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm nên xét thấy cần miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[8] Quan điểm truy tố, điều luật áp dụng, mức hình phạt và các biện pháp tư pháp của Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng đối với bị cáo là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; 47; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Căn cứ các Điều 106, 329, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Căn cứ điểm đ, khoản 1 Điều 12, Điều 14 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:
[1] Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn C (Tên gọi khác: Không) phạm tội “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- - Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Hoàng Văn Cương 16 (Mười sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 02/8/2024.
- Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.
- - Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo Hoàng Văn C.
[2] Về xử lý vật chứng:
Tịch thu, tiêu hủy: 01(Một) phong bì dán kín niêm phong ký hiệu T169 (Bên trong có 0,190g ma túy (Heroine) cùng phong bì, bao gói cũ); 01 (Một) phong bì dán kín niêm phong ký hiệu B2 (Bên trong có 01 túi nilon trong suốt có khóa zíp + 02 mảnh giấy có màu sắc, họa tiết, hình dạng khác nhau + 01 phong bì ký hiệu A1 đã mở niêm phong); 01 phong bì niêm phong ký hiệu K1 (Bên trong có 01 chiếc bơm kim tiêm loại 3ml/cc đã qua sử dụng).
(Số lượng, hiện trạng, đặc điểm vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 28/10/2024 giữa Công an huyện N với Chi cục thi hành án dân sự huyện N).
[3] Về án phí: Miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Hoàng Văn C.
[4] Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo có mặt, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án../.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) TRẦN QUANG HÒA |
Bản án số 36/2024/HS-ST ngày 13/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH BẮC KẠN về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 36/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH BẮC KẠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
