|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 36/2024/HS-ST. Ngày 23/5/2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Anh Tuấn.
- - Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Tạ Quang Hải;
- Ông Mai Xuân Trường.
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu Hường - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 30/2023/TLST- HS ngày 19 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2024/QĐXXST - HS ngày 09 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Ngọc Q, sinh năm 1985.
Nơi cư trú: thôn V, xã L, huyện K, tỉnh Thái Bình; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Trình độ văn hóa: Lớp 12/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Xuân B và bà Phạm Thị V; có 02 anh em, bị cáo là con út; vợ Đặng Thị H; có 03 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2019; Tiền án, Tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 14/5/2016, Công an huyện Kiến Xương xử phạt vi phạm hành chính (phạt tiền) về hành vi xâm hại sức khỏe của người khác, đã chấp hành xong ngày 18/5/2016. Ngày 01/3/2017, Công an huyện Kiến Xương xử phạt vi phạm hành chính (phạt tiền) về hành vi xâm hại sức khỏe của người khác, đã chấp hành xong ngày 03/4/2017. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 08/3/2024. (có mặt).
- * Bị hại: Anh Phạm T, sinh năm 1972. (vắng mặt).
- Chị Tạ Thị L, sinh năm 1975. (vắng mặt).
- * Người làm chứng:
- - Anh Phạm Văn N, sinh năm 1977. (vắng mặt).
- - Anh Phạm Ngọc Hh, sinh năm 1968. (có mặt).
- - Anh Tạ Văn C, sinh năm 1989. (vắng mặt).
- - Anh Đặng Văn Đ, sinh năm 1965. (vắng mặt).
Nơi cư trú: thôn P, xã L, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.
Nơi cư trú: thôn P, xã L, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.
Đều cư trú tại: thôn P, xã L, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.
Nơi cư trú: thôn H, xã H, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.
Nơi cư trú: thôn V, xã L, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 13 giờ 40 phút ngày 01/01/2019, Nguyễn Ngọc Q, sinh ngày 09/12/1985, cư trú tại thôn V, xã L, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình đi một mình đến nhà anh Phạm T, sinh năm 1972, cư trú tại thôn P, xã L, huyện Kiến Xương tìm gặp anh Toản để đòi nợ nhưng anh Toản không có nhà. Tại đây, Q gặp anh Đặng Văn Đ, sinh năm 1965, cư trú tại thôn V, xã L, huyện Kiến Xương đang làm chạm đồng ở hiên nhà. Q chào anh Đ rồi đi vào trong phòng khách nhà anh Toản nhưng không gặp được anh T, Q dùng tay kéo chiếc ghế bằng gỗ (dạng ghế đơn có vai tựa) ra trước cửa nhà anh T thì anh Phạm Văn H, sinh năm 1968, cư trú tại thôn P, xã L, huyện Kiến Xương (là em họ của anh T) ở gần nhà anh T đi đến nói với Q “Có việc gì vậy em”, Q nói “Toản nợ tiền tôi, tôi đến lấy bộ bàn ghế”, anh H nói “Anh em mày nợ gì thì anh không biết, để khi nào anh Toản về thì anh Toản trả”. Q không nói gì mà tiếp tục đi vào trong nhà dùng tay kéo chiếc ghế bằng gỗ dài (dạng ghế băng có vai tựa) ra ngoài hiên thì chiếc ghế va vào chiếc quạt cây làm chiếc quạt cây đổ gẫy rời phần máy và phần thân. Q tiếp tục đi vào phòng khách kéo chiếc ghế bằng gỗ (dạng ghế đơn có vai tựa) ra trước cửa nhà anh T, Q dùng tay bẻ các vai tựa và dùng chân đạp bộ bàn ghế làm bộ ghế bị gẫy, bật chốt định vị những thanh gỗ tựa lưng, gẫy vai tựa.
Quân đang đứng chửi ở trước cửa nhà anh T thì nhìn thấy anh Phạm Văn N, sinh năm 1977, cư trú cùng thôn P (là em trai anh T) đang ở cửa nhà, cách nhà anh T khoảng 15m nên Q đi đến nói với anh N là anh T nợ tiền Q. Anh N trả lời “Có gì từ từ, bình tĩnh”, Q liền dùng tay phải tát vào mặt anh Ngọ một cái và dùng chân phải đạp vào bụng anh N, được mọi người can ngăn, anh N không nói gì và đi vào trong nhà. Q tiếp tục đi sang nhà anh T lấy chiếc kéo bằng kim loại ném vào chiếc tủ đứng ở trong phòng khách làm một phần kính bên phải hướng từ cửa vào của chiếc tủ bị vỡ. Qdùng tay kéo chiếc tủ nhưng không được. Sau đó, Q rời khỏi nhà anh T, không lấy tài sản gì và bỏ đi khỏi địa phương.
Kết luận định giá tài sản số 02/KL-HĐĐG ngày 27/02/2019 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân huyện Kiến Xương kết luận tổng chi phí để khắc phục, sửa chữa tài sản bị hư hỏng là 4.700.000 đồng.
Về vật chứng: 01 chiếc ghế bằng gỗ (dạng ghế đơn có vai tựa) kích thước (0,55x0,55x1,05)m bị hư hỏng phần thanh gỗ tựa lưng, gẫy hai tay vai ghế; 01 chiếc ghế bằng gỗ (dạng ghế đơn có vai tựa) kích thước (0,55x0,55x1,05)m bị gẫy một bên tay vai ghế; 01 chiếc ghế bằng gỗ (dạng ghế băng có vai tựa) kích thước (1,75x0,55x1,05)m bị gẫy một bên tay vai ghế, gẫy thanh gỗ tựa lưng; 01 chiếc quạt cây màu đen cao 1m, dán nhãn hiệu điện cơ 91 Bộ quốc phòng bị gẫy rời phần thân và cổ máy; 01 tấm kính trong suốt dài 1m, rộng 33cm, dày 2mm và một tấm kính gương dài 1m, rộng 33cm, dày 2mm; 01 chiếc kéo bằng kim loại dài 55cm, lưỡi kéo dài 30cm, bản rộng 3cm, gồm 02 phần cán (01 cán dài 20cm, 01 cán dài 25cm), Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kiến Xương đã trả lại cho anh Phạm Duy C, sinh năm 1995, cư trú tại thôn P, xã L, huyện Kiến Xương (con trai anh Phạm T và chị Tạ Thị L)
Tại bản cáo trạng số 35/CT - VKSKX ngày 19/4/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc Q về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc Q về tội danh và điều luật như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Căn cứ tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc Q phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự. điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Quốc Hội.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Q từ 09 tháng đến 12 tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 08/3/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Các vật chứng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kiến Xương đã trả lại cho anh Phạm Duy C, sinh năm 1995, cư trú tại thôn P, xã L, huyện Kiến Xương (con trai anh Phạm T và chị Tạ Thị L) nên không xem xét giải quyết.
Về trách nhiệm dân sự: Đối với tài sản bị hư hỏng, chị Tạ Thị L, sinh năm 1975, cư trú tại thôn P, xã L, huyện K, tỉnh Thái Bình là vợ anh Phạm T không yêu cầu bị cáo phải bồi thường trách nhiệm dân sự và không có yêu cầu, đề nghị gì khác, nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự, theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Kiến Xương, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên toà bị cáo khai nhận: Khoảng 13 giờ 40 phút ngày 01/01/2019, bị cáo đến nhà anh Phạm T, sinh năm 1972, cư trú tại thôn P, xã L, huyện Kiến Xương để đòi tiền. Do bực tức vì anh T không có nhà, bị cáo nhiều lần đến đòi tiền nhưng anh T đều trốn tránh, bị cáo đã dùng tay kéo bộ ghế bằng gỗ trong phòng khách ra trước cửa thì chiếc ghế va vào chiếc quạt cây làm đổ gẫy rời phần máy và phần thân quạt; bị cáo dùng chân đạp bộ ghế làm bộ ghế bị gẫy, bật chốt định vị thanh gỗ tựa lưng, gẫy vai tựa các chiếc ghế; bị cáo tiếp tục cầm chiếc kéo bằng kim loại ném vào chiếc tủ đứng làm một phần kính bên phải của chiếc tủ bị vỡ. Lời khai của bị cáo phù hợp với: Lời khai của bị hại là chị Tạ Thị L, sinh năm 1975, cư trú tại thôn P, xã L, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình (vợ anh Phạm T); Kết luận định giá tài sản số 02/KL-HĐĐG ngày 27/02/2019 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân huyện Kiến Xương. Tổng chi phí định giá để khắc phục, sửa chữa số tài sản yêu cầu định giá là 4.700.000 đồng; Lời khai của những người làm chứng anh Phạm Văn N, sinh năm 1977; anh Phạm Ngọc H, sinh năm 1968, đều cư trú tại thôn P, xã L, huyện Kiến Xương; anh Tạ Văn C, sinh năm 1989, cư trú tại thôn H, xã H, huyện K và anh Đặng Văn Đ, sinh năm 1965, cư trú tại thôn V, xã L, huyện K, tỉnh Thái Bình và những chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
[3] Từ căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận bị cáo đã phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự.
Điều 178. Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản
1. Người nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
...
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
[4] Xét tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo: Vụ án thuộc trường ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo ảnh hưởng đến an ninh trật xã hôị xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Vì vậy cần phải xử phạt bị cáo mức án tương xứng với hành vi phạm tội bị cáo gây ra nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người tốt và có tác dụng giáo dục, phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
[5] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[6] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo và có bố, mẹ là người có công với cách mạng được tặng thưởng huy chương theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[7] Ngoài hình phạt tù điều luật còn quy định: Người phạm tội còn bị phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định. Hội đồng xét xử thấy bị cáo làm nghề lao động tự do, bị hại không yêu cầu bồi thường nên không áp dụng khoản 5 Điều 178 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
[8] Về vật chứng: 01 chiếc ghế bằng gỗ (dạng ghế đơn có vai tựa) kích thước (0,55x0,55x1,05)m bị hư hỏng phần thanh gỗ tựa lưng, gẫy hai tay vai ghế; 01 chiếc ghế bằng gỗ (dạng ghế đơn có vai tựa) kích thước (0,55x0,55x1,05)m bị gẫy một bên tay vai ghế; 01 chiếc ghế bằng gỗ (dạng ghế băng có vai tựa) kích thước (1,75x0,55x1,05)m bị gẫy một bên tay vai ghế, gẫy thanh gỗ tựa lưng; 01 chiếc quạt cây màu đen cao 1m, dán nhãn hiệu điện cơ 91 Bộ quốc phòng bị gẫy rời phần thân và cổ máy; 01 tấm kính trong suốt dài 1m, rộng 33cm, dày 2mm và một tấm kính gương dài 1m, rộng 33cm, dày 2mm; 01 chiếc kéo bằng kim loại dài 55cm, lưỡi kéo dài 30cm, bản rộng 3cm, gồm 02 phần cán (01 cán dài 20cm, 01 cán dài 25cm), Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kiến Xương đã trả lại cho anh Phạm Duy C, sinh năm 1995, cư trú tại thôn P, xã L, huyện Kiến Xương (con trai anh Phạm T và chị Tạ Thị L) là phù hợp. Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết về vật chứng trong vụ án.
[9] Về trách nhiệm dân sự: Đối với tài sản bị hư hỏng, chị Tạ Thị L, sinh năm 1975, cư trú tại thôn P, xã L, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình là vợ anh Phạm T không yêu cầu bị cáo phải bồi thường trách nhiệm dân sự và không có yêu cầu, đề nghị gì khác. Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án.
[10] Đối với hành vi của Nguyễn Ngọc Quân dùng tay, chân đánh anh Phạm Văn Ngọ vào ngày 01/01/2019 đã vi phạm vào điểm e khoản 3 Điều 5 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính Phủ về quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình (được thay thế bởi Nghị định 144/2021/NĐ-CP, ngày 31/12/2021 của Chính Phủ) tuy nhiên đến nay đã hết thời hiệu xử lý vi phạm hành chính đối với Nguyễn Ngọc Q.
[12] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm i, s, khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Quốc Hội.
- Về tội danh: Bị cáo Nguyễn Ngọc Q phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Q 06 (sáu) tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 08/3/2024.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Ngọc Q có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại anh Phạm T, chị Tạ Thị L vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Phan Anh Tuấn |
Bản án số 36/2024/HS-ST ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH về cố ý làm hư hỏng tài sản (hình sự)
- Số bản án: 36/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý làm hư hỏng tài sản (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Ngọc Quân phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”
