|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG Bản án số: 36/2024/HS-ST Ngày 19 tháng 4 năm 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Ngọc.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thanh Hảo và ông Phạm Phước Cường.
Thư ký phiên toà: Bà Huỳnh Ngọc Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Lý Chí Nam, Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 27/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Phạm Anh T (Cò), sinh ngày 27-10-2001, tại C, An Giang; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: tổ H, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Đạo phật; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: không; con ông Phạm Văn H và bà Nguyễn Thị Thùy L; anh chị em ruột có 03 người, bị cáo là người thứ hai; nhân thân: bị cáo hiện đang chấp hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm cai nghiện bắt buộc tỉnh An Giang (có mặt).
Bị hại: Ông Nguyễn Minh T1, sinh năm 1974, nơi cư trú: tổ H, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Bà Nguyễn Thị Bảo U, sinh năm 1988, nơi cư trú: tổ B, khóm B, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Ông Trương Thanh P, sinh năm 1984, nơi cư trú: tổ A, khóm V, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Anh Nguyễn Văn L1, sinh năm 2001; nơi cư trú: tổ B, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
Người làm chứng: Huỳnh Thị Đ, sinh năm 1961 (vắng mặt); Nguyễn Huy T2, sinh năm 2003 (có mặt); Trần Phương T3, sinh năm 2004 (vắng mặt); Nguyễn Thanh T4, sinh năm 1975 (vắng mặt); Nguyễn Minh T5, sinh năm 2008 (vắng mặt); Nguyễn Thị Ly N, sinh năm 1974 (có mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ ngày 20-8-2023, tại khu vực tổ H, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang, khi phát hiện nhà của ông Nguyễn Minh T1 đã đóng cửa ngủ nhưng xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển số 65B2-783.18 của ông T1 đậu trước nhà, không người trông giữ, Phạm Anh T nảy sinh ý định lấy trộm, T dẫn xe của ông T1 đến đầu hẻm nhờ T3 (bạn T) đẩy tiếp. Khi đến khu vực khu dân cư K, phường C, T nói cho T3 biết xe T lấy trộm của ông T1 nên T3 không đồng ý tiếp T đẩy xe và bỏ đi. T tiếp tục đẩy xe đến nhà Nguyễn Văn L1 (bạn T) thuộc khu vực tổ B, khóm C, phường C cất giấu xe và ngủ nhờ. Sáng ngày 21-8-2023, T mang xe lấy trộm được của ông T1 đến khu vực chợ C làm chìa khoá, mở được cốp xe, thấy có giấy chứng nhận đăng ký xe nên T nhờ Nguyễn Huy T2 (bạn T) bán xe dùm thì T2 đồng ý, T2 nhờ Nguyễn Thị Bảo U biết chỗ nhận cầm, mua bán xe, sau đó, T cùng U mang xe đến tiệm cầm đồ “Thanh Phong” thuộc khu vực tổ A, khóm V, phường V, thành phố C bán xe cho ông P được 8.000.000 đồng. T đưa cho U 1.500.000 đồng (1.000.000 đồng tiền công giới thiệu và 500.000 đồng cho U mượn), trả cho L1 200.000 đồng mượn trước đó, còn lại 6.300.000 đồng T mua ma tuý sử dụng và tiêu xài hết. Phát hiện mất xe, ông T1 trình báo Công an, mời làm việc, T khai nhận như trên, P không biết xe do T lấy trộm đã bán lại xe cho Nguyễn Thanh T4 với giá 9.000.000 đồng, Thanh T4 bán xe lại cho 01 người nam (không rõ lai lịch) giá 13.800.000 đồng. Cơ quan cảnh sát điều tra không thu giữ được xe mô tô bị chiếm đoạt.
Tang vật thu giữ gồm: 01 đĩa DVD lưu giữ đoạn video clip ghi hình ảnh Phạm Anh T lấy trộm tài sản vào ngày 20-8-2023 (lưu hồ sơ vụ án); 01 ví da màu nâu, 01 căn cước công dân và 01 giấy phép lái xe tên Nguyễn Minh T1; 01 áo thun dài tay, màu xanh; 01 quần lửng vải kaki; 01 nón bảo hiểm, màu vàng (của Phạm Anh T, là trang phục T mặc khi thực hiện hành vi phạm tội); 01 áo thun ngắn, màu xanh (của Trần Phương T3, trang phục Tùng mặc lúc giúp T đẩy xe lấy trộm); tiền Việt Nam 9.700.000 đồng (trong đó: 8.000.000 đồng của Trương Thanh P, 1.500.000 đồng của Nguyễn Thị Bảo U và 200.000 đồng của Nguyễn Văn L1). Sau khi xác minh làm rõ, Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại Nguyễn Minh T1 01 ví da màu nâu, 01 căn cước công dân và 01 giấy phép lái xe tên Nguyễn Minh T1.
Kết quả khám nghiệm hiện trường và bản ảnh đã lưu giữ phù hợp với nội dung vụ án đã nêu trên.
Tại kết luận định giá tài sản số 01/KL-ĐG ngày 11-9-2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố C, tỉnh An Giang, kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave Alpha, màu sơn đen, biển số 65B2-783.18, giá trị 17.000.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Minh T1 yêu cầu bị cáo Phạm Anh T bồi thường thiệt hại theo giá trị đã định giá 17.000.000 đồng; yêu cầu xử lý bị cáo theo quy định pháp luật.
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Phạm Anh T khai nhận phù hợp với nội dung vụ án đã nêu trên.
Trần Văn B, Trần Văn V, S, Trương Thanh H1 Tại Cáo trạng số: 23/CT-VKSCĐ-HS ngày 08-3-2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc đã truy tố Phạm Anh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật Hình sự năm 2015).
Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Phạm Anh T vẫn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên.
Xe mô tô bị chiếm đoạt được không thu hồi được, bị hại Nguyễn Minh T1 chỉ yêu cầu được nhận lại số tiền 9.700.000 đồng Công an đang tạm giữ, không yêu cầu bị cáo Phạm Anh T bồi thường gì thêm, yêu cầu xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; người làm chứng Nguyễn Huy T2, Nguyễn Thị Ly N khai nhận phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu trên.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Nguyễn Thị Bảo U, Trương Thanh P, Nguyễn Văn L1; người làm chứng Huỳnh Thị Đ, Trần Phương T3, Nguyễn Thanh T4, Nguyễn Minh T5 vắng mặt nhưng quá trình điều tra khai nhận phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng đã nêu. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Phạm Anh T từ 01 năm đến 02 năm tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, giao trả cho bị hại Nguyễn Minh T1 số tiền 9.700.000 đồng đã thu giữ; tịch thu tiêu hủy 01 áo thun dài tay màu xanh, 01 áo thun ngắn tay màu xanh, 01 quần lửng bằng vải kaki và 01 mũ bảo hiểm vàng vàng, không nhãn hiệu đã thu giữ.; tiếp tục lưu hồ sơ vụ án đĩa DVD ghi nhận lại việc bị cáo T trộm xe của ông T1.
Bị cáo Phạm Anh T, bị hại không có ý kiến tranh luận. Trong lời nói sau cùng, bị cáo T xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về thủ tục tố tụng:
Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án Nguyễn Thị Bảo U, Trương Thanh P, Nguyễn Văn L1 và người làm chứng Huỳnh Thị Đ, Trần Phương T3, Nguyễn Thanh T4, Nguyễn Minh T5 vắng mặt. Xét thấy, sự vắng mặt của những người này không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
- [2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:
Khoảng 23 giờ ngày 20-8-2023 tại khu vực tổ H, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang, bị cáo Phạm Anh T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt xe mô tô biển số 65B2-783.18 của ông Nguyễn Minh T1 dựng trước cửa nhà, trị giá 17.000.000 đồng.
Hành vi nêu trên của bị cáo Phạm Anh T đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm (tội phạm ít nghiêm trọng).
- [3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác và gây mất trật tự trị an và an toàn cho xã hội.
- [4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; ngoài ra, bị cáo học lực thấp nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế, bị hại có yêu cầu xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Bị cáo Phạm Anh T là người nghiện ma tuý, đang chấp hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm cai nghiện bắt buộc tỉnh An Giang, bản thân bị cáo có sức khỏe nhưng không chịu tìm công việc làm ổn định để nuôi sống bản thân mà vì lười biếng muốn có tiền để tiêu xài bị cáo lại tìm tài sản của người khác để chiếm đoạt. Bị cáo thực hiện với lỗi cố ý, động cơ mục đích của tội phạm là chiếm đoạt được tài sản. Do đó, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để buộc bị cáo Phạm Anh T phải chấp hành hình phạt tù một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội.
- [5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Xét thấy, bị cáo không có tài sản, nghề nghiệp và thu nhập ổn đinh nên Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
- [6] Về trách nhiệm dân sự:
Tài sản bị chiếm đoạt không thu hồi được, bị hại chỉ yêu cầu được nhận lại số tiền 9.700.000 đồng thu giữ trong vụ án, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên không đề cập giải quyết.
- [7] Về xử lý vật chứng:
Tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án đĩa DVD ghi lại diễn biến Phạm Anh T lấy trộm xe mô tô của Nguyễn Minh T1.
Giao trả cho bị hại Nguyễn Minh T1 số tiền 9.700.000 đồng đã thu giữ trong vụ án.
Đối với 01 áo thu dài tay màu xanh, 01 quần lửng vải kaki, 01 nón bảo hiểm màu vàng (thu giữ của bị cáo Phạm Tuấn A) và 01 áo thun ngắn màu xanh (thu giữ của Trần Phương T3) là trang phục của bị cáo Phạm Anh T mặc khi thực hiện hành vi phạm tội và trang phục của T3 mặc khi giúp bị cáo T đẩy xe lấy trộm nên có giá trị chứng minh tội phạm, không còn giá trị sử dụng. Xét,tịch thu, tiêu hủy.
- [8] Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật tố tụng hình sự.
- [9] Về các vấn đề khác:
Đối với Trần Phương T3, Nguyễn Văn L1, Nguyễn Huy T2, Nguyễn Thị Bảo U, Trương Thanh P, Nguyễn Thanh T4 không biết xe mô tô do Phạm Anh T trộm cắp mà có nên đã giúp T đẩy xe, cất giấu, mua và tìm nơi tiêu thụ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C không quy kết trách nhiệm hình sự là có căn cứ; tuy nhiên, cần công khai giáo dục tại phiên toà.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;
Tuyên bố bị cáo Phạm Anh T (Cò) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Phạm Anh T 09 (chín) tháng. tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt chấp hành án.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Giao trả cho bị hại Nguyễn Minh T1 số tiền 9.700.000 đồng (Chín triệu bảy trăm nghìn đồng);
Tịch thu tiêu hủy: 01 áo thun dài tay, màu xanh; 01 áo thun ngắn tay, màu xanh; 01 quần lửng bằng vải kaki; 01 mũ bảo hiểm, màu vàng (tất cả đã qua sử dụng)
(Đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 12 tháng 4 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc).
Tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án đĩa DVD ghi lại diễn biến Phạm Anh T lấy trộm xe mô tô của Nguyễn Minh T1.
- Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 2 Điều 136; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:
Bị cáo Phạm Anh T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Nguyễn Thanh Ngọc |
Bản án số 36/2024/HS-ST ngày 19/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về hình sự về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 36/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: HS Phạm Anh Tuấn
