|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG TỈNH TUYÊN QUANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 36/2024/HS-ST
Ngày 17 tháng 4 năm 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Tăng Thị Hường
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Hữu Lượng- Giáo viên nghỉ hưu.
Ông Nguyễn Văn Quang- Nguyên chủ tịch công
đoàn ngành giáo dục huyện Sơn Dương.
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Hồng Ngọc - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sơn
Dương, tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương tham gia phiên toà:
Ông Hoàng Hữu Trí - Kiểm sát viên.
Ngày 17/4/2024, Toà án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 33/2024/TLST-HS, ngày 01 tháng 4 năm 2024 bằng hình thức trực tuyến giữa: điểm cầu trung tâm tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương với điểm cầu thành phần tại Trại Tạm giam Công an tỉnh T, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2024/QĐXXST-HS, ngày 5 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Triệu Anh K, sinh ngày 13/7/2006, tại huyện S, tỉnh Tuyên Quang;
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn H, xã P, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Triệu Văn B, sinh năm: 1978 (đã chết) và bà Phùng Thị N, sinh năm: 1978; vợ con chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 372/QĐ-XPVPHC ngày 14/10/2021 của Công an huyện S xử phạt T Khoa bằng hình thức phạt cảnh cáo về hành vi trộm cắp tài sản vào ngày 12/9/2021;
- Bản án số 297/2023/HS-ST ngày 11/12/2023 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội xử phạt Triệu Anh Khoa 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng về tội Trộm cắp tài sản. Bản án đã có hiệu lực pháp luật, Toà án nhân dân huyện Sơn Dương đã ra Quyết định thi hành án phạt tù cho hưởng án treo số 19/2024/QĐ-CA ngày 25/01/2024.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 31/01/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại Tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt tại điểm cầu Trại Tạm giam Công an tỉnh T.
- Người đại diện theo pháp luật cho bị cáo: Bà Phùng Thị N, sinh năm: 1978; Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Thôn H, xã P, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt tại phiên toà,
- Người đại diện tham gia tố tụng cho bị cáo: Bà Nguyễn Khánh L, chức vụ: Phó Bí thư Đoàn thanh niên thị trấn S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt tại phiên toà;
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Kim T- Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T. Có mặt tại điểm cầu Trại Tạm giam Công an tỉnh T;
- Người bị hại:
1. Chị Triệu Thị Huyền T1, sinh năm: 2002; Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Thôn C, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt tại phiên toà,
2. Cháu Lương Văn T2, sinh ngày 15/8/2007; Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Thôn H, xã P, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt tại phiên toà;
- Người đại diện theo pháp luật cho bị hại Lương Văn T2: Bà Dương Thị L1, sinh năm: 1979 (mẹ đẻ bị hại); Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Thôn H, xã P, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt tại phiên toà nhưng có mặt chị Lương Hồng H, sinh ngày 14/8/2023; Địa chỉ: Thôn H, xã P, huyện S, tỉnh Tuyên Quang (là chị ruột bị hại).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong hai ngày 20/12/2023 và 31/12/2023, Triệu Anh K là người chưa thành niên, đã có hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, như sau:
Ngày 20/12/2023: Khoảng 09 giờ, khi K đang ở nhà thì có chị Triệu Thị Huyền T1 (chị gái ruột K) cùng con gái là cháu Nông Thị Yến N1 đi xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu sơn xanh đen bạc, biển số đăng ký 22B2-79105 đến nhà K chơi và ở lại ăn cơm. Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, khi chị T1 đang nằm nghỉ trưa trong giường thì K hỏi mượn xe mô tô của chị T1 để đi gửi đồ cho bạn, chị T1 đồng ý và đưa chìa khoá xe cho K. Sau khi gửi đồ cho bạn xong, K nảy sinh ý định mang chiếc xe mô tô đi cầm cố lấy tiền chi tiêu cá nhân. Sau đó, K điều khiển xe đến cửa hàng mua bán, trao đổi, ký gửi xe máy của một người tên H1, thường gọi là Hải I, trú tại xã L, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang cầm cố xe mô tô trên với giá 12.000.000₫ trong thời hạn 10 ngày, lãi suất 1.200.000đ. H1 đưa cho K 10.800.000đ, nếu quá hạn thì sẽ bán xe, nếu gia hạn thêm thì phải nộp tiền lãi. Sau khi nhận được 10.800.000đ, K thuê xe taxi từ thành phố T về xã P nhưng K không về nhà. Số tiền cầm cố xe Khoa đã chi tiêu cá nhân hết.
Sáng ngày 31/12/2023: K sử dụng mạng internet gọi điện trên phần mềm ứng dụng Messenger từ tài khoản Facebook “Triệu Anh K” của K đến tài khoản Facebook “Lương Thái” của cháu Lương Văn T2, sinh năm 2007 hỏi mượn điện thoại để K gọi cho bạn và hẹn muộn nhất đến chiều tối trả lại, cháu T2 đồng ý. Sau đó, cháu T2 đem
đến đưa cho K điện thoại nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu đỏ có màn hình và ốp lưng bị rạn, nứt nhưng vẫn sử dụng được bình thường. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, do không có tiền chi tiêu cá nhân K đã đem chiếc điện thoại di động đến cửa hàng mua bán sửa chữa điện thoại di động của anh Nguyễn Ngọc H2, sinh năm 1999, trú tại thôn P, xã P, huyện S, tỉnh Tuyên Quang bán được 400.000đ, K đã chi tiêu cá nhân hết.
Tại Kết luận định giá tài sản số 04/KL-HĐĐGTSTTHS ngày 30/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện S, kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu sơn xanh đen bạc, biển số đăng ký 22B2-79105, tính đến thời điểm bị chiếm đoạt ngày 20/12/2023 là 14.705.600đ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu đỏ đã bị rạn nứt màn hình cảm ứng và phần lưng, tính đến thời điểm bị chiếm đoạt ngày 31/12/2023 là 2.000.000đ. Tổng số tiền của hai tài sản nêu trên là 16.705.600đ (Mười sáu triệu bẩy trăm linh lăm nghìn sáu trăm đồng).
Về vật chứng: Không
Về dân sự: Bị hại chị Triệu Thị Huyền T1 và cháu Lương Văn T2 yêu cầu bị cáo Triệu A Khoa trả lại số tiền tương ứng với số tiền trong kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản.
Từ nội dung trên, tại Cáo trạng số 38/CT-VKSSD, ngày 01/4/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương đã truy tố Triệu Anh K về Tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 175 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo tiếp tục khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Bị hại chị Triệu Thị Huyền T1 rút một phần yêu cầu bồi thường thiệt hại xuống còn 10.000.000đ. Chị T1, cháu T2, người đại diện của bị hại T2 và người đại diện theo pháp luật của bị cáo bà Phùng Thị N thống nhất thỏa thuận: Bà N có trách nhiệm bồi thường cho chị T1 số tiền 10.000.000đ, bồi thường cho cháu T2 số tiền 2.000.000đ. Người bị hại chị T1, cháu T2 và người đại diện của cháu T2 xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Kiểm sát viên giữ quyền công tố trình bày bản luận tội: Quá trình xét hỏi xác định Bản án số 297/2023/HSST ngày 11/12/2023 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội xử phạt Triệu Anh Khoa 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng về tội Trộm cắp tài sản, tính đến ngày 31/12/2023 là ngày bị cáo phạm tội, bản án chưa có hiệu lực pháp luật. Vì vậy không áp dụng tình tiết phạm tội 02 lần đối với bị cáo theo điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS và đề nghị:
Tuyên bố: Bị cáo Triệu A Khoa phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài
sản;
Căn cứ khoản 1 Điều 175; Điều 90, Điều 91, Điều 101, Điều 104; khoản 2
Điều 56; điểm s khoản 1,2 Điều 51; khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Triệu A Khoa từ 07 tháng đến 09 tháng tù, tổng hợp với hình phạt của bản án số 297/2023/HSST ngày 11/12/2023 của Toà án nhân dân quận Cầu
Giấy, thành phố Hà Nội là 15 tháng tù, buộc bị cáo chấp hành chung từ 22 tháng đến 24 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam;
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 BLHS, các Điều 584, 585, 586, 589 BLDS buộc bị cáo bồi thường cho các bị hại.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về nghĩa vụ chịu án phí và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
- Người bào chữa cho bị cáo đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 175, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65, Điều 90, Điều 91, Điều 101, Điều 104 BLHS. Xử phạt bị cáo mức án thấp nhất của khung hình phạt.
Kết thúc phần tranh tụng, bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, tỏ thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về các căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, như Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Ngoài lời khai nhận tội của bị cáo, hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng: Lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Từ những chứng cứ trên có đủ cơ sở kết luận: Trong hai ngày 20/12/2023 và 31/12/2023, Triệu Anh K, sinh ngày 13/7/2006 (đến ngày phạm tội là 17 tuổi 5 tháng 07 ngày) đã có hành vi Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, cụ thể:
Ngày 20/12/2023, khoảng 12 giờ 30 phút Triệu Anh K đã mượn 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu sơn xanh đen bạc, biển số đăng ký 22B2-79105, giá trị tài sản tại thời điểm bị chiếm đoạt là 14.705.600đ (Mười bốn triệu bẩy trăm linh lăm nghìn sáu trăm đồng) của chị Triệu Thị Huyền T1, đem đi cầm cố lấy tiền chi tiêu cá nhân.
Ngày 31/12/2023, khoảng 13 giờ Triệu Anh K đã mượn 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu đỏ đã bị rạn nứt màn hình cảm ứng và phần lưng, giá trị tại thời điểm bị chiếm đoạt là 2.000.000đ (Hai triệu đồng) của cháu Lương Văn T2, đem đi bán lấy tiền chi tiêu cá nhân.
Tổng giá trị tài sản đã chiếm đoạt là 16.705.600₫ (Mười sáu triệu bẩy trăm linh lăm nghìn sáu trăm đồng).
Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như cáo trạng là có căn cứ pháp luật.
[2] Về tính chất của hành vi: Sau khi được chị T1 và cháu T2 cho mượn xe mô tô và điện thoại để sử dụng, do cần tiền chi tiêu, bị cáo đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của chị T1 và cháu T2. Bị cáo đã cầm cố chiếc xe mô tô và bán chiếc điện thoại Iphone 8 Plus lấy tiền chi tiêu hết, không trả lại tài sản đã mượn cho chị T1 và cháu T2. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, mục đích vụ lợi. Do đó cần có mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.
[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đường lối xử lý đối với bị cáo:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 11/12/2023, bị cáo bị Toà án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội xử phạt 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về hành vi trộm cắp tài sản. Trong thời gian bản án chưa có hiệu lực pháp luật, ngày 20/12/2023 và ngày 31/12/2023 bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản nên bản án số 297/2023/HSST ngày 11/12/2023 của Toà án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội không xác định là tiền án của bị cáo và do đó không phải là tình tiết định tội của hành vi chiếm đoạt tài sản ngày 31/12/2023 (giá trị tài sản chiếm đoạt dưới 4.000.000đ). Do vậy không áp dụng tình tiết tăng nặng “phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương không đề nghị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” đối với bị cáo là phù hợp, cần chấp nhận.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, các bị hại và đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần áp dụng cho bị cáo. Đại diện hợp pháp cho bị cáo bà N trình bày có bố đẻ bà N (ông ngoại bị cáo) có tham gia kháng chiến và được tặng thưởng huân, huy chương nhưng không cung cấp được nên không có căn cứ xem xét.
Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã được phân tích ở trên, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo là người có nhân thân xấu, năm 2021 bị Công an huyện S xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi trộm cắp tài sản; tại bản án số 297/2023/HSST ngày 11/12/2023 của Toà án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội xử phạt bị cáo 15 tháng tù nhưng cho hưởng áo treo, thời gian thử thách 30 tháng về hành vi trộm cắp tài sản. Bị cáo đã không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân trở thành công dân có ích mà trong thời gian thử thách của án treo bị cáo tiếp tục phạm tội mới như vậy thể hiện sự coi thường pháp. Do vậy, cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù giam đối với tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và buộc bị cáo chấp hành hình phạt 15 tháng tù giam của bản án số 297/2023/HSST ngày 11/12/2023 của Toà án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội đã cho hưởng án treo, trừ đi thời gian bị cáo đã bị tạm giữ trong vụ án này từ ngày 10/8/2023 đến ngày 18/8/2023 theo quy định tại khoản
5 Điều 65 BLHS. Tổng hợp hình phạt theo quy định tại Điều 56 BLHS, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của hai bản án, thời hạn chấp hành án tính từ ngày bắt tạm giam như đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp, cần chấp nhận.
Bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[4] Về vật chứng: Không có
[5] Về trách nhiệm dân sự:
Đối với 01 chiếc xe mô tô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu sơn xanh đen bạc, biển số đăng ký 22B2-79105 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, hiện không thu hồi được. Bị hại chị Triệu Thị Huyền T1 yêu cầu bị cáo Triệu A Khoa trả lại số tiền 14.705.600đ, tại phiên tòa rút một phần yêu cầu, chỉ yêu cầu bồi thường 10.000.000đ; cháu Lương Văn T2 yêu cầu bị cáo Triệu A Khoa trả lại số tiền 2.000.000đ. Do bị cáo chưa đủ 18 tuổi và cũng không có điều kiện để bồi thường cho các bị hại nên các bị hại, đại diện bị hại và bà Phùng Thị N thống nhất thỏa thuận bà N có trách nhiệm bồi thường cho chị T1 số tiền 10.000.000đ, bồi thường cho cháu T2 số tiền 2.000.000đ. Nhận thấy sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện và phù hợp quy định pháp luật, cần chấp nhận.
[6] Các vấn đề khác:
Theo lời khai của Triệu Anh K, đã đem chiếc xe mô tô đến cầm cố cho người có tên là H1, trú tại thôn H, xã L, thành phố T. Kết quả xác minh có Nguyễn Văn H3, sinh năm 1974, trú tại thôn H, xã L, thành phố T nhưng không có đủ căn cứ để chứng minh Nguyễn Văn H3 là người cầm cố chiếc xe mô tô vào ngày 20/12/2023 nên không có căn cứ để xử lý. Việc thông báo truy tìm chiếc xe mô tô, biển số đăng ký 22B2-79105 đến nay không có kết quả nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với anh Nguyễn Ngọc H2 khi mua chiếc điện thoại không biết là tài sản do phạm tội mà có và đã tháo dời các linh kiện trong điện thoại ra bán, không đề cập xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:
Qua xem xét, nghiên cứu hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: Quá trình điều tra và truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và các văn bản pháp luật có liên quan. Khởi tố, điều tra, thu thập chứng cứ, truy tố đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp.
[8] Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bà Phùng Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa, người đại diện của bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: điểm a khoản 1 Điều 175; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 2 Điều 56; Khoản 5 Điều 65; Điều 90, Điều 91, Điều 101, Điều 104 và Điều 48 Bộ luật Hình sự;
Căn cứ: Điều 136, 331 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự, các Điều 584, Điều 585, Khoản 2 Điều 586 và Điều 589 Bộ luật dân sự năm 2015
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;
Tuyên bố: Bị cáo Triệu A Khoa phạm tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
1. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Triệu Anh K 08 (T3) tháng tù, tổng hợp với hình phạt của bản án số 297/2023/HSST ngày 11/12/2023 của Toà án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội là 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung là 01 (một) năm 11 (mười một) tù tháng trừ đi thời gian bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/8/2023 đến ngày 18/8/2023 trong vụ án trộm cắp tài sản. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 31/01/2024.
2. Về trách nhiệm dân sự:
Ghi nhận sự thỏa thuận giữa đại diện hợp pháp của bị cáo với các bị hại và người đại diện bị hại về việc bồi thường dân sự: Buộc bà Phùng Thị N phải bồi thường cho chị Triệu Thị Huyền T1 số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng) và cháu Lương Văn T2 số tiền 2.000.000đ (Hai triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn xin thi hành án của người bị hại nếu bà Phùng Thị N không thanh toán số tiền trên thì hàng tháng còn phải chịu tiền lãi suất theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng N2 quy định tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bà Phùng Thị N phải chịu 600.000₫ (Sáu trăm nghị đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo, đại diện hợp pháp bị cáo, bị hại, đại diện bị hại, người bào chữa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (17/4/2024)./.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
|
Trần Hữu Lượng - Nguyễn Văn Quang |
Tăng Thị Hường |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tăng Thị Hường |
Bản án số 36/2024/HS-ST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 36/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
