Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN KỲ

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số: 36/2024/HS-ST

Ngày: 7/5/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN KỲ - TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà: Nguyễn Thị Vân Anh; Nơi công tác: Trường THPT Tân Kỳ, huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An.

Bà: Vũ Thị Thanh Hương; Nơi công tác: Ban dân vận - Huyện ủy Tân Kỳ.

Thư ký phiên toà: Ông Lê Thanh Bình – Thư ký Toà án nhân dân huyện Tân Kỳ.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Kỳ tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Văn Dân - Kiểm sát viên.

Trong ngày 7 tháng 5 năm 2024, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 24/2024/HSST, ngày 28/3/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An, đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Trần Đăng Duy K; giới tính: Nam; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 25/10/2004 tại huyện Đ, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm D, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông: Trần Đăng T, sinh năm: 1979 và bà: Trần Thị Thùy D, sinh năm: 1981; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/12/2023 đến 07/01/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại địa phương; có mặt.

  2. Họ và tên: Phan Văn A; giới tính: Nam; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 11/05/2004 tại huyện Đ, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm L, xã L, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông: Phan Văn T1, sinh năm: 1975 và bà: Phan Thị H, sinh năm: 1981; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại địa phương từ ngày 07/01/2024 đến nay; có mặt.

  3. Họ và tên: Nguyễn Trung Đ; giới tính: Nam; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 09/7/2006 tại huyện Đ, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm L, xã L, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ học vấn: 11/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông: Nguyễn Văn T2, sinh năm: 1976 và bà: Nguyễn Thị Hồng L, sinh năm: 1982; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại địa phương từ ngày 07/01/2024 đến nay.

  4. Họ và tên: Nguyễn Như B; giới tính: Nam; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 20/9/2007 tại huyện Đ, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm L, xã L, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ học vấn: 11/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông: Nguyễn Như C, sinh năm: 1965 và con bà: Trần Thị T3, sinh năm: 1971; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại địa phương từ ngày 07/01/2024 đến nay; có mặt.

  5. Họ và tên: Nguyễn Cảnh B1; giới tính: Nam; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 05/7/2007 tại huyện Đ, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm L, xã L, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ học vấn: 11/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông: Nguyễn Cảnh G - (Đã chết) và bà: Nguyễn Thị Y - Sinh năm: 1983; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại địa phương từ ngày 07/01/2024 đến nay; có mặt.

  6. Họ và tên: Phạm Trung H1; giới tính: Nam; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 31/10/2007 tại huyện Đ, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm L, xã L, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ học vấn: 11/12; con ông: Phạm Văn T4 - Sinh năm: 1975 và bà: Trần Thị M - Sinh năm: 1979; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại địa phương từ ngày 07/01/2024 đến nay; có mặt.

Người đại diện theo pháp luật cho các bị cáo:

  1. Người đại diện theo pháp luật cho bị cáo Phạm Trung H1: Chị Trần Thị M, sinh năm: 1979 (Mẹ đẻ). Trú tại: xóm L, xã L, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; có mặt.
  2. Người đại diện theo pháp luật cho bị cáo Nguyễn Cảnh B1: bà Tăng Thị H2, sinh năm: 1947 (Bà nội của B1). Trú tại: xóm L, xã L, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; có mặt.
  3. Người đại diện theo pháp luật cho bị cáo Nguyễn Như B: Ông Nguyễn Như C, sinh năm: 1965 (Bố đẻ). Trú tại: xóm L, xã L, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; có mặt.
  4. Người đại diện theo pháp luật cho bị cáo Nguyễn Trung Đ: Chị Nguyễn Thị Hồng L, sinh năm: 1982 (Mẹ đẻ). Trú tại: xóm L, xã L, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; có mặt.

Người bào chữa cho các bị cáo Nguyễn Trung Đ, Nguyễn Như B, Nguyễn Cảnh B1, Phạm Trung H1:

Bà Nguyễn Thị T5 – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N. Công tác tại: Chi nhánh T8, thị xã T, tỉnh Nghệ An; có mặt.

Bị hại:

  1. Anh Vi Văn H3, sinh ngày: 17/3/2005. Trú tại: xóm Đ- Đ, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
  2. Anh Hà Văn L1, sinh ngày: 02/01/2005. Trú tại: xóm Đ- Đ, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Phan Thị H, sinh năm: 1981. Trú tại: xóm L, xã L, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; có mặt.
  2. Anh Trần Đăng T, sinh năm: 1978. Trú tại: xóm D, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; có mặt.
  3. Cháu Phan Tuấn K1, sinh ngày: 04/10/2007. Trú tại: xóm D, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; người đại diện theo pháp luật cho cháu Phan Tuấn K1: Anh Phan Tuấn Q, sinh năm: 1976 (bố đẻ). Trú tại: xóm D, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
  4. Cháu Nguyễn Văn V, sinh ngày: 16/4/2006. Trú tại: xóm A, xã L, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; người đại diện theo pháp luật cho cháu Nguyễn Văn V: Anh Nguyễn Văn M1, sinh năm: 1975 (bố đẻ). Trú tại: xóm A, xã L, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
  5. Chị Ngân Thị N, sinh năm: 1979. Trú tại: xóm Đ- Đ, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.

Người làm chứng:

  1. Anh Lê Đình N1, sinh năm: 2005. Trú tại: xóm F, xã T, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
  2. Anh Nguyễn Khắc B2, sinh năm: 2004. Trú tại: xóm A, xã L, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
  3. Cháu Lê Đình Tuấn K2, sinh ngày: 11/10/2006. Trú tại: xóm F, xã T, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; người đại diện theo pháp luật cho cháu Lê Đình Tuấn K2: Chị Nguyễn Thị Tố H4, sinh năm: 1982 (mẹ đẻ). Trú tại: xóm F, xã T, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
  4. Cháu Trần Hậu B3, sinh ngày: 04/10/2006. Trú tại: xóm B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; người đại diện theo pháp luật cho cháu Trần Hậu B3: Ông Trần Hậu M2, sinh năm: 1964 (bố đẻ). Trú tại: xóm C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
  5. Cháu Nguyễn Thùy L2, sinh ngày: 16/11/2007. Trú tại: khối B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An; người đại diện theo pháp luật cho cháu Nguyễn Thùy L2: Chị Nguyễn Thị Kim C1, sinh năm: 1977 (mẹ đẻ). Trú tại: khối B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
  6. Anh Vi Văn Q1, sinh năm: 2004. Trú tại: xóm Đ- Đ, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
  7. Anh Vi Văn T6, sinh ngày: 04/01/2006. Trú tại: xóm Đ- Đ, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
  8. Anh Lô Văn S, sinh năm: 2005. Trú tại: xóm Đ- Đ, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 21 giờ 00 phút ngày 28/12/2023, Trần Đăng Duy K điều khiển xe máy (nhãn hiệu Honda, số loại Wave Alpha màu sơn đen, đã thảo biển kiểm soát) chở Nguyễn Trung Đ; Phạm Trung H1 điều khiển xe máy (nhãn hiệu Honda, số loại Wave Alpha, màu sơn đen, biển kiểm soát: 37D2-546.68) chở Phan Văn A; Còn Nguyễn Cảnh B1 điều khiển xe máy (nhãn hiệu Honda, số loại Wave Alpha, màu sơn đen, biển kiểm soát: 37N2-019.10) chở Nguyễn Như B đi cùng nhau từ huyện Đ đến thị trấn T, huyện T để chơi. Khi đến khu vực thuộc K, thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An thì gặp chị Nguyễn Thùy L2 nên nhóm của Trần Đăng Duy K có lời nói trêu đùa chị L2 rồi tiếp tục di chuyển. Đến khoảng 23 giờ 25 phút, nhóm của Trần Đăng Duy K đang tụ tập tại lề đường đối diện quán K4 thuộc K, thị trấn T, huyện T thì thấy chị Nguyễn Thùy L2 đi ngang qua nên nhóm của K tiếp tục có những lời nói trêu đùa đối với chị Nguyễn Thùy L2 nên chị L2 đã nhắn tin cho Vi Văn H3 (lúc này Vi Văn H3 đang ngồi chơi ở Công viên thị trấn T cùng với Vi Văn T6; Vi Văn Q1, Lô Văn S và Hà Văn L1) kể về sự việc nói trên. Nghe vậy, nhóm của anh Vi Văn H3 di chuyển từ Công viên đi hướng Ngã ba đèn xanh, đèn đỏ đường mòn H5 để đón chị Nguyễn Thùy L2 về nhà.

Đến khoảng 23 giờ 29 phút, khi nhóm của anh Vi Văn H3 điều khiển xe máy đi qua quán K4 thì nhóm của Trần Đăng Duy K cho rằng nhóm của anh Vi Văn H3 có thái độ khó chịu nên nhóm của K đã thống nhất đuổi theo để đánh nhóm của anh Vi Văn H3. Lúc này, Phan Văn A lấy 01 (một) chổi lau của nhà dân để ngay cạnh, rút cán bằng kim loại, bẻ làm đôi rồi cầm trên tay. Sau đó, nhóm của Trần Đăng Duy K điều khiển xe máy đuổi theo nhóm của anh Vi Văn H3. Khi đến khu vực Ngã ba đèn xanh, đèn đỏ thuộc khu vực đường M thì Vi Văn H3 dừng lại (lúc này Vi Văn T6, Vi Văn Q1, Lô Văn S, Hà Văn L1 đi trước và đang đứng ở quán C3 chờ Vi Văn H3), xe do Phạm Trung H1 và Nguyễn Cảnh B1 điều khiển vượt qua đi trước, còn Trần Đăng Duy K điều khiển xe máy ép xe của anh Vi Văn H3 vào lề đường. Ngay sau khi ép xe, Trần Đăng Duy K điều khiển xe vụt qua, bấm còi xe liên tục để khiêu khích rồi di chuyển theo hướng đi đến Cột mốc số 0, đi khoảng 50m Trần Đăng Duy K to tiếng “Bay mà bản lĩnh thì bay rệt lên đây này”, trong lúc đó Phạm Trung H1, Phan Văn A, Nguyễn Cảnh B1 và Nguyễn Như B đi trước cũng ngoái đầu nhìn lại. Khi Trần Đăng Duy K to tiếng hét, Vi Văn H3 nói “Bay có bản lĩnh thì quay lại mà rệt này”, đồng thời Vi Văn H3 điều khiển xe đi theo hướng đến Nghĩa trang Liệt sĩ huyện T, thấy vậy Hà Văn L1 và Lô Văn S cũng điều khiển xe đi theo Vi Văn H3. Trần Đăng Duy K nói “Đ, mi xuống nhặt đá mà ném quân nở”, “Q1 thằng A quay lại mà ăn quân ni luôn”, nghe vậy, Nguyễn Trung Đ xuống xe nhặt đá bên lề đường, cầm trên tay; Phạm Trung H1 điều khiển xe chở Phan Văn A, Nguyễn Cảnh B1 điều khiển xe chở Nguyễn Như B cua xe quay lại để cùng đuổi đánh nhóm của anh Vi Văn H3. Đuổi khoảng 100m thì Nguyễn Trung Đ dùng đá đang cầm trên tay ném về phía nhóm của anh Vi Văn H3 nhưng không trúng. Nhóm của Trần Đăng Duy K tiếp tục rượt đuổi, khoảng 400m thì đuổi kịp xe của anh Vi Văn H3, còn Hà Văn L1 và Lô Văn S điều khiển xe đi trước. Tại vị trí này, Phạm Trung H1 điều khiển xe tiếp cận với xe anh Vi Văn H3 đầu tiên, Phan Văn A dùng cán chổi kim loại mang theo đánh vào đầu anh Vi Văn H3 rồi điều khiển xe chở Phan Văn A đuổi theo Hà Văn L1 và Lô Văn S; tiếp đến xe do Nguyễn Cảnh B1 điều khiển tiếp cận thì Nguyễn Như B dùng bình xịt hơi cay xịt vào mặt anh Vi Văn H3; Còn Trần Đăng Duy K điều khiển xe đi sau cách xe của anh Vi Văn H3 khoảng 5m. Khi bị xịt hơi cay, do bị cay mắt nên anh Vi Văn H3 vứt xe, chạy bộ theo hướng ngược lại nên Trần Đăng Duy K, Nguyễn Cảnh B1, Nguyễn Như B và Nguyễn Trung Đ đều xuống xe, chạy bộ đuổi theo anh Vi Văn H3. Khi chạy được khoảng 30 mét thì anh Vi Văn H3 dừng lại, lẩn tránh được sự truy đuổi của Trần Đăng Duy K và đồng bọn nên chạy quay lại và lấy chiếc xe máy của Trần Đăng Duy K đang dựng ở trên đường rồi điều khiển xe di chuyển theo hướng đi Nghĩa trang L để thoát thân. Ngay lúc đó, Phạm Trung H1 và Phan Văn A quay lại, Phan Văn A ném cán

chổi kim loại bên lề đường. Nguyễn Cảnh B1 có ý định đập phá xe của anh Vi Văn H3 nhưng Trần Đăng Duy K nói “Xe ni đang mới, hấn lấy xe tau rồi, lấy xe đó mà về, sau đổi lại sau” thì được mọi người trong nhóm đồng ý thống nhất nên Nguyễn Cảnh B1 điều khiển xe máy (nhãn hiệu Wave alpha màu xanh đen bạc, biển kiểm soát: 37N2-450.23) của anh Vi Văn H3 chở Nguyễn Trung Đ rồi cả nhóm của Trần Đăng Duy K điều khiển xe theo hướng đi ngược lại Ngã ba đèn xanh, đèn đỏ đường mòn Hồ Chí Minh để về huyện Đ, trên đường đi Nguyễn Như B ném bình xịt hơi cay bên lề đường.

Khi đến địa phận xã G, huyện Đ, Trần Đăng Duy K nói với Phan Văn A “Đưa máy để nói quân ni cầm đồ lên để mà lấy lại cái xe” (Ý của K là lấy dao, mác, phóng lợn lên huyện T để lấy lại xe máy của mình) thì Phan Văn A đồng ý đưa điện thoại (nhãn hiệu Iphone, số loại 13, màu trắng hồng) cho Trần Đăng Duy K. Sau đó, Trần Đăng D1 K gọi điện thoại cho Nguyễn Văn V nhưng V không nghe máy nên liền gọi cho Lê Đình N1 nói “Bay đưa đồ lên cầu B để tí lên T ăn quân nở rồi lấy lại xe” và kể cho Lê Đình N1 nghe sự việc đuổi đánh nhóm của anh Vi Văn H3 ở thị trấn T, huyện T. Lê Đình N1 trả lời: “OK, choa lên dừ”. Sau đó, Lê Đình N1 nói lại với Nguyễn Khắc B2 và Nguyễn Văn V, đều trú tại: xóm A, xã L, huyện Đ “Ai lấy đồ để lên T đập mấy thằng, lấy lại xe cho thằng K”. Nghe vậy, Nguyễn Văn V nói “Anh đi cùng với em, em biết chỗ lấy đồ”. Nguyễn Khắc B2 điều khiển xe máy (nhãn hiệu Honda, số loại Wave Alpha, màu sơn đen bạc, mang biển kiểm soát: 37D2-530.32) chở Lê Đình N1 và Nguyễn Văn V để đi lấy hung khí (Nguyễn Văn V trực tiếp lấy hung khí gồm: 01 (một) phóng lợn, dài 1.8m, lưỡi dao dài 25cm và 01 (một) dao kiểu rạ phát dài 2.2m, lưỡi dao quắm dài 25cm tại nhà ở của mình) rồi cầm theo hung khí di chuyển đến thị trấn T, huyện T. Đến khu vực xã T, huyện Đ thì nhóm của Lê Đình N1 gặp Lê Đình T7 K2 điều khiển xe máy chở Phan Tuấn K1, nên Phan Tuấn K1 hỏi “Đi mô đó?” thì Nguyễn Văn V trả lời “K bị lấy xe khi đập chắc ở trên T, quân bị đập hấn lấy xe chạy rồi, lên lấy xe lại với K”, nghe vậy Phan Tuấn K1 rủ Lê Đình Tuấn K2 cùng đi đến huyện T với nhóm của Lê Đình N1 thì K2 đồng ý. Sau đó, cả nhóm của Lê Đình N1 đi đến khu vực Ngã ba T, xã T, huyện Đ thì gặp nhóm Trần Đăng Duy K. Tại đây, Nguyễn Văn V đưa cho Phan Văn A 01 (một) phóng lợn và giữ lại 01 (một) dao rạ phát trên tay mình. Sau đó, tất cả cùng di chuyển đến thị trấn T, huyện T. Khi đến gần khu gần Cây xăng N thuộc K, thị trấn T, huyện T thì Trần Đăng D1 K thấy có 01 (một) két bia thủy tinh rỗng bỏ bên đường nên dừng xe lại nói Nguyễn Như B xuống lấy, Nguyễn Như B nhảy xuống lấy két bia thủy tinh rỗng rồi lên xe ngồi và tiếp tục đuổi theo đồng bọn.

Khi cả nhóm đi đến khu vực Ngã ba gần quán B5 thuộc K, thị trấn T thì Lê Đình N1, Nguyễn Khắc B2, Lê Đình Tuấn K2 đứng bên lề đường mòn Hồ Chí

M3, Phan Tuấn K1, Nguyễn Văn V, Phạm Trung H1, Phan Văn A, Nguyễn Cảnh B1 và Nguyễn Trung Đ dừng xe đứng cách vị trí quán B5 khoảng 15m và chửi bới, la hét, dùng đá ném về hướng quán B4-a nhưng không gây thiệt hại. Đến khoảng 00 giờ 12 phút ngày 29/12/2023, Trần Đăng Duy K điều khiển xe chở Nguyễn Như B đi qua quán B5-a rồi vòng lại dừng trước cửa quán. Thời điểm này, tại vị trí trước quán B5, Nguyễn Văn V chỉ vào chiếc xe máy (nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu sơn xanh, mang biển kiểm soát: 37N2-004.54 mà trước đó Vi Văn Q1 đã điều khiển đến sau khi bị nhóm của Trần Đăng D1 K rượt đuổi) và nói to “Địt mẹ, bây ra đây, bây ra đây, xe ai đây, xe ai đây”, Phan Tuấn K1 nói to “Địt con mẹ, xe ai đây, xe ai đây”, Nguyễn Trung Đ nói “Không phải xe Khánh Thái”, Phan Tuấn K1 tiếp tục nói to “Đập nát xe” và lấy cây phóng lợn từ Phan Văn A đập vào phần đuôi xe làm gãy phần chắn bùn sau của chiếc xe. Ngay sau đó, Nguyễn Văn V nói theo “Đập nát xe, đạp nát xe”, rồi dùng dao rạ dài chém liên tục vào phần đầu của chiếc xe, Phan Tuấn K1 tiếp tục chém mạnh vào phần đuôi xe, yên xe, đầu xe... Tiếp đó, Nguyễn Cảnh B1 và Nguyễn Trung Đ nhặt đá ở mặt đường ném vào chiếc xe; Phan Văn A lấy 02 (hai) chai bia thủy tinh từ trên xe của Trần Đăng Duy K ném vào chiếc xe. Cuối cùng Nguyễn Cảnh B1 tiếp tục dùng đá ném chiếc xe, rồi dùng chân đạp ngã chiếc xe máy xuống đường. Hậu quả làm chiếc xe máy mang biển kiểm soát: 37N2-004.54 bị hư hỏng nhiều bộ phận.

Đến khoảng 00 giờ 14 phút ngày 29/12/2023, sau khi thực hiện xong hành vi đập phá thì Trần Đăng Duy K cùng đồng bọn điều khiển xe về huyện Đ, trên đường D K bỏ két bia bên đường (không nhớ cụ thể vị trí), dao phóng lợn và dao rạ phát được Phan Tuấn K1 cầm về cất giấu.

Sau khi bị đánh Vi Văn H3 đã đến Công an huyện T trình báo sự việc nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tiến hành xác minh. Đến khoảng 03 giờ ngày 29/12/2023, khi Trần Đăng Duy K cùng đồng bọn quay lại thị trấn T để đổi xe, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã phát hiện và thi hành Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 110 Bộ luật Tố tụng Hình sự đối với Trần Đăng Duy K về hành vi Gây rối trật tự công cộng. Đến khoảng 7 giờ 00 phút ngày 29/12/2023, Phan Văn K3 đến Cơ quan cảnh sát điều tra C4 về hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, đồng thời giao nộp 01 (một) chiếc dao phóng lợn và 01 (một) dao rạ phát. Sau đó, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã triệu tập các đối tượng có liên quan để làm việc.

Ngày 03/01/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T ra Yêu cầu định giá tài sản số 36/YC-CSĐT gửi Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự UBND huyện T đối với các bộ phận hư hỏng của chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, số loại Wave Alpha, màu xanh, biển kiểm soát: 37N2-004.54. Tại Bản

Kết luận định giá số 06/KL-HĐĐG của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự UBND huyện T ngày 17/01/2024 kết luận: “Tổng giá trị của các bộ phận của 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, số loại Wave Alpha, màu xanh, sản xuất năm 2023, xe đã qua sử dụng (tính bằng tiền Việt Nam đồng (Chưa bao gồm chi phí lắp đặt, sửa chữa)) thời điểm ngày 29/12/2023 là: 1.760.000 đồng (Một triệu bảy trăm sáu mươi nghìn đồng)”.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Trần Đăng Duy K, Phan Văn A, Nguyễn Trung Đ, Nguyễn Như B, Nguyễn Cảnh B1 và Phạm Trung H1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với nhau, phù hợp lời khai bị hại, người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác mà Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã thu thập được có tại hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số 31/CT-VKSTK ngày 26 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An, đã truy tố các bị cáo Trần Đăng Duy K, Phan Văn A, Nguyễn Trung Đ, Nguyễn Như B, Nguyễn Cảnh B1 và Phạm Trung H1 về tội “Gây rối trật tự công cộng” được quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Các bị cáo Trần Đăng Duy K, Phan Văn A, Nguyễn Trung Đ, Nguyễn Như B, Nguyễn Cảnh B1 và Phạm Trung H1 thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Kỳ giữ nguyên nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 318, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự.
  • + Xử phạt Trần Đăng Duy K mức án từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • Áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 318, điểm b, s khoản 1, Điều 51, Điều 54, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự.
  • + Xử phạt Phan Văn A mức án từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • Áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 318, điểm b, s khoản 1, Điều 51, Điều 54, Điều 58, Điều 65, Điều 90, Điều 91, điểm a khoản 1 Điều 95 Bộ luật hình sự.
  • Áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn từ A đến 2 năm đối với các bị cáo Nguyễn Trung Đ, Nguyễn Như B, Nguyễn Cảnh B1, Phạm Trung H1.

Về vật chứng: Tiêu hủy 01 (một) cây phóng (phóng lợn) làm bằng kim loại có chiều dài 1,8m; 01 (một) cây (dạng dao rạ) làm bằng kim loại có chiều dài 2,2m, thân được làm bằng ống tuýp có đường kính 3cm, một đầu được hàn lưỡi dao quắm dài 25cm.

Về dân sự: Quá trình thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng các bị cáo đã gây thương tích cho anh Vi Văn H3. Tuy nhiên, anh Vi Văn H3 đã có đơn từ chối giám định tỉ lệ thương tật và không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự, đồng thời đại diện gia đình các bị cáo đã bồi thường số tiền: 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng). Anh Vi Văn H3 có đơn không có yêu cầu bồi thường dân sự gì thêm nên miễn xét.

Về án phí: Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Phần tranh luận: Bị cáo, người đại diện theo pháp luật của các bị cáo và Người bào chữa cho các bị cáo là bà Nguyễn Thị T5 trình bày: Đồng ý về quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Kỳ về tội danh, điều luật áp dụng. Các bị cáo Nguyễn Trung Đ, Nguyễn Như B, Nguyễn Cảnh B1 và Phạm Trung H1 phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, nhận thức về pháp luật còn non kém vì vậy xin Hội đồng xét xử xem xét áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn từ 1 năm đến 1 năm 6 tháng đối với các bị cáo.

Các bị cáo có lời nói sau cùng: Các bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

  1. [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo, bị hại, người đại diện theo pháp luật của các bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng với quy định của pháp luật.
  2. [2] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa các bị cáo Trần Đăng Duy K, Phan Văn A, Nguyễn Trung Đ, Nguyễn Như B, Nguyễn Cảnh B1 và Phạm Trung H1 đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình thực hiện đúng như nội dung bản Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Kỳ đã quy kết. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, như vậy đã có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 23 giờ 25 phút ngày 28/12/2023, xuất phát từ mẫu thuẫn nhỏ với nhóm thanh niên của anh Vi Văn H3 nên Trần Đăng Duy K đã thống nhất cùng Phan Văn A, Nguyễn Trung Đ, Nguyễn Như B, Nguyễn Cảnh B1 và Phạm Trung H1 điều khiển xe máy hò hét, rượt đuổi để đánh nhóm của anh Vi Văn H3, khi nhóm của K đuổi kịp anh Vi Văn H3 thì Phan Văn A sử dụng cán chổi bằng kim loại đánh vào người anh H3; Nguyễn Như B sử dụng bình xịt hơi cay xịt vào mặt anh H3 khiến anh Vi Văn H3 phải vứt xe bỏ chạy bộ thì bị nhóm của Trần Đăng Duy K hò hét, rượt đuổi để đánh gây mất an ninh trật tự trên tuyến đường liên khối thuộc K, thị trấn T, huyện T. Sau đó, Trần Đăng Duy K tiếp tục gọi điện thoại cho một số thanh niên ở huyện Đ đưa hung khí là 01 (một) dao phóng lợn và 01 (một) dao rạ phát đến Quán B5 thuộc K, thị trấn T, huyện T. Tại đây, Trần Đăng Duy K, Phan Văn A, Nguyễn Trung Đ, Nguyễn Như B, Nguyễn Cảnh B1, Phạm Trung H1 cùng với Phan Tuấn K1, Võ Văn V1 đã hò hét và sử dụng hung khí, vỏ chai bia và nhặt đá ném để thực hiện hành vi đập phá xe máy của anh Hà Văn L1 làm hư hỏng tài sản, với giá trị thiệt hại là: 1.760.000 đồng (Một triệu bảy trăm sáu mươi nghìn đồng) đã gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn thị trấn T, huyện T trong khoảng thời gian gần 01 giờ đồng hồ. Trong vụ án này, Trần Đăng Duy K cùng với các bị cáo Phan Văn A, Nguyễn Trung Đ, Nguyễn Như B, Nguyễn Cảnh B1 và Phạm Trung H1 thực hiện hành vi phạm tội với vai trò là người thực hành.

    Hành vi của Trần Đăng Duy K, Phan Văn A, Nguyễn Trung Đ, Nguyễn Như B, Nguyễn Cảnh B1 và Phạm Trung H1 đã phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự.

  3. [3] Hành vi phạm tội của các bị cáo Trần Đăng Duy K, Phan Văn A, Nguyễn Trung Đ, Nguyễn Như B, Nguyễn Cảnh B1 và Phạm Trung H1 là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an ninh xã hội, cuộc sống sinh hoạt ổn định của cộng đồng. Ngoài ra còn xâm phạm đến các hoạt động đi lại, làm việc, nguyên tắc an toàn nơi công cộng tại nơi có nhiều người qua lại. Khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi làm mất trật tự, an ninh là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Điều đó chứng tỏ các bị cáo là đối tượng xem thường pháp luật. Vì vậy cần có đường lối xử phạt nghiêm minh tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện.

    Trong vụ án này, các bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội không có sự bàn bạc, tổ chức, cấu kết chặt chẽ nên vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn.

  4. [4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

    Tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo Trần Đăng Duy K, Phan Văn A, Nguyễn Trung Đ, Nguyễn Như B, Nguyễn Cảnh B1 và Phạm Trung H1, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tự nguyện bồi thường khắc phục toàn bộ hậu quả. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

    Bị cáo Trần Đăng Duy K có bố có thành tích trong hoạt động văn hóa thể dục thể thao được tặng giấy khen; bị cáo Nguyễn Trung Đ và Nguyễn Như B trong quá trình học tập được nhà trường tặng giấy khen; các bị cáo Nguyễn C2 bảo, Nguyễn Như B và Phạm Trung H1 đều có ông nội từng tham gia hoạt động cách mạng và được Nhà nước tặng thưởng huân huy chương và kỷ niệm chương. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

  5. [5] Về hình phạt: Trong vụ án này các bị cáo Trần Đăng Duy K, Phan Văn A, Nguyễn Trung Đ, Nguyễn Như B, Nguyễn Cảnh B1 và Phạm Trung H1 thực hiện hành vi phạm tội với vai trò là người thực hành tích cực.

    Bị cáo Trần Đăng Duy K là người rủ rê, Phan Văn A là người chuẩn bị công cụ phạm tội vì vậy mức án của bị cáo K và A sẽ ngang nhau nhưng cao hơn các bị cáo khác. Xét thấy bị cáo K và bị cáo A có 2 tình tiết giảm nhẹ ở khoản 1 Điều 51, bị cáo K có 1 tình tiết giảm nhẹ ở khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Thiết nghĩ cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo, áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự để áp dụng một mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng cho các bị cáo. Các bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng và có khả năng tự cải tạo mà không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự cho các bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của đại diện viện kiểm sát là phù hợp và cũng đủ điều kiện giáo dục và phòng ngừa chung.

    Bị cáo Nguyễn Trung Đ phạm tội khi mới 17 tuổi 5 tháng 18 ngày, Nguyễn Như B phạm tội khi mới 16 tuổi 3 tháng 8 ngày, Nguyễn Cảnh B1 16 tuổi 5 tháng 23; Phạm Trung H1 16 tuổi 1 tháng 02 ngày, ở lứa tuổi chưa thành niên nên các bị cáo nhận thức pháp luật còn hạn chế, các bị cáo phạm tội nghiêm trọng nhưng xét thấy các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, vì vậy áp dụng Điều 54, Điều 90, Điều 91, Điều 36 Bộ luật hình sự cho các bị cáo được hưởng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng cho các bị cáo, cho các bị cáo được hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ như thế vừa thể hiện tính nghiêm minh vừa thể hiện tính khoan hồng của pháp luật. Các bị cáo đang là học sinh nên miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ.

  6. [6] Về vật chứng vụ án gồm: 01 (một) cây phóng (phóng lợn) làm bằng kim loại có chiều dài 1,8m; 01 (một) cây (dạng dao rạ) làm bằng kim loại có chiều dài 2,2m, thân được làm bằng ống tuýp có đường kính 3cm, một đầu được hàn lưỡi dao quắm dài 25cm là vật chứng vụ án không còn giá trị sử dụng nên áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để tiêu hủy.
  7. [7] Đối với hành vi Phan Tuấn K1, Nguyễn Văn V là những đối tượng tích cực thực hiện hành vi đập phá chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, số loại Wave Alpha, màu sơn xanh, biển kiểm soát: 37N2-004.54, gây ra thiệt hại cho anh Hà Văn L1 với số tiền: 1.760.000 đồng (Một triệu bảy trăm sáu mươi nghìn đồng) nên chưa đủ định lượng để cấu thành tội phạm “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại Điều 178 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Phan Tuấn K1 và Nguyễn Văn V là đúng quy định pháp luật.
    • * Đối với Nguyễn Cảnh B1, Phan Văn A, Nguyễn Trung Đ tham gia đập phá chiếc xe máy Wave Alpha, màu sơn xanh, biển kiểm soát: 37N2-004.54 với vai trò thứ yếu; Còn Trần Đăng Duy K, Phạm Trung H1, Nguyễn Như B tuy không trực tiếp thực hiện hành vi đập phá nhưng đóng vai trò giúp sức về vật chất hoặc tinh thần để các đối tượng trên thực hiện hành vi. Tuy nhiên, hành vi này, nằm trong chuỗi hành vi “Gây rối trật tự công cộng” là tình tiết định khung tăng nặng, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự, Vì vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T không ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với 06 (sáu) bị cáo về hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản” là đúng quy định pháp luật.
    • * Đối với Lê Đình N1 là người trực tiếp tiếp nhận thông tin từ Trần Đăng Duy K, sau đó đã cùng với Nguyễn Khắc B2 và Nguyễn Văn V giúp sức cho các bị cáo chuẩn bị hung khí với mục đích đi đến huyện T để lấy lại tài sản cho Trần Đăng Duy K. Nên hành vi đập phá chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, số loại Wave Alpha, màu sơn xanh, biển kiểm soát: 37N2-004.54 là hành vi bộc phát, trái với mục đích ban đầu, hơn nữa Lê Đình N1, Nguyễn Khắc B2, Lê Đình Tuấn K2 không tham gia đập phá chiếc xe máy, do đó không đủ căn cứ để xử lý hình sự đối với Lê Đình N1, Nguyễn Khắc B2, Lê Đình Tuấn K2.
  8. [9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

  1. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt Trần Đăng Duy K 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 30 (Ba mươi) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 7/5/2024. Về tội “gây rối trật tự công cộng”.
  2. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 54, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt Phan Văn A 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 30 (Ba mươi) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 7/5/2024. Về tội “gây rối trật tự công cộng”.

    Giao các bị cáo Trần Đăng Duy K cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; giao Phan Văn A cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện Đ, tỉnh Nghệ An, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự như sau:

    • Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.
    • Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục; trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.
    • Việc giải quyết trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật Thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách các bị cáo được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 điều 65 bộ luật hình sự.

  3. 3. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 58, Điều 36, Điều 90, Điều 91 Bộ luật hình sự.

    Xử phạt các bị cáo Nguyễn Trung Đ, Nguyễn Như B, Nguyễn Cảnh B1 và Phạm Trung H1 mỗi bị cáo 6 (Sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Về tội “gây rối trật tự công cộng”. Miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ.

    Giao các bị cáo Nguyễn Trung Đ, Nguyễn Như B, Nguyễn Cảnh B1 và Phạm Trung H1 cho UBND xã L, huyện Đ, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian các bị cáo chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Thời gian cải tạo không giam giữ của các bị cáo được tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, nhận được quyết định thi hành án. Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát bị cáo thực hiện theo Điều 100 Luật thi hành án hình sự.

  4. 4. Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tiêu hủy 01 (một) cây phóng (phóng lợn) làm bằng kim loại có chiều dài 1,8m; 01 (một) cây (dạng dao rạ) làm bằng kim loại có chiều dài 2,2m, thân được làm bằng ống tuýp có đường kính 3cm, một đầu được hàn lưỡi dao quắm dài 25cm.

    Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 28 tháng 3 năm 2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện T và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Kỳ.

  5. 5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30.12.2016 về án phí, lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Trần Đăng Duy K, Phan Văn A, Nguyễn Trung Đ, Nguyễn Như B, Nguyễn Cảnh B1 và Phạm Trung H1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  6. 5. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Các bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị cáo, người bào chữa cho bị báo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND huyện Tân Kỳ;
  • - Công an huyện Tân Kỳ;
  • - Chi cục THADS Tân Kỳ;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Bị cáo; đương sự;
  • - UBND xã Lưu Sơn, UBND xã Đà Sơn;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - UBND xã Lưu Sơn, h.Đô Lương.
  • - UBND xã Đà Sơn, h.Đô Lương.

T.M/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Thu Hương

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa

Thái Khắc Ngọc Thái Văn Sửu

Nguyễn Thị Thu Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 36/2024/HS-ST ngày 07/05/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An về gây rối trật tự công cộng (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 36/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng (Vụ án hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án số 36/2024/HS-ST ngày 07/05/2024
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger