|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 36/2024/DS-ST Ngày: 10/9/2024 V/v “Tranh chấp đất đai và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Văn Lâm.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thái Linh, ông Nguyễn Sỹ Quân.
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Hà Thị Vân Nga - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hòa - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 9 năm 2024, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà xét xử công khai vụ án Dân sự sơ thẩm thụ lý số: 69/2023/TLST- DS, ngày 15 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2024/QĐXX-DSST ngày 07/5/2024; Thông báo thay đổi thời gian xét xử số 10/2024/TB-TA ngày 24/5/2024; Thông báo mở lại phiên tòa số 52/2024/TB-TA ngày 26/8/2024 giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: Anh Nguyễn Hữu H; sinh năm 1973; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do, (Có mặt).
- * Bị đơn: Bà Nguyễn Thị K; sinh năm 1935; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Già yếu. Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Hào Q; sinh năm 1971; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh, (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
- * Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn K1 - Chức vụ: Chủ tịch; Người đại diện theo uỷ quyền:
- + Ông Nguyễn Anh T - Phó Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường (Có đơn xin xét xử vắng mặt);
- + Ông Lê Văn M - Chuyên viên phòng T6 (Có mặt); Giấy ủy quyền số 2155/GUQ-UBND, ngày 15/9/2023.
- Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Minh S - Chức vụ: Chủ tịch; Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Xuân T1 - Chức vụ: Phó Chủ tịch; Giấy ủy quyền số 01/UQ-UBND, ngày 13/9/2023, (Có mặt);
- Chị Hoàng Thị Châu L; sinh năm 1975; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do, (Có mặt).
- Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn K1 - Chức vụ: Chủ tịch; Người đại diện theo uỷ quyền:
- * Người làm chứng:
- - Ông Dương Công Y; sinh năm 1954; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh, (Vắng mặt);
- - Ông Dương Kim T2; sinh năm 1954; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh, (Vắng mặt);
- - Ông Dương Kim L1; sinh năm 1961; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh, (Vắng mặt);
- - Ông Dương Công S1; sinh năm 1971; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh, (Có mặt);
- - Ông Nguyễn Hữu N; sinh năm 1959; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh, (Có mặt);
- - Ông Nguyễn Hữu B; sinh năm 1966; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh, (Vắng mặt);
- - Ông Hồ Văn T3; sinh năm 1961; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh, (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 10/7/2023, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn anh Nguyễn Hữu H trình bày:
Gia đình anh Nguyễn Hữu H có thửa đất số 174, tờ bản đồ số 19, diện tích 1.080,6 m² tại thôn T (nay là thôn T), xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh, đã được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB 499073, ngày 29/01/2016 mang tên ông Nguyễn Hữu H và bà Hoàng Thị Châu L. Hiện nay, bà Nguyễn Thị K (hộ liền kề, đang sử dụng thửa đất số 182, tờ bản đồ số 19, diện tích 759,5 m²) đã lấn chiếm xây dựng công trình nhà vệ sinh, đặt giải phân cách và cột trụ cổng cửa ngõ trên phần diện tích đất thuộc quyền sử dụng của gia đình anh Nguyễn Hữu H. Do đó, anh Nguyễn Hữu H yêu cầu bà Nguyễn Thị K tháo dỡ công trình đã xây dựng trái phép trả lại phần đất có diện tích khoảng 47 m² (cụ thể nhà vệ sinh phía Tây khoảng 35m², cột trụ cổng phía Tây Bắc khoảng 12m²).
* Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Nguyễn Hào Q trình bày:
Bà Nguyễn Thị K có thửa đất số 182, tờ bản đồ số 19, diện tích 759,5 m² tại thôn T (nay là thôn T), xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Nguồn gốc thửa đất do cha ông để lại, gia đình sử dụng ổn định, không có tranh chấp. Năm 1965 gia đình bà Nguyễn Thị K nhờ người dân địa phương đào giếng nước sử dụng trên phần diện tích gần ranh giới đất vườn bà Dương Thị N1 (Vườn bà N1 hiện nay anh Nguyễn Hữu H sử dụng), đến nay giếng nước gia đình bà Nguyễn Thị K vẫn đang sử dụng. Ngày 17/3/2008 được UBND huyện T, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 879552, cho ông Nguyễn Văn V và bà Nguyễn Thị K. Bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đồng thời yêu cầu Tòa án hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho gia đình anh H do có sai sót.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan về phía nguyên đơn là chị Hoàng Thị Châu L trình bày: Nhất trí như ý kiến của anh Nguyễn Hữu H và không có ý kiến gì bổ sung thêm.
* Đại diện Ủy ban nhân dân xã T trình bày:
- Lịch sử sử dụng đất của các hộ một cách dân chủ khách quan: Ngày 19/9/2023, UBND xã đã tổ chức cuộc họp nhân dân, đại diện các cụ cao tuổi trong thôn T có 19 cụ tham gia; đc T1 chủ trì xin ý kiến các cụ xác minh cụ thể một số nội dung liên quan, sau khi thảo luận, nhiều ý kiến các cụ trình bày và đi đến thống nhất như sau:
- Xác nhận nguồn gốc sử dụng đất của 2 gia đình:
- - Nguồn gốc sử dụng đất của bà Nguyễn Thị K là đất ở được nhà nước giao trước năm 1980;
- - Nguồn gốc sử dụng đất của anh Nguyễn Hữu H và bà Nguyễn Thị Châu L2 là thừa kế của ông cha, là đất ở có nguồn gốc trước năm 1980. Phía bắc có 3 vồng mạ, đất do UBND xã quản lý.
- Xác nhận về cái giếng hiện tai:
- + Xác nhận giếng thống hiện tại nằm ở phía tây bờ cây, cạnh nhà bà Nguyễn Thị K là giếng của vợ chồng bà Nguyễn Thị K đào và sử dụng từ trước năm 1983. Các cụ xác nhận giếng này do vợ chồng bà Nguyễn Thị K đào cách bờ rào ngăn cách với hộ gia đình cố Thi ông nội anh H khoảng 2m.
- + Xác nhận trước đây cố T4 là ông nội của anh H cũng có cái giếng đào ở phía tây vườn cách bờ rào ranh giới với hộ bà Nguyễn Thị K khoảng 2m, giếng được xây bằng đá, phía trên xây bằng vôi; cạnh cây bồ kết. Giếng đã bị lấp cách đây khoảng 40 năm rồi.
- + Xác nhận ngăn cách giữa 2 gia đình có một dãy cây trồng từ trước ra sau, có nhiều cây to trồng từ trước.
- Xác nhận nguồn gốc sử dụng đất của 2 gia đình:
- Xác định việc cấp GCN QSDĐ các thửa đất qua các lần đo đạc bản đồ địa chính:
- Đối với thửa đất đã cấp Giấy chứng nhận cho ông Nguyễn Hữu H:
Thông tin thửa đất qua các lần đo đạc bản đồ địa chính:
- + Theo hồ sơ đo đạc 299: Thửa đất liên quan thuộc thửa số 628, tờ bản đồ số 06, diện tích sử dụng 1.200,0m², chủ sử dụng đất ghi bà nội của ông Nguyễn Hữu H.
- + Theo hồ sơ đo đạc 371: Thuộc thửa số 72, tờ bản đồ số 06, diện tích sử dụng 1.058,0m², chủ sử dụng ghi “Nguyễn Văn C” - cha đẻ ông Nguyễn Hữu H;
- + Theo hồ sơ đo đạc năm 2007: Thuộc thửa đất số 174, tờ bản đồ số 19, diện tích sử dụng 1.080,6m², chủ sử dụng ghi “Nguyễn Hữu H”.
Về nguồn gốc sử dụng đất, thời điểm sử dụng vào mục đích cấp Giấy chứng nhận. Theo hồ sơ cấp Giấy chứng nhận do UBND xã T xây dựng và xác nhận, thửa đất có nguồn gốc nhận thừa kế từ cha mẹ; sử dụng ổn định vào mục đích đất ở trước ngày 18/12/1980.
- Đối với thửa đất đã cấp Giấy chứng nhận cho bà Nguyễn Thị K:
- + Theo hồ sơ đo đạc 299: Thửa đất liên quan thuộc thửa số 629, tờ bản đồ số 06, diện tích sử dụng 1.021,0m², chủ sử dụng đất Nguyễn Văn V;
- + Theo hồ sơ đo đạc 371: Thuộc thửa số 71, tờ bản đồ số 06, diện tích sử dụng 942,0m², chủ sử dụng ghi “Nguyễn Văn V” - chồng của bà Nguyễn Thị K2;
- + Theo hồ sơ đo đạc năm 2007: Thuộc thửa đất số 182, tờ bản đồ số 19, diện tích sử dụng 759,5m², chủ sử dụng ghi “Nguyễn Văn V”.
Về nguồn gốc sử dụng đất, thời điểm sử dụng vào mục đích cấp Giấy chứng nhận. Theo hồ sơ cấp Giấy chứng nhận do UBND xã T xây dựng và xác nhận, thửa đất có nguồn gốc được tự khai phá; sử dụng ổn định vào mục đích đất ở trước ngày 18/12/1980.
Thực tế ở xã T đã xảy ra các vụ việc cấp bìa chồng lấn giữa các hộ khác như: Năm 2022 UBND xã đã hòa giải thành vụ cấp bìa đất chồng lấn giữa hộ Nguyễn Sỹ M1 và hộ Hồ Thị M2 tại thôn T. Năm 2023 hòa giải thành vụ cấp đất chồng lấn giữa hộ Hồ Q1 và Nguyễn Quang T5 tại thôn quyết tiến. Vì vậy việc cấp GCN QSDĐ cho nhân dân nói chung theo hồ sơ đo đạc năm 2007 sẽ vẫn còn nhiều hộ sai, nhưng nhân dân chưa biết, chỉ mới một số hộ có liên quan mới phát hiện GCN có sự chồng chéo thì mới có đơn kiến nghị xã giải quyết (trường của anh H và bà K cũng như các trường hợp sai sót nêu trên).
- Đối với thửa đất đã cấp Giấy chứng nhận cho ông Nguyễn Hữu H:
- Anh Nguyễn Hữu H: Vườn từ trước của ông cha đều ở ổn định, nhưng khi có nhu cầu đo đạc lại dịên tích vườn, mới phá hiện ranh giới có sự chồng lấn. Giếng nước được đo vẽ sang đất vườn anh Nguyễn Hữu H là không đúng, vì giếng được nhân dân xác định là giếng của gia đình bà K đã đào và sử dụng từ trước năm 1983.
- Về quan điểm chung: Tôn trọng ranh giới thửa đất từ khi tạo lập cho mục đích đất ở đến nay, việc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp không đúng quy định nên đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho gia đình anh Nguyễn Hữu H1 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho gia đình bà Nguyễn Thị K.
* Đại diện Ủy ban nhân dân huyện T trình bày:
- Thông tin thửa đất đã cấp Giấy chứng nhận cho ông Nguyễn Hữu H:
Thông tin thửa đất qua các lần đo đạc bản đồ địa chính:
- + Theo hồ sơ đo đạc 299: Thửa đất liên quan thuộc thửa số 628, tờ bản đồ số 06, diện tích sử dụng 1.200,0m², chủ sử dụng đất ghi “Nghi” - bà nội của ông Nguyễn Hữu H;
- + Theo hồ sơ đo đạc 371: Thuộc thửa số 72, tờ bản đồ số 06, diện tích sử dụng 1.058,0m², chủ sử dụng ghi “Nguyễn Văn C” - cha đẻ ông Nguyễn Hữu H;
- + Theo hồ sơ đo đạc năm 2007: Thuộc thửa đất số 174, tờ bản đồ số 19, diện tích sử dụng 1.080,6m², chủ sử dụng ghi “Nguyễn Hữu H”.
Về nguồn gốc sử dụng đất, thời điểm sử dụng vào mục đích cấp Giấy chứng nhận:
Theo hồ sơ cấp Giấy chứng nhận do UBND xã T xây dựng và xác nhận, thửa đất có nguồn gốc nhận thừa kế từ cha mẹ; sử dụng ổn định vào mục đích đất ở trước ngày 18/12/1980.
Về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Các số liệu liên quan thực hiện việc kê khai cấp Giấy chứng nhận cho ông Nguyễn Hữu H được kế thừa từ bản đồ số đạc năm 2007 xã T; việc kê khai, kiểm tra thực địa, công khai kết quả cấp Giấy chứng nhận được thực hiện theo đúng quy định; các chủ sử dụng đất liền kề đã ký xác nhận và thống nhất với ranh giới đo đạc.
- Thông tin thửa đất đã cấp Giấy chứng nhận cho bà Nguyễn Thị K:
Thông tin thửa đất qua các lần đo đạc bản đồ địa chính:
- + Theo hồ sơ đo đạc 299: Thửa đất liên quan thuộc thửa số 629, tờ bản đồ số 06, diện tích sử dụng 1.021,0m², chủ sử dụng đất Nguyễn Văn V - chồng của bà Nguyễn Thị K.
- + Theo hồ sơ đo đạc 371: Thuộc thửa số 71, tờ bản đồ số 06, diện tích sử dụng 942,0m², chủ sử dụng ghi “Nguyễn Văn V” - chồng của bà Nguyễn Thị K2;
- + Theo hồ sơ đo đạc năm 2007: Thuộc thửa đất số 182, tờ bản đồ số 19, diện tích sử dụng 759,5m², chủ sử dụng ghi “Nguyễn Văn V”.
Về nguồn gốc sử dụng đất, thời điểm sử dụng vào mục đích cấp Giấy chứng nhận:
Theo hồ sơ cấp Giấy chứng nhận do UBND xã T xây dựng và xác nhận, thửa đất có nguồn gốc được tự khai phá; sử dụng ổn định vào mục đích đất ở trước ngày 18/12/1980.
Về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Các số liệu liên quan thực hiện việc kê khai cấp Giấy chứng nhận cho hộ bà Nguyễn Thị K được kế thừa từ bản đồ số đạc năm 2007 xã T; việc kê khai, kiểm tra thực địa, công khai kết quả cấp Giấy chứng nhận được thực hiện theo đúng quy định; các chủ sử dụng đất liền kề đã ký xác nhận và thống nhất với ranh giới đo đạc.
- Quan điểm về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, kiến nghị, đề xuất:
- - Quan điểm xử lý vụ việc: Kết quả đo đạc thực địa, xét thấy hiện trạng sử dụng đất của các thửa đất và Giấy chứng nhận của hộ ông Nguyễn Hữu H và hộ bà Nguyễn Thị K có sự sai khác; hiện trạng sử dụng đất của các hộ không đúng với kết quả đo đạc bản đồ địa chính năm 2007 xã T và Giấy chứng nhận đã cấp; theo quy định tại Điểm d Khoản 2 Điều 106 Luật Đất đai năm 2013, Khoản 4 Điều 87 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai, được sửa đổi tại khoản 56 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai, các Giấy chứng nhận đã cấp cho hộ ông Nguyễn Hữu H và hộ bà Nguyễn Thị K đủ điều kiện thu hồi theo quy định.
- - Các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp trước đây đã thực hiện đầy đủ các quy trình, đã công khai đầy đủ, tuy vậy có một số nội dung dẫn đến việc cấp Giấy chứng nhận sai so với thực tế sử dụng, với các lý do:
- + Việc biên tập bản đồ có một số vị trí nối sai điểm đo;
- + Việc lập hồ sơ cấp Giấy chứng nhận được thực hiện trên cơ sở kết quả bản đồ đo đạc năm 2007 xã T (bản đồ phục vụ GPMB dự án Khai thác mỏ sắt T), việc đối soát, kiểm tra thực địa trước khi trình hồ sơ cấp Giấy chứng nhận có thực hiện nhưng không đầy đủ, do đó dẫn đến không phát hiện các sai khác giữa thực địa và bản đồ;
- + Việc thẩm định của Phòng T6 trước khi trình UBND huyện T cấp GCN cho các hộ gia đình được thực hiện trên cơ sở hồ sơ do UBND xã T xây dựng và xác nhận, bản đồ địa chính đã được phê duyệt; việc thẩm định thực địa có được thực hiện nhưng không hết các hồ sơ, nhiều trường hợp quá trình thẩm định không thể phát hiện sai sót do kiểm tra bằng mắt thường, không dùng các máy móc chuyên dùng.
UBND xã T đã tổ chức hòa giải với các bên liên quan, tuy vậy các hộ sử dụng đất (bà K, ông H) không thống nhất với với kết quả làm việc, không đồng ý với quan điểm thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp và cấp lại theo hiện trạng sử dụng đất.
Tôn trọng ranh giới thửa đất từ khi tạo lập cho mục đích đất ở đến nay, việc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp không đúng quy định nên đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh căn cứ nguồn gốc, quá trình, hiện trạng sử dụng đất và các hồ sơ do UBND xã T, thực hiện hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp theo quy định.
* Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ ngày 25/8/2023 cho thấy:
- - Thửa đất số 174, tờ bản đồ số 19, địa phận thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh, chủ sử dụng đất ông Nguyễn Hữu H và bà Hoàng Thị Châu L, đã được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sưe dụng đất số CB 499073, ngày 29/01/2016. Tứ cận: Phía Bắc giáp đất UBND xã quản lý; phía Nam giáp đất ông Dương K3 (đã chết) và đất bà Dương Thị Đ (đã chết); phía Đông giáp đất ông Dương Công Y; phía Tây giáp đất bà Nguyễn Thị K. Ranh giới phía Đông và phí nam do các đương sự tự thỏa thuận cắm mốc; ranh giới về Bắc do cán bộ địa chính xã xác định; ranh giới về phí Tây có móng tường rào do bà Nguyễn Thị K xây dựng. Trên đất có một ngôi nhà đổ mái bằng và công trình phụ do vợ chồng anh Nguyễn Hữu H đang sử dụng;
- - Thửa đất số 182, tờ bản đồ số 19, chủ sử dụng đất ông Nguyễn Văn V (đã chết) và bà Nguyễn Thị K, đã được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 879552, ngày 17/3/2008. Tứ cận: Phía Bắc đất ông Nguyễn Văn L3; phía Nam giáp đất ông Dương K3; phía Đông giáp đất ông Nguyễn Hữu H; phía Tây giáp đất ông Dương Quốc L4, trên đất có ngôi nhàcấp 4, công trình phụ và giếng nước do bà Nguyễn Thị K đang sử dụng. Mốc giới tứ cận do các đương sự thỏa thuận xác định; Phần công trình phụ và giếng nước hiện nay bà Nguyễn Thị K đang sử dụng nằm trên vị trí phần đất hiện nay anh Nguyễn Hữu H đang tranh chấp với bà Nguyễn Thị K.
- - Định vị tọa độ theo các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh Nguyễn Hữu H trên thực địa thì ranh giới phía Đông của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất anh Nguyễn Hữu H nằm chồng lên vị trí nhà anh Nguyễn Hữu H; ranh giới phía Tây của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất anh Nguyễn Hữu H nằm quá vị trí giếng nước nhà bà Nguyễn Thị K.
* Tại cuộc họp dân cư lấy ý kiến ngày 19/9/2023, gồm có 19 công dân tham gia xác định: Giếng nước nằm trên phần diện tích đang tranh chấp là giếng nước của bà Nguyễn Thị K, thời điểm đào giếng trước năm 1985.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 04/5/2024, những người làm chứng gồm: Ông Dương Công Y; ông Dương Kim T2; ông Dương Kim L1; ông Dương Công S1; ông Nguyễn Hữu N; ông Nguyễn Hữu B và ông Hồ Văn T3 trình bày: Ranh giới giữa đất vườn anh H và đất vườn bà K về phía Đông - Bắc vườn bà K có một cây giới, hiện nay vẫn còn; trên đất vườn bà K trước đây có trồng một hàng cây kè, hiện nay bà K đã chặt; trên đất vườn anh H có một hàng cây cổ thụ, hiện nay vẫn còn. Giếng nước hiện nay bà K đang sử dụng là của bà K đào từ trước năm 1985 và bà K sử dụng từ đó đến nay.
* Quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- - Về tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Về nội dung: Áp dụng các Điều 26, khoản 1, 4 Điều 34, điểm a khoản 1 Điều 37; Điều 147; khoản 1 Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 175 BLDS năm 2015; Điều 152 Luật đất đai năm 2024; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, xử:
- + Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Hữu H về việc: buộc bà Nguyễn Thị K trả lại 47m² diện tích đất đã lấn chiếm.
- + Hủy giấy CNQSD đất số CB 499073 ngày 29/01/2016 mang tên ông Nguyễn Hữu H, bà Hoàng Thị Châu L và giấy CNQSD đất số AL 879552 ngày 17/3/2008 mang tên ông Nguyễn Văn V, bà Nguyễn Thị K.
- Về án phí: Nguyên đơn ông Nguyễn Hữu H phải chịu án phí 300.000 đồng và chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp:
Nguyên đơn anh Nguyễn Hữu H khởi kiện yêu cầu bị đơn bà Nguyễn Thị K trả lại đất vườn bị lấn chiếm; người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Nguyễn Hào Q không chấp nhận trả đất theo yêu cầu của nguyên đơn. Do đó HĐXX xác định đây là tranh chấp đất đai được quy định tại khoản 9 Điều 26 BLTTDS.
[1.2] Về thẩm quyền giải quyết tranh chấp:
Thửa đất tranh chấp và các đương sự trong vụ án đều cư trú tại thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Quá trình giải quyết vụ án, đại diện theo ủy quyền của bị đơn yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp cho nguyên đơn và bị đơn; người đại diện theo ủy quyền của UBND xã T và UBND huyện T đều thừa nhận việc cấp giấy chứng nhận QSD đất có sai sót và đề nghị Tòa án xem xét hủy các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho đương sự nên căn cứ khoản 9 Điều 26; Điều 34; Điều 37; khoản 1 Điều 39 BLTTDS; Điều 32 Luật Tố tụng hành chính năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
[1.3] Về xét xử vắng mặt người đại diện theo ủy quyền của bị đơn:
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Nguyễn Hào Q đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó có đủ căn cứ xét xử vắng mặt người đại diện theo ủy quyền của bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 BLTTDS.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và ý kiến phía bị đơn:
Anh Nguyễn Hữu H yêu cầu bà Nguyễn Thị K tháo dỡ công trình xây dựng trái phép (nhà vệ sinh, giải phân cách, cột trụ cổng) để trả lại phần đất lấn chiếm có diện tích khoảng 47 m² (cụ thể nhà vệ sinh phía Tây khoảng 35m², cột trụ cổng phía Tây Bắc khoảng 12m²) theo đúng như hình dạng, kích thước được ghi trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng mà gia đình anh H được cấp. Tài liệu chứng cứ duy nhất anh Nguyễn Hữu H xuất trình để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB 499073, ngày 29/01/2016 do UBND huyện T cấp mang tên Nguyễn Hữu H và bà Hoàng Thị Châu L.
Trong khi đó, phía bị đơn cho rằng nguồn gốc đất gia đình bà K do cha ông để lại, đã sử dụng ổn định từ trước đến nay không có tranh chấp. Trên phần đất mà anh H cho rằng gia đình bị đơn lấn chiếm hiện vẫn còn một cái giếng có nguồn gốc được gia đình bà K nhờ người đào sử dụng từ năm 1965 đến nay. Thực tế ranh giới giữa hai gia đình ổn định từ thời bà N1 (là bà nội của anh H) và gia đình bà K cũng không xảy ra tranh chấp gì. Bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[2.2] Xét hồ sơ pháp lý liên quan đến nguồn gốc đất của hai gia đình thấy rằng:
Theo bản đồ 299 thì thửa đất của anh Nguyễn Hữu H sử dụng có diện tích 1.200m2, thuộc thửa số 628, tờ bản đồ số 06, chủ sử dụng đất ghi là “Nghi” (bà nội của anh Nguyễn Hữu H); Theo hồ sơ đo đạc 371 thửa đất trên có diện tích 1.058,0m², thuộc thửa số 72, tờ bản đồ số 06, tên người sử dụng là “Nguyễn Văn C” (cha đẻ anh Nguyễn Hữu H) và theo hồ sơ đo đạc năm 2007, đồng thời làm căn cứ để UBND cấp giấy CNQSD đất thì thửa đất trên thuộc thửa đất số 174, tờ bản đồ số 19, diện tích sử dụng 1.080,6m², chủ sử dụng ghi là “Nguyễn Hữu H”, địa chỉ thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh.
Đối với nguồn gốc đất của bà Nguyễn Thị K thể hiện: Theo bản đồ 299 thì thửa đất mà bà K đang sử dụng có diện tích 1.021,0m2, thuộc thửa số 629, tờ bản đồ số 06, chủ sử dụng đất ghi “Nguyễn Văn V” (là chồng của bà K); còn theo bản đồ 371 thể hiện có diện tích 942m2, thuộc thửa đất số 71, tờ bản đồ số 06, chủ sử dụng ghi “Nguyễn Văn V” (là chồng của bà K); Theo hồ sơ đo đạc năm 2007: Thuộc thửa đất số 182, tờ bản đồ số 19, diện tích sử dụng 759,5m², chủ sử dụng ghi “Nguyễn Văn V”; địa chỉ thôn T (trước đây là thôn M), xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Thửa đất của bà K đã được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 879522 ngày 17/3/2008 mang tên ông Nguyễn Văn V và bà Nguyễn Thị K.
Đối chiếu diện tích đất theo giấy chứng nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và diện tích theo bản đồ 299 thì đất anh H được cấp còn thiếu 119,4m²; đất bà K được cấp còn thiếu 261,5m². Trong khi đó đối chiếu diện tích đất theo giấy chứng nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và diện tích theo bản đồ 371 thì đất anh H được cấp thừa 22,6m²; đất bà K được cấp còn thiếu 182,5m². Ranh giới giữa thửa đất anh Nguyễn Hữu H và thửa đất bà Nguyễn Thị K theo bản đồ 299 và bản đồ 371 là một đường thẳng. Ranh giới giữa thửa đất anh Nguyễn Hữu H và thửa đất bà Nguyễn Thị K theo bản đồ 2007 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là một đường gấp khúc hai đoạn, điểm cuối dịch về phía đất bà Nguyễn Thị K. Quá trình sử dụng trước đây cũng như từ thời điểm được cấp Giấy CNQSD đất đến năm 2020 giữa hai gia đình sử dụng ổn định, không có tranh chấp.
[2.3] Xét Giấy CNQSD đất cấp cho anh Nguyễn Hữu H và chị Hoàng Thị Châu L (là căn cứ anh H chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình) thấy rằng:
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho gia đình anh H không đúng thực tế và có sai sót, thể hiện như sau: Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ trên cơ sở định vị theo tọa độ được thể hiện trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB 499073, ngày 29/01/2016 do UBND huyện T cấp cho ông Nguyễn Hữu H và bà Hoàng Thị Châu L so với thực địa thì: Ranh giới phía Đông của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nằm chồng lên vị trí nhà anh H (anh H và chị L khai nhà làm năm 2007); ranh giới phía Tây của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nằm vượt quá vị trí giếng nước bà K (Giếng nước đào trước năm 1985). Lý giải về vấn đề này thì đại diện UBND xã T và UBND huyện T đều thừa nhận trong quá trình lập hồ sơ cấp đất cho một số hộ dân tại xã T, trong đó có hộ anh H, bà K, do cơ quan chuyên môn sử dụng bản đồ đo vẽ năm 2007 (bản đồ phục vụ GPMB dự án Khai thác mỏ sắt T) và quá trình đối soát, kiểm tra thực địa không kỹ nên đã xảy ra sai sót, đã có sự chồng lấn về ranh giới giữa các gia đình; ranh giới trong Giấy chứng nhận QSD đất không đúng với thực tế. Do đó, đại diện UBND huyện T và UBND xã T đều có ý kiến đề nghị Tòa án xem xét hủy Giấy CNQSD đất cho các gia đình có sai sót, trong đó có gia đình anh H để cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc cấp lại cho đúng hiện trạng thực tế.
[2.4] Xét nguồn gốc các tài sản trên phần đất tranh chấp:
Qua xem xét thẩm định thực tế thấy rằng trên phần đất tranh chấp còn có một cái giềng đào. Theo trình bày của bà K thì nguồn gốc cái giếng này được gia đình bà nhờ người đào từ năm 1965; Quá trình lấy ý kiến của nhiều người dân sống lâu năm tại địa phương đều khẳng định nguồn gốc giếng nước nằm trên phần đất đang tranh chấp là của bà K, được đào vào thời điểm trước năm 1985 và thực tế đến nay bà K vẫn đang sử dụng giếng này. Bản thân anh H cũng thừa nhận cái giếng trên là của gia đình bà K đào và hiện nay đang sử dụng.
Theo ý kiến của những người làm chứng gồm: Ông Dương Công Y; ông Dương Kim T2; ông Dương Kim L1; ông Dương Công S1; ông Nguyễn Hữu N; ông Nguyễn Hữu B và ông Hồ Văn T3 thể hiện tại biên bản lấy lời khai ngày 04/5/2024 đều cho rằng: Ranh giới giữa đất vườn anh H và đất vườn bà K về phía Đông - B1 có một cây giới, hiện nay vẫn còn; trên đất vườn bà K trước đây có trồng một hàng cây kè, hiện nay bà K đã chặt; trên đất vườn anh H có một hàng cây cổ thụ, hiện nay vẫn còn. Nguồn gốc cái giếng do gia đình bà K đào từ trước năm 1985 và đến nay gia đình bà K vẫn sử dụng.
Trên cơ sở đánh giá hồ sơ pháp lý về nguồn gốc đất của hai gia đình, nguồn gốc các tài sản trên phần đất tranh chấp Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[2.5] Xét đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:
Qua kết quả xem xét thẩm định tại chỗ cho thấy tọa độ thể hiện trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho gia đình anh H và bà K đều không đúng thực tế, có sự chồng lấn về ranh giới. Lý giải về vấn đề này thì đại diện UBND xã T và UBND huyện T đều khẳng định trong quá trình lập hồ sơ cấp đất cho một số hộ dân tại xã T, trong đó có hộ anh H, bà K, do cơ quan chuyên môn sử dụng bản đồ đo vẽ năm 2007 (bản đồ phục vụ GPMB dự án Khai thác mỏ sắt T) và quá trình đối soát, kiểm tra thực địa không kỹ nên đã xảy ra sai sót, đã có sự chồng lấn về ranh giới giữa các gia đình; ranh giới trong Giấy chứng nhận QSD đất không đúng với thực tế. Đại diện UBND huyện T và UBND xã T đều có ý kiến đề nghị Tòa án xem xét hủy Giấy CNQSD đất cho các gia đình có sai sót, trong đó có gia đình anh H, bà K để cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc cấp lại cho đúng hiện trạng thực tế. Xét thấy việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có sai sót, không đúng thực tế là một trong những nguyên nhân làm phát sinh tranh chấp, cũng như ảnh hưởng đến quyền lợi của đương sự nên cần căn cứ Điều 34 BLTTDS và Điều 32 Luật Tố tụng hành chính tuyên hủy các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có sai sót nêu trên. Các đương sự có liên quan có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
[3] Về án phí:
Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không được Tòa án chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[4] Về chi phí tố tụng:
Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không được Tòa án chấp nhận nên phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng xem xét thẩm định tại chỗ. Nguyên đơn đã tạm ứng chi phí tố tụng và đồng ý với kết quả thanh toán chi phí tố tụng nên HĐXX miễn xét.
[5] Về quyền kháng cáo:
Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng khoản 9 Điều 26; Điều 34; Điều 37; khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 157; Điều 175, khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 BLTTDS; Điều 32 luật Tố tụng hành chính năm 2015; điểm d khoản 2 Điều 106 Luật Đất đai năm 2013, khoản 4 Điều 87 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai, được sửa đổi tại khoản 56 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai; Điều 152 Luật Đất đai năm 2024; khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Hữu H về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị K tháo dỡ công trình để trả lại phần đất có diện tích khoảng 47 m².
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB 499073, ngày 29/01/2016 do UBND huyện T cấp cho ông Nguyễn Hữu H và bà Hoàng Thị Châu L; hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 879552, ngày 17/3/2008 do UBND huyện T cấp cho ông Nguyễn Văn V và bà Nguyễn Thị K. Anh Nguyễn Hữu H, chị Hoàng Thị Châu L và bà Nguyễn Thị K có nghĩa vụ liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
- Về án phí: Buộc anh Nguyễn Hữu H phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ số tiền 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng) tạm ứng án phí DSST anh H đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Hà theo biên lai thu tiền số 0010003 ngày 29/5/2023. Anh Nguyễn Hữu H phải nộp tiếp số tiền 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng).
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án niêm yết theo quy định.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Văn Lâm |
Bản án số 36/2024/DS-ST ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về tranh chấp đất đai và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 36/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đất đai và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh H yêu cầu bà K trả lại đất vườn bị lấn chiếm
