Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỘI AN

TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2024/HS.ST Ngày 02-8-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỘI AN, TỈNH QUẢNG NAM

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Bích Hà.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Phạm Thị Kim Loan.
  2. Ông Nguyễn Tấn Thành.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn, Thẩm tra viên Toà án nhân dân thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quyền, Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 35/2024/TLST-HS ngày 05/6/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2024/QĐXXST-HS ngày 04/7/2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 02/2024/QĐST-HS ngày 17/7/2024, đối với bị cáo:

Trần Thanh C, sinh ngày 05/01/1976; tại thành phố H, tỉnh Quảng Nam; nơi cư trú: Tổ C, khối T, phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Thanh M (sinh năm 1962) và bà Tiêu Thị Tố N (đã chết); bị cáo có vợ: Ngô Thị Hồng T (sinh năm 1977) và 03 con (con lớn nhất sinh năm 1994, nhỏ nhất sinh năm 2010); tiền án: không; tiền sự: ngày 14/9/2023, bị Công an thành phố H xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.250.000 đồng, phạt bổ sung 1.512.000 đồng về hành vi "trộm cắp tài sản”; nhân thân: ngày 19/4/1993, bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng xử phạt 09 (Chín) tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”; ngày 20/10/1997, bị Tòa án nhân tối cao tại Đà Nẵng xử phạt 36 (Ba mươi sáu) tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” và “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; ngày 30/8/2018: bị Công an thị xã Đ xử phạt vi phạm hành chính số tiền 3.500.000 đồng về hành vi: “Cố ý làm hư hỏng tài sản”; ngày 09/01/2019: bị Công an phường T, thành phố H xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi:“sử dụng trái phép chất ma tuý”;ngày 10/7/2019, bị Công an thành phố H xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “trộm cắp tài sản”; ngày 29/01/2021: bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh Q xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi “sử dụng trái phép chất ma tuý”; ngày 22/12/2023, bị Tòa án nhân dân thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam xử phạt 06 (S) tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”; ngày 29/02/2024, bị Công an thành phố H xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “sử dụng trái phép chất ma tuý”.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 25/12/2023, chuyển sang tạm giam từ ngày 31/12/2023 đến nay tại Nhà tạm giữ thuộc Công an thành phố H, tỉnh Quảng Nam. Có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Lê Văn A, Văn phòng Luật sưLê Văn Anh thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Đ. (Có mặt). Địa chỉ: Số A đường C, thị trấn N, huyện N, tỉnh Quảng Nam.

Bị hại:

  1. Bà Phạm Thị Như Ý, sinh năm 1987. (Vắng mặt) Nơi cư trú: Tổ 2, khối T, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam.
  2. Bà Trần Phạm Trúc N1, sinh năm 1995. (Vắng mặt) Nơi cư trú: K T, tổ C, phường H, quận H, Thành phố Đà Nẵng.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Bà Ngô Thị Hồng T, sinh năm 1976. (Có mặt). Nơi cư trú: tổ C, khối T, phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Nam.

Người làm chứng:

  1. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1995. (Vắng mặt) Nơi cư trú: Tổ 9, khối X, phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Nam.
  2. Bà Trần Thị Mỹ L, sinh năm 1972. (Có mặt). Nơi cư trú: 54 Đ, khối X, phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Nam.
  3. Bà Trần Thị Bích T1, sinh năm 1983. (Có mặt). Nơi cư trú: Tổ G, thôn V, xã C, thành phố H, tỉnhQuảng N2.
  4. Bà Võ Thị L1, sinh năm 1986. (Vắng mặt) Nơi cư trú: Tổ A, thôn Đ, xã C, thành phố H, tỉnhQuảng N2.
  5. Bà Phạm Thị Thu Đ, sinh năm 1983. (Vắng mặt) Nơi cư trú: 118 N, tổ A, khối T, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam.
  6. Bà Ngô Thị B, sinh năm 1979. (Vắng mặt) Nơi cư trú: 118 N, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam.
  7. Ông Trần Công Thanh H1, sinh năm 1974. (Vắng mặt) Nơi cư trú: Tổ A, thôn Đ, xã C, thành phố H, tỉnhQuảng N2.
  8. Ông Nguyễn Văn L2, sinh năm 1986. (Vắng mặt) Nơi cư trú: Tổ A, thôn Đ, xã C, thành phố H, tỉnhQuảng N2.
  9. Ông Lương T2, sinh năm 1977. (Vắng mặt) Nơi cư trú: Khối T, phường T, thành phố H, tỉnhQuảng N2.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ ngày 12/11/2023 đến ngày 25/12/2023, Trần Thanh C đã thực hiện 02 (Hai) vụ trộm cắp tài sản, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng 07 giờ 00 ngày 12/11/2023, Trần Thanh C điều khiển xe môtô Honda SH Mode BKS: 92C1-354.85 đi từ nhà mang chả đến giao cho chị Trần Thị Bích T1. Sau khi giao chả xong, C điều khiển xe môtô trên đường T, lúc này C nhìn thấy xe môtô của chị Phạm Thị Như Ý có treo 01 túi xách không có sự quản lý nên C lén lút lấy tài sản trên và điều khiển xe chạy đi. Khoảng 15 phút sau, C cầm túi xách đến gặp chị T1 và nói “Em cầm giùm cái giỏ xách chặp có bé nào hỏi thì đưa giùm anh cái”, nhưng chị T1 từ chối thì C chạy đến quán cà phê T3 9 gặp anh Trần Công Thanh H1. Tại đây, anh H1 thấy trên xe môtô của C có treo 01 (Một) túi xách, nên anh H1 hỏi C: “Anh đi đâu mà đem theo túi xách rửa”, C trả lời: “Đi bỏ chả dưới chợ, thấy con em để túi xách trên xe sợ họ lấy, cất giúp”, nghe vậy anh H1 không hỏi gì thêm. Sau đó, C chạy xe xuống xã C gặp một người tên Đ1 thì xe hết xăng, nên C cầm theo túi xách đi nhờ xe máy của người đi đường (không rõ nhân thân lai lịch) đến chân cầu T, phường C rồi xuống xe. Tiếp đó, C đi bộ đến nhà chị ruột của chị Ý là chị Phạm Thị Thu Đ để gặp chị Đ nhờ đưa lại túi xách cho chị Ý nhưng không có ai ở nhà, C ngồi trước cổng nhà chờ. Một lúc sau, chị Ngô Thị B thấy đi ngang qua thấy C nên hỏi ngồi làm gì, C trả lời đến tìm chị Đ để gửi túi xách cho chị Ý, lúc này chị B nói gửi cho ai đó rồi đi về, C nói không có ai để gửi và nói mượn chị B số tiền 1.000.000 đồng. C chờ thêm khoảng 05 phút nữa vẫn không thấy chị Đ về nhà nên đem túi xách bỏ vào 01 (Một) thùng nhựa màu đỏ trên sân nhà chị Đ, đậy nắp thùng lại rồi đi bộ về nhà. Đến khoảng 12 giờ 00 cùng ngày, C đi bộ đến lại nhà chị Đ mở nắp thùng nhựa màu đỏ trên sân lấy túi xách da mà C đã bỏ vào trước đó cầm qua gặp chị Đ, C đưa túi xách cho chị Đ và nói nhờ chị Đ gửi túi xách giúp cho chị Y. Khoảng 30 phút sau, chị Đ mở túi xách ra kiểm tra thấy bên trong có 01 (Một) điện thoại di động IPhone 13, 01 (Một) điện thoại di động N3, 01 (Một) ví da bên trong ví có 01 thẻ căn cước công dân mang tên Phạm Thị Như Ý, 02 (Hai) thẻ ngân hàng và số tiền 320.000 đồng. Đến khoảng 17 giờ 00 cùng ngày, chị Ý nghe thông tin chị Đ đang giữ túi xách của mình nên đến nhà gặp chị Đ, chị Đ đưa lại túi xách chứa toàn bộ tài sản bên trong cho chị Ý. Sau đó chị Ý đến Công an phường M khai báo và giao nộp túi xách cùng toàn bộ tài sản bên trong túi xách.

Vụ thứ hai: Vào khoảng 09 giờ 15 phút ngày 25/12/2023, chị Trần Phạm Trúc N1 điều khiển xe mô tô dựng trước quán bún riêu H2; chị N1 móc một chiếc ba lô bên trong có 01 (Một) chiếc máy tính xách tay và các vật dụng khác trên sàn để chân của xe rồi vào trong quán ăn. Lúc này, Trần Thanh C cũng vừa điều khiển xe môtô SH150 màu đen xám BKS: 92C1-151.61 (xe này do C đứng tên chủ sở hữu) đến quán bún H2 để mua bún. C nhìn thấy chiếc ba lô màu đen để trên sàn để chân của xe môtô của chị N1; quan sát không thấy ai để ý, C lấy chiếc ba lô, để trên sàn để chân xe môtô SH của mình và điều khiển về nhà. Tại đây, C mở ba lô thấy bên trong có 01 (Một) máy tính xách tay, 01 (Một) bộ sạc, 01 (Một) chuột máy tính, 01 (Một) cục sạc dự phòng điện thoại, 01 (Một) bộ sạc điện thoại di động Iphone. C để máy tính xách tay vào lại ba lô, các đồ vật còn lại C bỏ vào túi ni lông màu đỏ đựng bún trước đó để trong nhà. Đến 16 giờ 00 cùng ngày, C lấy túi ni lông chứa các đồ vật trên bỏ vào cốp xe môtô SH, lấy máy tính xách tay để trên sàn để chân của xe này, còn ba lô da C bỏ vào một cái loa thùng đã hỏng để trong nhà rồi điều khiển xe môtô SH về nơi ở tại tổ C, khối T, phường T, thành phố H. Khi C vừa điều khiển xe đến nhà thì bị Công an phường C, thành phố H lập biên bản và tạm giữ tài sản, đồ vật liên quan.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 80/KL-ĐGTS ngày 22/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố H kết luận: 01 (Một) điện thoại di động iPhone 13, màu xanh, số máy MLPK3VN/A, số IMEI 354789233165414 có giá trị là 12.000.000 đồng; 01 (Một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, loại có bàn phím bấm, số sêri 353846501326390 có giá trị là 150.000 đồng; 01 (Một) cái ví bằng da màu đà, loại ví gấp, kích thước khi gấp lại 10,5cm x 7,5cm, trên ví có chữ NHƯ Ý có giá trị là 25.000 đồng; 01 (Một) túi xách bằng da màu đen, hình hộp chữ nhật kích thước 20cm x11cm x 04 cm có giá trị là 60.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt theo định giá là: 12.235.000 đồng (Mười hai triệu hai trăm ba mươi lăm nghìn đồng).

Tại Bản Kết luận định giá tài sản số: 87/KL-ĐGTS ngày 28/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tại thành phố H kết luận: 01 (Một) balo da PU loại Blackpack có giá trị 195.000 đồng; 01 (Một) máy tính xách tay màu bạc hiệu Dell Inspiron 13 5310 core i5, ram 16GB, màn hình 13.3 inch và sạc kèm theo có giá trị 13.200.000 đồng; 01 (Một) cục sạc nhanh hiệu Belkin loại 25W có giá trị 350.000 đồng; 01 (Một) cáp sạc hiệu Apple loại 01m có giá trị 798.000 đồng; 01 (Một) pin sạc dự phòng Quick Charge L3-polymer 1000mAH UMETRAVEL TRIP 1000 có giá trị 320.000 đồng; 01 (Một) chuột máy tính không dây quang hiệu Microsoft 1850 có giá trị 265.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt theo định giá là: 15.128.000 đồng (Mười lăm triệu một trăm hai mươi tám nhìn đồng).

Tại Cáo trạng số: 28/CT-VKSHA-HS ngày 04 tháng 6 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hội An đã truy tố bị cáo Trần Thanh C về tội: “Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa hôm nay, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Trần Thanh C từ 09 (Chín) đến 12 (Mười hai) tháng tù. Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015, tổng hợp hình phạt của Bản án Hình sự sơ thẩm số: 59/2023/HS- ST ngày 22/12/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 (Hai) bản án. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (25/12/2023). Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: Lưu kèm hồ sơ vụ án 01 (Một) USB và 01 (Một) đĩa DVD lưu lại hình ảnh về thời gian, địa điểm và hành vi phạm tội của Trần Thanh C; 02 (Hai) đĩa DVD ghi âm hỏi cung bị can Trần Thanh C; Tiêu hủy 01 (Một) bao ni lông màu đỏ đã qua sử dụng mà bị cáo Trần Thanh C dùng để chứa các tài sản lấy trộm của chị Trần Phạm Trúc N1; tuyên tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda SH150 BKS: 92C1-15161 kèm chìa khóa xe là xe của bị cáo Trần Thanh C sử dụng làm phương tiện phạm tội; tuyên trả lại cho bà Ngô Thị Hồng T 01 (Một) ví màu nâu có kích thước (27x16,5) cm, đã qua sử dụng; 01 (Một) điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh, không gắn sim, đã qua sử dụng, hiện không còn hoạt động; 01 (Một) điện thoại di động hiệu Oppo màu đen, không gắn sim, đã qua sử dụng, hiện không còn hoạt động; 01 (Một) đồng hồ đeo tay bằng kim loại màu vàng, trên mặt đồng hồ có chữ FALON QUAKTZ, đã qua sử dụng, hiện không còn hoạt động; 01 (Một) đồng hồ đeo tay bằng kim loại màu bạc trên mặt đồng hồ có chữ SUNRISE, đã qua sử dụng, hiện không còn hoạt động. Về trách nhiệm dân sự, bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Bị cáo Trần Thanh C thống nhất với nội dung cáo trạng, thừa nhận hành vi phạm tội mà mình đã gây ra, rất ăn năn hối lỗi; đồng thời mong Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Luật sư Lê Văn A bào chữa cho bị cáo thống nhất tội danh và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ mà Kiểm sát viên đã đề nghị. Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo thực hiện hành vi phạm tội trong hoàn cảnh sốc tâm lý do liên tiếp bị mất đi hai người thân là tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và đề nghị cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất có thể. Bị hại, bà Phạm Thị Như Ý tuy vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Tại phiên tòa, bị hại và người làm chứng đều vắng mặt. Hội đồng xét xử thấy rằng những người này đã được lấy lời khai và sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ Điều 292 và Điều 299 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hội An và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đều đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Trong quá trình điều tra và truy tố, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Lời khai của bị cáo Trần Thanh C tại phiên tòa phù hợp với chứng cứ, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, của những người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở đểxác định:

Vào sáng ngày 12/11/2023, lợi dụng sơ hở của bà Phạm Thị Như Ý trong lúc dựng xe mô tô để mua hàng tại trước nhà số B T, phường M, thành phố H, bị cáo Chung đã lấy trộm chiếc túi xách của bà Ý đang đeo trên xe mô tô; bên trong chiếc túi xách có tiền và các tài sản có giá trị khác có tổng giá trị là 12.555.000 đồng (Mười hai triệu năm trăm năm mươi lăm nghìn đồng).

Vào sáng ngày 25/12/2023, lợi dụng bà Trần Phạm Trúc N1 dựng xe mô tô để trước quán bún riêu H2 số 14 T, tổ D, khối X, phường C, thành phố H, bị cáo Chung đã lấy trộm chiếc ba lô của bà N1 đang để trên xe mô tô, bên trong chiếc ba lô có 01 (Một) chiếc máy tính xách tay và các vật dụng khác. Tổng giá trị tài sản mà C trộm cắp của bà N1 là 15.128.000 đồng (Mười lăm triệu một trăm hai mươi tám nhìn đồng).

Như vậy hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hội An.

[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáothì thấy: Tội phạm mà bị cáo gây ra xâm phạm tài sản của công dân được Nhà nước và pháp luật bảo vệ. Bị cáo Trần Thanh C đã nhận thức được rằng việc chiếm đoạt tài sản của người khác là trái pháp luật. Tuy nhiên do lòng tham nên bị cáo vẫn bất chấp thực hiện hành vi bị pháp luật nghiêm cấm. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thì thấy:

[4.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo “phạm tội 02 lần trở lên” nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:

Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Bị cáo đã tự mang tài sản trộm cắp trả lại cho bị hại, bà Phạm Thị Như Ý . Ngoài ra, bị cáo có hoàn cảnh gia đình thương tâm và được bị hại, bà Phạm Thị Như Ý có đơn xin giảm nhẹ hình phạt. Do đó, bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017), như đề nghị của của người bào chữa, Luật sư Nguyễn Văn A1.

Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân xấu, nhiều lần bị Tòa án xử phạt về tội: "Trộm cắp tài sản" và bị xử phạt vi phạm hành chính về các hành vi: “sử dụng trái phép chất ma túy”; “cố ý làm hư hỏng tài sản”; “trộm cắp tài sản”, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học kinh nghiệm cho bản thân mà lại tiếp tục vi phạm. Điều này thể hiện bị cáo xem thường pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn mới tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo; nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[4.3] Về tổng hợp hình phạt:

Ngoài ra, ngày 22/12/2023, bị cáo Trần Thanh C bị Tòa án nhân dân thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam tuyên phạt 06 (S) tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” theo Bản án Hình sự sơ thẩm số: 59/2023/HS-ST. Do đó, cần áp dụng khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), tổng hợp hình phạt của hai bản án, buộc bị cáo Chung phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án.

[4.4] Về hình phạt bổ sung:

Do bị cáo là lao động phổ thông, có thu nhập thấp, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về xử lý vật chứng:

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015: Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa là có căn cứ nên cần chấp nhận.

Ngoài ra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã ban hành các Quyết định xử lý vật chứng số: 52A/QĐ-CSĐT ngày 07/12/2023, trả lại cho bị hại Phạm Thị Như Ý: 01 (Một) túi xách bằng da màu đen, hình hộp chữ nhật kích thước 20cm x 11cm x 04cm; 01 (Một) điện thoại di động iPhone 13, màu xanh; 01 (Một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen; 01 (Một) cái ví bằng da màu đà, loại ví gấp, kích thước khi gấp lại 10,5cm x 7,5cm, trên ví có chữ NHƯ Ý; số tiền 320.000 đồng (Ba trăm hai mươi nghìn đồng) gồm: 06 (Sáu) tờ tiền polyme mệnh giá mỗi tờ 50.000 đồng và 02 (Hai) tờ tiền polyme mệnh giá mỗi tờ 10.000 đồng; 01 (Một) thẻ Ngân hàng N4, màu xanh, trên thẻ có chữ PHAM THỊ NHU Y, số 9704 0530 4803 5231; 01 (Một) thẻ Ngân hàng N5, màu xanh, trên thẻ có chữ PHAM HUU THIEN, số 9704 0530 6293 1208 và 01 (Một) thẻ căn cước công dân mang tên Phạm Thị Như Ý; Quyết định xử lý vật chứng số: 08/QĐ ngày 02/01/2024, trả lại cho bị hại Trần Phạm Trúc N1: 01 (Một) ba lô da PU màu đen, 01 (Một) máy tính xách tay màu bạc hiệu Dell; 01 (Một) bộ sạc máy tính xách tay hiệu Dell; 01 (Một) chuột máy tính không dây quang hiệu Microsoft 1850 màu hồng; 01 (Một) bộ sạc điện thoại di động Iphone; 01 (Một) pin sạc dự phòng Quick Charge màu đen là đúng quy định.

[7] Về án phí:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Về các vấn đề khác có liên quan:

Quá trình điều tra, bị cáo Trần Thanh C khai nhận: vào khoảng 18 giờ 00 ngày 22/12/2023, tại Nghĩa trang N6, bị cáo đã mua 300.000 đồng ma tuý đá của một người đàn ông không rõ lai lịch rồi sử dụng hết một mình. Do không xác minh làm rõ nhân thân, lý lịch của người đàn ông này nên Cơ quan CSĐT Công an thành phố H không có cơ sở để điều tra, xử lý về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”. Riêng hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo Chung, qua kết quả thử nước tiểu xác định C dương tính với ma túy loại Methamphetamine, Cơ quan CSĐT chuyển hồ sơ liên quan đến Công an thành phố H xử lý hành chính theo quy định là đúng pháp luật.

Đối với xe mô tô Honda SH Mode màu đỏ nâu, BKS: 92C1-354.85 do bà Ngô Thị Hồng T đứng tên trên giấy chứng nhận đăng ký xe, đây là tài sản riêng của bà T; bà T không biết C sử dụng chiếc xe này để thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, không thu giữ chiếc xe mô tô Honda SH Mode, BKS: 92C1-354.85 của bà T là phù hợp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Trần Thanh C phạm tội: "Trộm cắp tài sản".

[2] Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Trần Thanh C 12 (Mười hai) tháng tù.

Áp dụng khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tổng hợp hình phạt 06 (S) tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” theo Bản án Hình sự sơ thẩm số: 59/2023/HS-ST ngày 22/12/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam.

Buộc bị cáo Trần Thanh C phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là: 18 (Mười tám) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo Trần Thanh C bị bắt tạm giữ, tạm giam (25/12/2023).

[3] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015.

Tuyên lưu kèm hồ sơ vụ án 01 (Một) USB, 01 (Một) đĩa DVD và 02 (Hai) đĩa DVD ghi âm hỏi cung bị cáo Trần Thanh C.

T4 trả lại cho bà Ngô Thị Hồng T 01 (Một) ví màu nâu có kích thước (27x16,5) cm, đã qua sử dụng; 01 (Một) điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh, không gắn sim, đã qua sử dụng, hiện không còn hoạt động; 01 (Một) điện thoại di động hiệu Oppo màu đen, không gắn sim, đã qua sử dụng, hiện không còn hoạt động; 01 (Một) đồng hồ đeo tay bằng kim loại màu vàng, trên mặt đồng hồ có chữ FALON QUAKTZ, đã qua sử dụng, hiện không còn hoạt động; 01 (Một) đồng hồ đeo tay bằng kim loại màu bạc trên mặt đồng hồ có chữ SUNRISE, đã qua sử dụng, hiện không còn hoạt động.

Tuyên tịch thu và tiêu hủy 01 (Một) bao ni lông màu đỏ đã qua sử dụng.

Tuyên tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda SH150 BKS: 92C1-151.61 kèm chìa khóa xe của bị cáo Trần Thanh C sử dụng làm phương tiện phạm tội;

(Vật chứng hiện đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Hội An theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 06/6/2024).

[4] Về Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Trần Thanh C phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Trần Thanh C, bà Võ Thị Hồng T5 có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (02/8/2024). Những người có quyền kháng cáo vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Nam;
  • - VKSND thành phố Hội An;
  • - Công an thành phố Hội An;
  • - Sở tư pháp tỉnh Quảng Nam;
  • - Cục THA tỉnh Quảng Nam;
  • - Chi cục THA DS thành phố Hội An;
  • - Thành phần tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS, án văn, THA.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 36/2024/HS.ST ngày 02/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỘI AN, TỈNH QUẢNG NAM về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 36/2024/HS.ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự Sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỘI AN, TỈNH QUẢNG NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Thanh Chung phạm tội: "Trộm cắp tài sản".
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger