|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 36/2024/HS-ST Ngày: 05 - 6 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Ngọc Quang
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đoàn Cát Nhơn – Giáo viên Trường THCS phường Bình Định, thị xã An Nhơn
Ông Đặng Hồng Ngọc – Giáo viên hưu trí.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đình Dân – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Lưu Công Quyền - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 20/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1008/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 5 năm 2024, đối với
1. Bị cáo: Phạm Ngọc D sinh ngày 18 tháng 7 năm 2006 tại thị xã A, tỉnh Bình Định; nơi cư trú: Thôn K, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Ngọc Đ sinh năm 1976 và bà Văn Thị Dân s năm 1977; vợ, con: Không có; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 15/02/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt.
2. Người đại diện hợp pháp của bị cáo Phạm Ngọc D: Ông Phạm Ngọc Đ sinh năm 1976; nơi cư trú: Thôn K, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định, là cha của bị cáo, có mặt.
3. Người bào chữa cho bị cáo Phạm Ngọc D: Ông Lê Thành T – Trợ giúp viên pháp lý công tác tại Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B, có mặt.
4. Người bị hại:
4.1. Chị Trần Thị Thu Thủy s1 năm 1992; nơi cư trú: Thôn T, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định, vắng mặt;
4.2. Bà Trịnh Thị Trung T1 sinh năm 1954; nơi cư trú: Thôn N, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định, vắng mặt – có yêu cầu xét xử vắng mặt;
4.3. Bà Võ Thị Quý L sinh năm 1950; nơi cư trú: Thôn H, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định, vắng mặt – có yêu cầu xét xử vắng mặt;
5. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2. 4.1. Bà Lê Thị Kim K sinh năm 1959; nơi cư trú: Số nhà G Hồ N, phường Đ, thị xã A, tỉnh Bình Định, vắng mặt;
5.2. Ông Phạm Ngọc Đ sinh năm 1976; nơi cư trú: Thôn K, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định, có mặt
5.3. Bà Ngô Thị P sinh năm 1969; nơi cư trú: Thôn A, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định, vắng mặt
6. Người làm chứng:
6.1. Ông Nguyễn Hữu X sinh năm 1963; nơi cư trú: Thôn T, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định, vắng mặt;
6.2. Bà Phạm Thị Kiều O sinh năm 1987; Thôn T, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định, có mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 14/02/2024, Phạm Ngọc D điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đen bạc, biển kiểm soát 77L1-347.35 (của cha ruột D là Phạm Ngọc Đ, sinh năm 1976, ở thôn K, xã N, thị xã A) đi đạo trên các tuyến đường tìm những người phụ nữ lớn tuổi đi trên đường có mang theo tài sản sơ hở để cướp giật bán lấy tiền tiêu xài. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, khi đi tới cầu T thuộc xã N, thị xã A, D phát hiện bà Võ Thị Quý L, sinh ngày: 11/05/1950, trú tại thôn H, xã N, thị xã A đang đi bộ có đeo trên cổ một sợi dây chuyền vàng (loại vàng 18K, hình dạng: ống vuông – đầu xéo, trọng lượng: 11,17 gam). D điều khiển xe mô tô vòng quay lại 02 lần để quan sát kỹ rồi điều khiển xe đi cùng chiều, áp sát bà L và giả vờ đề nghị cho bà L đi nhờ xe nhưng bà L từ chối. D điều khiển xe mô tô vượt lên trước, cách bà L khoảng 10 mét rồi dựng xe đi bộ về phía bà L. Khi đến đối diện, cách bà L khoảng 40 cm, D dùng tay phải chụp vào sợi dây chuyền của bà L kéo mạnh về phía D làm sợi dây chuyền đứt ra làm 02 đoạn, một đoạn D cầm trên tay (trọng lượng 5,08 gam) chạy về phía xe mô tô, đoạn còn lại (trọng lượng 6,09 gam) còn ở trên cổ bà L. Khi vừa ngồi lên xe, D nhìn thấy vẫn còn sót lại một đoạn dây chuyền vàng nên đã đi bộ quay lại về phía bà L. Lúc này, bà L nắm đoạn dây chuyền còn sót lại trong lòng bàn tay trái, D dùng tay phải nắm vào cổ tay bà L, tay trái móc vào nắm tay của bà L mở ra để chiếm đoạt đoạn dây chuyền còn lại nhưng bà L nắm chặt, giằng lại và hô hoán nên D không chiếm đoạt được. D quay lại xe mô tô, điều khiển xe để tẩu thoát. Bà L nhặt mặt dây chuyển bằng nhựa có cần móc khóa vàng (loại vàng 18K, trọng lượng 0,66 gam) bị rơi dưới mặt đường. Sau đó, D điều khiển xe mô tô đến tiệm V, ở địa chỉ: G đường H, phường Đ, thị xã A (do bà Lê Thị Kim K, sinh ngày: 16/4/1959, ở cùng địa chỉ trên làm chủ) bán đoạn dây chuyền vừa chiếm đoạt được của bà L. Khi bán D nói với bà K dây chuyền của D bị người khác giật bị đứt, còn một đoạn nên bán. Bà K đồng ý mua và trả cho D số tiền 4.410.000 đồng (Bốn triệu bốn trăm mười nghìn đồng). D sử dụng tiêu xài cá nhân. Sau đó, bà K cắt đoạn dây chuyền vừa mua thành 03 đoạn có trọng lượng lần lượt là 1,94 gam, 1,79 gam và 1,35 gam để thử vàng. Đến chiều cùng ngày, D bị Cơ quan Công an thị xã A triệu tập làm việc và khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Quá trình điều tra vụ án, bị can Phạm Ngọc D1 khai nhận ngoài hành vi phạm tội trên còn thực hiện 02 vụ cướp giật tài sản khác trên địa bàn thị xã A, cụ thể:
- Vụ thứ nhất: Khoảng 18 giờ ngày 08/02/2024, D1 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 77L1-347.35 đi đạo trên các tuyến đường ở xã N, N, N tìm những người phụ nữ đi trên đường có mang theo tài sản sơ hở để cướp giật bán lấy tiền tiêu xài. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, khi đi trên đường ĐT638 đoạn đường qua thôn T, xã N, D1 phát hiện chị Trần Thị Thu T2, sinh ngày: 12/03/1992, trú tại thôn T, xã N, thị xã A đang điều khiển xe mô tô đi theo hướng đến xã N, trên cổ có đeo một sợi dây chuyền vàng (loại vàng 18K, hình dạng mắc xích, trọng lượng 1,2 chỉ). D1 điều khiển xe mô tô từ phía sau tiến lên áp sát phía bên trái xe chị T2 rồi dùng tay phải chụp vào sợi dây chuyền của chị T2 kéo mạnh làm sợi dây chuyền đứt ra rồi cầm sợi dây chuyền vừa giật được nhanh chóng chạy thoát. Ngay sau đó, D1 điều khiển xe đến bán sợi dây chuyển vừa chiếm đoạt cho tiệm V1 thuộc thôn A, xã N (do bà Ngô Thị P, sinh ngày: 14/11/1969, ở cùng địa chỉ trên làm chủ). Khi bà P hỏi về nguồn gốc sợi dây chuyền, D1 nói dây chuyền của bạn gái, do hết tiền cần bán để tiêu xài. Bà P đồng ý mua với giá 3.700.000 đồng (Ba triệu bảy trăm nghìn đồng). D1 dùng số tiền này tiêu xài cá nhân. Sau đó, Bà P đã nấu sợi dây chuyền mua của D1 để chế tạo sản phẩm trang sức bán cho người khác.
- Vụ thứ hai: Khoảng 09 giờ ngày 12/02/2024, cùng với mục đích như lần thứ nhất, D1 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 77L1-347.35 đi đạo. Đến khoảng 09 giờ 25 phút cùng ngày, D1 phát hiện bà Trịnh Thị Trung T1, sinh ngày: 10/8/1954, trú tại E T, phường T, thành phố Q đang điều khiển xe đạp hướng đến chợ A, xã N, trên cổ có đeo một sợi dây chuyền vàng (loại vàng 18K, chiều dài 41,3 cm, hình dạng xoắn mì, trọng lượng 5,37 gam). D1 điều khiển xe mô tô từ phía sau, áp sát bên trái bà T1, dùng tay phải chụp vào sợi dây chuyền của bà T1 kéo mạnh làm sợi dây chuyền đứt ra nhưng sợi dây chuyền bị trượt ra khỏi tay của D1 còn ở trên ngực bà T1. D1 nhanh chóng điều khiển xe về nhà.
Bản kết luận giám định số 468/KL-KTHS ngày 07/3/2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại Đà Nẵng kết luận:
- + 01 (Một) sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, chiều dài: 41,3cm, có chứa kim loại vàng (Au), hàm lượng kim loại vàng là 61%, khối lượng: 5,37gam;
- + 01 (Một) đoạn dây chuyền bằng kim loại màu vàng, chiều dài: 30,3cm, có chứa loại vàng (Au), hàm lượng kim loại vàng là 61%, khối lượng: 6,09gam;
- + 01 (Một) đoạn dây chuyền bằng kim loại màu vàng, chiều dài: 10,3cm, có chứa kim loại vàng (Au), hàm lượng kim loại vàng là 61%, khối lượng: 1,94gam;
- + 01 (Một) đoạn dây chuyền bằng kim loại màu vàng, chiều dài: 9,1cm, có chứa kim loại vàng (Au), hàm lượng kim loại vàng là 61%, khối lượng: 1,79gam;
- + 01 (Một) đoạn dây chuyền bằng kim loại màu vàng, chiều dài: 6,1cm, có chứa loại vàng (Au), hàm lượng kim loại vàng là 61%, khối lượng: 1,35gam;
- + Phần móc khóa bằng kim loại màu vàng có chứa kim loại vàng (Au), hàm lượng kim loại vàng là 61%, khối lượng: 0,66gam.
Bản kết luận định giá tài sản số 12/KL-HĐĐGTS ngày 26/03/2024 của Hội đồng Định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã A kết luận:
- + 01 (Một) sợi dây chuyền vàng 18K, hình dạng: mắc xích, trọng lượng 1,2 chỉ có giá trị tại thời điểm bị thời điểm thiệt hại (ngày 08/02/2024) là 4.763.000 đồng (Bốn triệu bảy trăm sáu mươi ba nghìn đồng);
- + 01 (Một) sợi dây chuyền vàng 18K, chiều dài: 41,3cm, hình dạng: xoắn mì, trọng lượng: 5,37gam có giá trị tại thời điểm bị thời điểm thiệt hại (ngày 12/02/2024) là 5.677.000 đồng (Năm triệu sáu trăm bảy mươi bảy nghìn đồng);
- + 01 (Một) sợi dây chuyền vàng 18K, trọng lượng 11,17gam và 01 (một) móc khóa vàng 18K trọng lượng 0,66 gam có giá trị tại thời điểm thiệt hại (ngày 14/02/2014) là 12.644.000 đồng (Mười hai triệu sáu trăm bốn mươi bốn nghìn đồng). Tổng giá trị tài sản bị D1 chiếm đoạt là 23.084.000 đồng.
* Vật chứng, tài liệu của vụ án bao gồm:
- + 01 (Một) đoạn dây chuyển vàng 18K, hình dạng công đoạn ống vuông đầu xéo, chiều dài 30,3cm;
- + 01 (Một) đoạn dây chuyền vàng 18K, hình dạng: công đoạn ống vuông, đầu xéo, chiều dài 10,3cm;
- + 01 (Một) đoạn dây chuyền vàng 18K, hình dạng: công đoạn ống vuông đầu xéo, chiều dài 09,1cm;
- + 01 (Một) đoạn dây chuyền vàng 18K, hình dạng: Công đoạn ống vuông đầu xéo, chiều dài 06,1cm;
- + 01 (Một) mặt dây chuyền bằng nhựa hình quả dâu tây, có phân móc khóa bằng vàng 18K.
Tất cả đã được Cơ quan CSĐT Công an thị xã A trả lại cho bà Võ Thị Quý L.
- + 01 (Một) sợi dây chuyền vàng 18K, chiều dài: 41,3cm, hình dạng: xoắn mì; đã được Cơ quan CSĐT Công an thị xã A trả lại cho bà Trịnh Thị Trung T1;
- + Tiền Việt Nam, số tiền 1.400.000 đồng (Một triệu bốn trăm nghìn đồng); + 01 (Một) điện thoại di động hiệu S J4+, màu đen (Đã qua sử dụng);
Tất cả đã được Cơ quan CSĐT Công an thị xã A trả lại cho bị can Phạm Ngọc D1.
- + 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu sơn đen – bạc, biển số: 77L1-347.35 đã được Cơ quan CSĐT Công an thị xã A trả lại cho ông Phạm Ngọc Đ.
- + 01 (Một) khẩu trang y tế màu xanh da trời (đã qua sử dụng);
- + 01 (Một) quần Jean dài màu đen,
- + 01 (Một) đôi dép nam quai ngang màu đen;
* Về trách nhiệm dân sự:
- - Chị Trần Thị Thu T2 đã nhận lại tiền bồi thường 4.763.000đ, không có yêu cầu gì khác nên miễn xét;
- - Bà Võ Thị Quy L1 đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không có yêu cầu gì khác nên miễn xét;
- - Bà Trịnh Thị Trung T1 không yêu cầu bồi thường nên không xem xét;
- - Bà Lê Thị Kim K đã nhận lại số tiền 4.410.000đ, không có yêu cầu gì khác nên miễn xét;
- - Bà Ngô Thị P không yêu cầu bồi thường nên miễn xét;
- - Ông Phạm Ngọc Đ không yêu cầu bị cáo D1 trả lại số tiền đã bồi thường, bồi hoàn cho bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nên không xét.
Tại bản Cáo trạng số 27/CT-VKSAN ngày 25 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn đã truy tố bị cáo Phạm Ngọc D1 về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d, g khoản 2 Điều 171 của Bộ luật hình sự;
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm d, g khoản 2 Điều 171; điểm p, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm e, g khoản 1 Điều 52, Điều 91, Điều 101 của Bộ luật hình sự tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc D1 phạm tội “Cướp giật tài sản”, xử phạt bị cáo Phạm Ngọc D1 từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 09 tháng tù.
- - Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Các bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã có đơn bãi nại và không có yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với bị cáo.
- - Về xử lý vật chứng: Các vật chứng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã A đã thu giữ của bị cáo tịch thu tiêu hủy: 01 khẩu trang y tế màu xanh da trời (đã qua sử dụng); 01 quần Jean dài màu đen, 01 đôi dép nam quai ngang màu đen;
Ông Lê Thành T trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo Phạm Ngọc D1 trình bày: Bị cáo Phạm Ngọc D1 phạm tôi nhưng có những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc biệt bị cáo còn tuổi chưa thành niên nên đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt tù từ 24 tháng đến 27 tháng tù cũng đủ răn đe giáo dục đối với bị cáo.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với nội dung cáo trạng, tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo không có ý kiến tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên, tại lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định đó. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định pháp luật
[2] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Ngọc D1 khai nhận với mục đích để có tiền phục vụ nhu cầu cá nhân nên bị cáo đã sử dụng xe mô tô biển kiểm soát 77L1-347.35 đi dạo trên các tuyến đường trên địa bàn thị xã A, tìm kiếm những đối tượng đi trên đường có mang theo tài sản thì bị cáo tiếp cận giật tài sản rồi nhanh chóng tẩu thoát. Bị cáo đã 03 lần thực hiện hành vi, trong đó vào tối ngày 08/02/2024, trên đoạn đường thôn T, xã N, thị xã A bị cáo điều khiển xe mô tô áp sát bên trái xe mô tô của một người phụ nữ rồi dùng tay nắm sợi dây chuyền vàng giật mạnh để chiếm đoạt rồi tẩu thoát; sáng ngày 12/02/2024, trên đoạn đường đến chợ A, xã N bị cáo điều khiển xe mô tô áp sát bên trái một người phụ nữ đang đi xe đạp rồi dùng tay nắm một sợi dây chuyền vàng giật mạnh sợi dây chuyền đứt ra nhưng tuột khỏi tay của bị cáo; trưa ngày 14/02/2024, trên cầu T, xã N bị cáo phát hiện một người phụ nữ đang đi bộ có đeo trên cổ một dây chuyền vàng bị cáo dừng xe mô tô đi bộ đến tiếp cận người phụ nữ rồi dùng tay chụp giật mạnh làm dây chuyền đứt 02 đoạn, bị cáo chiếm đoạt một đoạn, còn một đoạn ở trên cổ người phụ nữ. Khi bị cáo quay lại xe mô tô thì phát hiện đoạn dây chuyền vàng còn sót lại người phụ nữ đang nắm ở tay, bị cáo quay lại tìm cách giật nhưng người phụ nữ giữ chặc và truy hô nên bị cáo quay lại xe mô tô rồi tẩu thoát. Tài sản bị cáo đã chiếm đoạt của các bị hại có tổng trị giá là 23.084.000₫
[3] Xét hành vi và tính chất của vụ án, thấy rằng: Lời khai nhận hành vi của bị cáo Phạm Ngọc D1 phù hợp với lời khai của các bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo Phạm Ngọc D1 khi thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản các bị hại vào thời điểm bị cáo trên 17 tuổi dưới 18 tuổi, có đủ năng lực hành vi, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đã cố ý thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội; 02 lần bị cáo sử dụng xe mô tô tiếp cận bị hại đang điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ để giật chiếm đoạt tài sản bị hại là “dùng thủ đoạn nguy hiểm” rồi nhanh chóng tẩu thoát, 01 lần bị cáo giật sợi dây chuyền vàng người phụ nữ trên 70 tuổi là trường hợp “Đối với người già yếu”. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Phạm Ngọc D1 đã phạm tội “Cướp giật tài sản” với tình tiết định khung “dùng thủ đoạn nguy hiểm” và “phạm tội đối với người già yếu” nên đã phạm tội “Cướp giật tài sản” được quy định tại điểm d, g khoản 2 Điều 171 của Bộ luật hình sự.
[4] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo Phạm Ngọc D1 đã “Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng” với người phụ nữ mà bị cáo thực hiện hành vi phạm tội vào ngày 14/02/2024 và “phạm tội 02 lần trở lên” là những tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm e, g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Bị cáo Phạm Ngọc D1 đã tác động gia đình “bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả” toàn bộ thiệt hại, “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, bị hại có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cha bị cáo đã thực hiện nghĩa vụ quân sự là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên áp dụng theo Điều 98 và khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự.
[5] Về ấn định hình phạt: bị cáo Phạm Ngọc D1 phạm tội với tính chất nghiêm trọng và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn, nên cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành một công dân lương thiện.
[6] Đối với bà Ngô Thị P và bà Lê Thị Kim K là những người đã mua dây chuyền vàng, đoạn dây chuyền vàng của bị cáo Phạm Ngọc D1 bán nhưng không biết dây chuyền, đoạn dây chuyền vàng có nguồn gốc từ hành vi phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã A không xem xét hành vi “tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo Điều 323 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Những bị hại bà Trần Thị Thu T2, bà Võ Thị Quý L, bà Trịnh Thị Trung T1 đã nhận lại tiền, tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên không xem xét, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Kim K, bà Ngô Thị P không yêu cầu về trách nhiệm bồi thường thiệt hại nên không xem xét. Ông Phạm Ngọc Đ là cha ruột của bị cáo Phạm Ngọc D1 đã thay D1 bồi thường thiệt hại không yêu cầu D1 trả lại số tiền bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả nên không xét.
[8] Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã A đã thu giữ của bị cáo Phạm Ngọc D1 gồm có: 01 khẩu trang y tế màu xanh da trời, 01 quần Jeam dài màu đen, 01 đôi dép nam quai ngang màu đen đã được chuyển giao qua Chi cục Thi hành án dân sự thị xã An Nhơn theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 25/4/2024 được tịch thu tiêu hủy theo Điều 47 của Bộ luật hình sự.
[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào các Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và và căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, buộc bị cáo Phạm Ngọc D1 phải chịu 200.000₫
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm d, g khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm e, g khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các Điều 135, Điều 136, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc D1 phạm tội “Cướp giật tài sản”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc D1 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 15/02/2024.
3. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Không xem xét.
4. Về xử lý vật chứng: Tuyên tịch thu tiêu hủy:
- - 01 (một) khẩu trang y tế màu xanh da trời;
- - 01 (một) quần Jeam dài màu đen;
- - 01 (một) đôi dép nam quai ngang màu đen
Vật chứng trên đã được chuyển giao qua Chi cục Thi hành án dân sự thị xã An Nhơn theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 25/4/2024.
5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Phạm Ngọc D1 phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
6. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Các bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Ngọc Quang |
10
Bản án số 36/2024/HS-ST ngày 05/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về hình sự (cướp giật tài sản)
- Số bản án: 36/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cướp giật tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Ngọc Quy phạm tội "Cướp giật tài sản"
