|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN Bản án số: 36/2024/HS-PT Ngày: 29 - 5 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Thiện Vinh.
Các Thẩm phán:
Ông Trần Hữu Xuân.
Bà Ninh Thị Kiều Hạnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận mở phiên tòa trực tuyến xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 26/2024/TLPT-HS ngày 05 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo Đặng D do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 27/2024/HS-ST ngày 28 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.
Phiên tòa được tiến hành tại 02 điểm cầu, điểm cầu trung tâm là Phòng xử án của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận; điểm cầu thành phần là Nhà tạm giữ Công an thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.
Tại điểm cầu trung tâm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Thiện Vinh.
Các Thẩm phán:
Ông Trần Hữu Xuân.
Bà Ninh Thị Kiều Hạnh.
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn Hiếu - Kiểm sát viên.
Tại điểm cầu thành phần gồm có:
- Bị cáo có kháng cáo:
ĐẶNG D (tên gọi khác: N), sinh năm: 1994 tại tỉnh Bình Thuận. Nơi cư trú: Thôn B, xã P, huyện B, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Con ông: Đặng N1 (đã chết) và bà: Lê Thị T1 (đã chết); có vợ là Nguyễn Thị Thúy V1 và có 02 con; Tiền sự: Không.
2
Tiền án: Ngày 07/3/2023 bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xử 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng kể từ ngày 07/3/2023 về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Nhân thân:
- + Ngày 10/8/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận xử 02 năm tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
- + Ngày 31/8/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận xử 09 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 18/5/2023, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận (có mặt).(Trong vụ án còn có các bị cáo Phạm Văn T2, Phạm Văn T3, Trần Anh D1; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông Võ Thanh S không kháng cáo; không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập đến phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 14 giờ 05 phút ngày 16/5/2023, tại quán C thuộc khu phố B, phường P, thành phố P - T, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh N phối hợp với Công an phường P tiến hành kiểm tra bắt quả tang Phạm Văn T2 có cất giấu ma túy, tạm giữ trong túi quần trước bên phải của T2 đang mặc 01 vỏ gói thuốc lá hiệu Jet bên trong chứa 01 bịch ma túy (H2) và 01 gói giấy bên trong chứa ma túy (Heroine). Ngoài ra, lực lượng Công an còn tạm giữ 01 điện thoại di động hiệu Poco, 01 xe mô tô loại Air Blade, biển số 85B1-722.06 và số tiền 800.000 đồng. Lực lượng Công an đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ niêm phong tang vật và đưa T2 về làm việc. Tại Cơ quan điều tra, Phạm Văn T2 khai nhận đã nhiều lần đi đến thôn B, xã P, huyện B, tỉnh Bình Thuận mua ma túy (Heroine) của Đặng D, trong đó có 01 lần T2 nhờ Phạm Văn T3 chở đến nhà Đặng D để mua ma tuý. Sau khi mua được ma túy của Đặng D, T2 đã phân lẻ để sử dụng và bán kiếm lời. T2 đã bán trái phép chất ma túy (Heroine) cho Nguyễn Xuân T4 08 lần; bán trái phép chất ma túy (Heroine) cho Phạm Văn T3 01 lần. Khi bán ma túy cho Xuân T4, T2 có nhờ Trần Anh D1 đi giao giúp ma túy 02 lần. Quá trình điều tra, Văn T3 đã thừa nhận hành vi giúp sức chở T2 đi mua ma túy và Anh D1 thừa nhận hành vi 02 lần đi giao ma túy giúp T2.Tại bản Kết luận giám định chất ma túy số 118/KL-KTHS ngày 21/5/2023 của Phòng K Công an tỉnh N, kết luận: Chất rắn màu trắng dạng cục (ký hiệu M1, M2) gửi đến giám định là chất ma túy, loại Heroine. Khối lượng mẫu gửi giám định là: M1: 0,2658gam, M2: 0,0451gam;Tại bản Kết luận giám định chất ma túy số 124/KL-KTHS ngày 24/5/2023 của Phòng K Công an tỉnh N, kết luận: Chất màu nâu và màu trắng dính bên trong nỏ thủy tinh (ký hiệu M) gửi đến giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là: M: 0,0252gam. Quá trình điều tra, Phạm Văn
3
T2 khai nhận: 01 bịch ma túy (H2) và 01 gói giấy bên trong chứa ma túy (Heroine) mà Cơ quan Công an thu giữ là của T2 mua của Đặng D, T2 đã mua ma túy của Đặng D nhiều lần nhưng chỉ nhớ bốn lần, cụ thể như sau: Lần thứ nhất: Vào khoảng 11 giờ một ngày cuối tháng 12/2022, do muốn mua ma túy (Heroine) để sử dụng và bán nên T2 đi đến khu vực ngã ba L thuộc xã A, huyện N bắt xe khách đi vào nhà Đặng D ở thôn B, xã P, huyện B, tỉnh Bình Thuận mua ma túy. Khi đang đợi xe thì có Trần Hữu Minh T5 đến và hỏi T2 biết ai bán ma túy (Heroine) không thì T2 nói vào nhà Đặng D mua ma túy cùng T2 thì T5 đồng ý. Sau đó, cả hai đi xe khách vào nhà D. Tại đây, T2 đưa 1.200.000 đồng cho D, đồng thời D bán cho T2 “2,5 phân” ma túy (Heroine); D bán cho T5 một gói ma túy (Heroine), đồng thời Thiên trả D 800.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, T2 đi xe khách về trước, T5 về sau. Số ma túy trên T2 đã bán và sử dụng hết.Lần thứ hai: Vào khoảng 23 giờ 20 phút ngày 12/5/2023, Đặng D gọi điện cho T2 nói chuyển cho D 1.700.000 đồng rồi qua ngày 13/5/2023, khi T2 vào nhà D thì D đưa ma túy cho T2. T2 đồng ý và chuyển khoản cho D 02 lần, một lần chuyển 1.500.000 đồng, một lần chuyển 200.000 đồng. Đến chiều ngày 13/5/2023, T2 chạy xe máy loại Jupiter, màu xám - đen (Không nhớ rõ biển số) vào nhà D để mua 1.200.000 đồng ma túy (heroine). D đồng ý bán cho T2 “2,5 phân” ma túy (H2) và trả lại cho T2 500.000 đồng tiền mặt.Lần thứ ba: Vào khoảng 14 giờ ngày 14/5/2023, T2 gọi điện cho Đặng D hỏi mua 1.200.000 đồng ma túy (Heroine), D đồng ý bán và nói T2 chuyển khoản trước 800.000 đồng rồi đi vào nhà D để giao dịch thì T2 đồng ý. Sau khi chuyển khoản cho D, T2 chạy xe máy loại Jupiter, màu xám - đen (Không nhớ rõ biển số) đến nhà Phạm Văn T3 để rủ T3 đi đến xã P, huyện B, tỉnh Bình Thuận mua ma túy của D thì T3 đồng ý. Sau đó, T2 chở T3 đi, khi đến khu vực thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận thì cả hai dừng xe, nghỉ ngơi uống nước. Tiếp đó, do mệt nên T2 nói T3 chở, còn T2 ngồi sau chỉ đường cho T3 chạy đến nhà D thì T3 đồng ý. Sau khi đến nhà D, T2 mượn D 100.000 đồng nên vào khoảng 19 giờ cùng ngày, T2 đã chuyển khoản cho D 500.000 đồng (trong đó 400.000 đồng là tiền mua ma túy), đồng thời D bán cho T2 “2,5 phân” ma túy (Heroine). Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, T2 và T3 đi về. Sau khi về đến nhà, T2 cho T3 một ít ma túy (Heroine) vừa mua của D, số ma túy này T3 đã sử dụng hết.Lần thứ tư: Vào chiều ngày 15/5/2023, T2 gọi điện cho Đặng D hỏi mua 1.200.000 đồng ma túy (Heroine), D đồng ý bán và nói T2 đến nhà D để giao dịch. Sau đó, T2 chạy xe máy loại Jupiter, màu xám - đen (Không nhớ rõ biển số) đến nhà D, D bán cho T2 “2,5 phân” ma túy (Heroine), đồng thời T2 trả trước cho D 900.000 đồng và xin thiếu lại 300.000 đồng thì D đồng ý. Đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi về nhà, T2 đã chuyển khoản trả D 300.000 đồng.Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra làm việc với Trần Hữu Minh T5, T5 khai nhận đã mua ma túy (heroine) của Đặng D nhiều lần nhưng chỉ nhớ 03 lần, cụ thể như sau: Lần thứ nhất: Vào một ngày cuối tháng 12/2022, do muốn mua ma túy (Heroine) để sử dụng nên T5 đi đến khu vực ngã ba L thuộc xã A, huyện N thì gặp T2 đang đứng đợi xe. Tại đây, T5 hỏi T2 biết ai bán ma túy (Heroine) không thì T2 nói vào nhà Đặng D ở thôn B, xã P, huyện B để mua ma túy của D cùng
4
T2 thì T5 đồng ý. Sau đó, cả hai đi xe khách vào nhà D. Tại đây, T5 thấy T2 đưa 1.200.000 đồng cho D, D bán cho T2 “2,5 phân” ma túy (Heroine); còn T5 đưa 800.000 đồng cho D thì được D bán cho một gói ma túy (H). Sau khi mua được ma túy, T2 đi xe khách về trước, T5 đi xe khách về sau. Số ma túy trên T5 đã sử dụng hết.Lần thứ hai: Khoảng 17 giờ ngày 01/5/2023, T5 đi vào nhà D ở thôn B, xã P, huyện B hỏi mua 1.400.000 đồng ma túy (Heroine) thì được D đồng ý bán. Tại căn phòng dưới nhà D, T5 đưa 400.000 đồng tiền mặt cho D và dùng số tài khoản 0370887922 (Đây là số điện thoại của T5, ví Momo tên tài khoản Trần Hữu Minh T5) của T5 chuyển 1.000.000 đồng vào số tài khoản 0906063537 ví Momo tên tài khoản Đặng D của D, đồng thời D bán cho T5 01 bịch ma túy (Heroine) loại bịch nylon dạng miệng khép dính. Số ma túy trên T5 đã sử dụng hết.Lần thứ ba: Khoảng 17 giờ ngày 08/5/2023, T5 đi vào nhà D ở thôn B, xã P, huyện B hỏi mua 1.600.000 đồng ma túy (Heroine) thì được D đồng ý bán. Tại nhà D, T5 đã chuyển khoản cho D 02 lần (Lần thứ nhất T5 chuyển 190.000 đồng, lần thứ hai T5 chuyển 1.400.000 đồng, còn thiếu 10.000 đồng thì được D cho) theo số tài khoản 0370887922, ví Momo tên tài khoản Trần Hữu Minh T5 của T5 vào số tài khoản 0906063537 ví Momo tên tài khoản Đặng D của D, đồng thời D bán cho T5 01 bịch ma túy (Heroine). Số ma túy trên T5 đã sử dụng hết.Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 27/2024/HS-ST ngày 28 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – T, tỉnh Ninh Thuận quyết định:- Căn cứ: Điểm b, c khoản 2 Điều 251; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 56; khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Đặng D (Nhí).- Tuyên bố: Bị cáo Đặng D (N) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. - Xử phạt: Bị cáo Đặng D (Nhí) 09 (chín) năm tù.Tổng hợp hình phạt: 06 (sáu) tháng tù tại Bản án hình sự phúc thẩm số 17/2023/HS-PT ngày 07/3/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận với hình phạt 09 (chín) năm tù của Bản án này. Buộc bị cáo Đặng D (N) phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 Bản án là 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày 18/5/2023.Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về hình phạt đối với bị cáo Phạm Văn T2, Phạm Văn T3, Trần Anh D1, quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo. Ngày 04/3/2024, bị cáo Đặng D kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Đặng D giữ nguyên nội dung kháng cáo.Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận: - Về hình thức: Đơn kháng cáo của các bị cáo Đặng D làm đúng trong thời hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
- Về nội dung: Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Đặng D mức án 09 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự là phù hợp. Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo D có thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới đó là thành khẩn khai báo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên tình tiết giảm nhẹ này không ảnh hưởng đến phần hình phạt mà cấp sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt
của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
5
Bị cáo không tham gia tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi của mình là sai và đã vi phạm pháp luật. Kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bị cáo Đặng D kháng cáo đúng quy định tại các Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên vụ án được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận thực hiện hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm quy kết: Trong khoảng thời gian từ cuối tháng 12 năm 2022 đến ngày 15/5/2023, bị cáo Đặng D đã 04 lần bán trái phép chất ma tuý loại Heroin cho bị cáo Phạm Văn T2 thu được số tiền 4.800.000đồng; 03 lần bán trái phép chất ma tuý loại Heroin cho Trần Hữu Minh T5, thu được số tiền 3.790.000đồng. Tổng khối lượng thu giữ của bị cáo Đặng D khi khám xét khẩn cấp là 0,0252 gam ma túy loại Methamphetamine. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị cáo Đặng D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp phạm tội 02 lần trở lên và đối với 02 người trở lên theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
[3] Xét đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Đặng D:
[3.1] Hành vi phạm tội của bị cáo rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm hoạt động quản lý độc quyền của nhà nước về chất ma túy; ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương, ảnh hưởng đến sức khỏe của con người, vi phạm pháp luật hình sự. Do vậy, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, tương xứng để răn đe giáo dục bị cáo cũng như nhằm có tác dụng và phòng ngừa chung.
[3.2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo có thêm tình tiết giảm nhẹ mới đó là thành khẩn khai báo nên Hội đồng xét xử phúc thẩm sẽ áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo. Tuy nhiên, mức hình phạt 09 năm tù Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là phù hợp với nhân thân, tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng của bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không có cơ sở chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt của bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận.
[3.3] Bản án số 17/2023/HS-PT ngày 07/3/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xử phạt bị cáo Đặng D 06 (sáu) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng được tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (07/3/2023). Bị cáo
6
Đặng D được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách. Căn cứ khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử sơ thẩm áp dụng Điều 56 của Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt và buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 bản án là phù hợp.
[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Đặng D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào: điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đặng D; Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 27/2024/HS-ST ngày 28/02/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – T, tỉnh Ninh Thuận.
- Căn cứ vào: Điểm b, c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 56; khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Tuyên bố: Bị cáo Đặng D (N) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt: Bị cáo Đặng D (N) 09 (chín) năm tù.
Tổng hợp hình phạt: 06 (sáu) tháng tù tại Bản án hình sự phúc thẩm số 17/2023/HS-PT ngày 07/3/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận với hình phạt 09 (chín) năm tù của Bản án này. Buộc bị cáo Đặng D (N) phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 Bản án là 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày 18/5/2023.
- Về án phí: Bị cáo Đặng D (N) phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 29-5-2024./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Thiện Vinh |
7
Bản án số 36/2024/HS-PT ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 36/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đặng D phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy" và xử phạt 09 năm tù
