Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HƯƠNG KHÊ

TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2024/HS-ST

Ngày 30 - 10 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG KHÊ, TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Mai Liên và ông Phạm Ngạch .

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Bích Khuyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Vĩnh - Kiểm sát viên.

Ngày 30/10/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 33/2024/TLST-HS ngày 09/10/2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2024/QĐXXST-HS ngày 16/10/2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Quốc K, (Tên gọi khác: Không), sinh ngày: 02/01/1997, tại xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: Thôn A T, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Nhân viên đường sắt; trình độ học vấn 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Quốc S, sinh năm 1973 và bà Mai Thị T, sinh năm 1974; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/7/2024 đến nay; hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện H; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Quốc S, sinh năm 1973; nghề nghiệp: Làm ruộng; địa chỉ thôn A T, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình; có mặt.

- Người chứng kiến: Anh Phan Duy H, sinh năm 1987; địa chỉ thôn E, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Quốc K là nhân viên đường sắt tại ga K thuộc xã K, huyện T, tỉnh Quảng Bình. Trong quá trình làm việc K có sử dụng ma túy hồng phiến và vào đầu năm 2024 K có quen một người đàn ông giới thiệu tên là T1, trú tại L thuộc xã H, huyện H. Quá trình quen biết thì K có nói cho T1 biết về việc mình sử dụng ma túy và T1 có vay của K số tiền 300.000đ để chi tiêu.

Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 03/7/2024, K đang ở nhà thì T1 sử dụng số điện thoại 0378.550.xxx gọi vào số 0964835763 của K. Qua trao đổi T1 muốn dùng ma túy dạng hồng phiến để trả nợ thay số tiền 300.000₫ đã vay của K trước đó, thì K đồng ý lấy ma túy để sử dụng. T1 hẹn K đi đến khu vực sân bóng xã H, huyện H rồi T sẽ chỉ vị trí để K lấy ma túy. Sau đó K sử dụng xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen, biển kiểm soát 73N5-8961 của bố là ông Nguyễn Quốc S đi đến điểm hẹn. Theo chỉ dẫn của T1, K đi đến khu vực để ống cống của công trình đang thi công gần sân bóng của xã H thì tìm thấy một gói giấy. K mở ra thấy bên trong được quấn bằng băng dính màu xanh, biết bên trong có chứa ma túy hồng phiến T1 trả nợ thay số tiền vay trước đó nên K đã cầm lấy rồi điều khiển xe đi về. Đến khoảng 10 giờ 45 phút cùng ngày, khi đi đến khu vực gác chắn đường sắt bắc nam đoạn qua thôn A, xã H, huyện H thì bị Tổ công tác công an huyện H phối hợp công an xã H yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Biết được hành vi tàng trữ chất ma túy của mình là vi phạm pháp luật nên K đã tự nguyện đưa gói ma túy được quấn bằng băng keo màu xanh giao nộp cho Tổ công tác. Khi mở lớp băng keo màu xanh ra thấy bên trong là một lớp ni lông màu đen, bên trong lớp ni lông có chứa 06 viên nén màu hồng, hình tròn, trên mỗi viên đều có ký hiệu “WY”, K khai nhận là ma túy hồng phiến K vừa tìm lấy theo sự hướng dẫn của người đàn ông tên T1 đưa về để sử dụng. Lực lượng làm nhiệm vụ đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng để trưng cầu giám định theo quy định.

Kết luận giám định số 928/KL-KTHS ngày 12/9/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh H, kết luận: 06 viên nén màu hồng, hình tròn, trên mỗi viên có ký hiệu “WY” được thu giữ và niêm phong trong bì thư ký hiệu M gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,5858 gam.

Vật chứng, tài sản thu giữ, xử lý: Cơ quan CSĐT Công an huyện H đã thu giữ 06 viên nén màu hồng, trên mỗi viên có ký hiệu “WY” có khối lượng 0,5858 gam, sau khi lấy mẫu giám định 02 viên có khối lượng 0,1926 gam, còn lại 04 viên; 01 điện thoại di động Iphone XS Max màu đen, màn hình bị vỡ, số Imei 357308093318646, lắp sim điện thoại số 0964.835.xxx; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen, số máy 143992, số khung 143992, biển kiểm soát 73N5-8961 và 01 giấy đăng ký xe mô tô mang tên Nguyễn Quốc S. Cơ quan CSĐT đã trả lại xe mô tô cùng giấy đăng ký xe biển kiểm soát 73N5-8961 cho chủ sở hữu ông Nguyễn Quốc S. Số vật chứng, tài sản còn lại được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hương Khê bảo quản chờ xử lý.

Tại cáo trạng số 35/CT-VKS-HK ngày 08/10/2024 của Viện trưởng VKSND huyện Hương Khê truy tố Nguyễn Quốc K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Nguyễn Quốc K khai nhận về hành vi của mình như nội dung cáo trạng truy tố. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo nhận thức được sai phạm, thể hiện sự hối hận, xin giảm nhẹ hình phạt để an tâm cải tạo sớm trở về hòa nhập cộng đồng.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Quốc K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù; đề nghị xử lý vật chứng tịch thu, tiêu hủy số ma túy và tịch thu sung nhà nước 01 điện thoại di động Iphone XS Max của bị cáo; buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Quốc K tự nguyện khai nhận hành vi phạm tội của mình. Đối chiếu lời khai nhận tội của bị cáo với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu, kết luận giám định và tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án là phù hợp, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Vào lúc 10 giờ 45 phút ngày 03/7/2024, tại khu vực gác chắn đường sắt bắc nam thuộc thôn A, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh, Nguyễn Quốc K đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,5858 gam ma túy, loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng thì bị Tổ công tác Công an huyện H phối hợp với Công an xã H phát hiện bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Hương Khê truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tàng trữ chất ma túy là vi phạm pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội và ảnh hưởng xấu đến đời sống xã hội. Do đó, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đảm bảo tính giáo dục, răn đe và phòng ngừa loại tội phạm về ma túy.

[4] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội, thể hiện sự ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự tại Lữ đoàn 189 thuộc Q; có cha là ông Nguyễn Quốc S được Bộ tặng Kỷ niệm chương vì chủ quyền an ninh biên giới, được Bộ trưởng Bộ C tặng Kỷ niệm chương bảo vệ an ninh tổ quốc và được tặng nhiều giấy khen...; có mẹ là bà Mai Thị T được Bộ trưởng Bộ G và đào tạo tặng Kỷ niệm chương vì sự nghiệp giáo dục, nhiều năm được tặng danh hiệu chiến sỹ thi đua cơ sơ, chiến sỹ thi đua cấp tỉnh, được tặng nhiều bằng khen..., nên xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ khác quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; đồng thời, trong thời gian tạm giam bị cáo phải điều trị bệnh tràn dịch hai khớp gối tại cơ sở Y. Do đó, hội đồng xét xử xét thấy cần xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo an tâm cải tạo, giáo dục sớm trở về hòa nhập cộng đồng xã hội.

[5] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đề nghị về tội danh truy tố, điều luật áp dụng, mức hình phạt, biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì ngoài hình phạt chính bị cáo có thể bị áp dụng một số hình phạt bổ sung. Xét thấy bị cáo mục đích tàng trữ ma túy để sử dụng, không có tư lợi, hành vi phạm tội không liên quan đến việc đảm nhiệm chức vụ, hành nghề... do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Các biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

Đối với 04 viên nén hình tròn, màu hồng, trên bề mặt có ký hiệu “WY”, có khối lượng 0,3932 gam ma túy loại Methamphetamine (còn lại sau giám định) là chất cấm tàng trữ lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy theo điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với chiếc điện thoại di động Iphone XS Max màu đen, màn hình bị vỡ, số Imei 357308093318646, lắp sim điện thoại số 0964.835.xxx của bị cáo là công cụ, phương tiện dùng vào phạm tội và tài sản hiện còn giá trị, do đó cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự.

Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô cùng giấy đăng ký xe biển kiểm soát 73N5-8961 cho chủ sở hữu hợp pháp ông Nguyễn Quốc S là có căn cứ, không ai có ý kiến khiếu nại, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Liên quan đến vụ án, đối với ông Nguyễn Quốc S là chủ sở hữu xe mô tô biển kiểm soát 73N5-8961 mà bị cáo sử dụng đi lấy ma túy, ông S không biết nên Cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm là đúng pháp luật. Đối với người đàn ông tên T1 đã sử dụng số điện thoại 0378.550.xxx để liên lạc trao đổi ma túy với bị cáo, Cơ quan điều tra đã xác minh trên địa bàn xã H, huyện H có anh Lê Văn T1, sinh năm 1989, trú tại thôn N, xã H; tuy nhiên, anh Lê Văn T1 khai không biết và cũng không có quan hệ với bị cáo K và cơ quan điều tra đã tiến hành nhận dạng qua ảnh nhưng bị cáo cũng không nhận dạng được hình ảnh của anh T1 nên không có căn cứ xử lý. Đối với số thuê bao di động 0378550383, Cơ quan điều tra đã nhiều lần gửi văn bản đến các bộ phận của Tập đoàn C1 nhưng vẫn không có kết quả trả lời nên hiện chưa đủ cơ sở để xử lý, khi có kết quả trả lời đề nghị cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ, xử lý theo quy định.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 136, khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc K 13 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/7/2024.

3. Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì thư được niêm phong bên trong có 01 túi ni lông chứa 04 viên nén hình tròn, màu hồng, trên bề mặt có ký hiệu “WY” có khối lượng 0,3932 gam ma túy Methamphetamine. Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Iphone XS Max màu đen, màn hình bị vỡ, số Imei 357308093318646, lắp sim điện thoại số 0964.835.xxx.

(Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/10/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hương Khê).

4. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Nhà tạm giữ CA huyện Hương Khê;
  • - VKSND huyện Hương Khê;
  • - CQĐT CA huyện Hương Khê;
  • - Chi cục THADS huyện Hương Khê;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh
  • - TAND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Lưu HSVA - VPTA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Thanh Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 36/2024/HS-ST ngày 30/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG KHÊ, TỈNH HÀ TĨNH về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 36/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG KHÊ, TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Q K phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger